Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

Quan hệ Mỹ-Trung sẽ như thế nào nếu Hillary Clinton là tổng thống ?


Shannon Tiezzi, Tạp chí Diplomat
Dịch bởi Minh Trung, CTV Phía Trước

Nếu Hillary Clinton đắc cử tổng thống vào năm 2016, quan hệ Mỹ-Trung có thể bị ảnh hưởng bởi thái độ không thân thiện mà Trung Quốc dành cho bà.

Nhiều người cho rằng Cựu ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ là ứng cử viên nặng kí cho chiếc ghế tổng thống vào năm 2016, mặc dù cho đến nay bà vẫn không phủ nhận cũng chẳng xác nhận có ra tranh cử hay không. Theo nhà phân tích chính trị O’Hanlon thuộc Viện Brookings, nếu Hillary đắc cử tổng thống, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc (TQ) sẽ có nhiều điều đáng chú ý, nhất là do bà đặc biệt quan tâm đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương khi còn làm Ngoại trưởng.

Hillary Clinton được coi là một trong những kiến trúc sư của chính sách “trục châu Á”- còn gọi là chính sách “tái cân bằng”- trong chính quyền Obama. Là gương mặt nổi bật của chính sách này, bà thường xuyên công du đến Châu Á và xác định rõ vai trò của Mỹ đối với từng vấn đề trong khu vực. Nổi bật nhất là, trong diễn văn đọc ở Diễn đàn khu vực ASEAN 2010, bà tuyên bố lợi ích quốc gia của Mỹ ở Biển Đông đang bị đe dọa. Vai trò của bà trong chính sách trục châu Á lớn tới mức cây bút Elizabeth Economy, thuộc tạp chí Current History chuyên về các vấn đề quốc tế, cho rằng việc bà rời ghế ngoại trưởng là một trong những yếu tố chính gây trở ngại cho việc thực hiện chính sách này trong nhiệm kì thứ hai của Tổng thống Obama.

O’Hanlon chỉ ra thái độ “cứng rắn” trong những nhận xét của Hillary Clinton về chính quyền Bắc Kinh. Ông trích dẫn hồi kí của bà, trong chuyến thăm TQ năm 2009 tổng thống Obama đã được TQ đón tiếp với “thái độ lạnh nhạt”. Hillary nhấn mạnh đến các hành động khiêu khích quân sự của TQ, đặc biệt ở Biển Đông, và cho rằng “chúng ta đang ở trong giai đoạn mới của mối quan hệ với một TQ đang lên, có quan điểm cứng rắn và không còn dấu giếm sức mạnh kinh tế và quân sự ngày một nâng cao”. Với sự tôn trọng dành cho nền kinh tế đứng thứ hai thế giới và hiểu rõ rằng quan điểm cứng rắn của Bắc Kinh là mối đe dọa đối với Mỹ, bà sẽ xử lí tốt mối quan hệ với TQ nếu bà làm tổng thống.

Phản ứng trước thái độ “cứng rắn” của Hillary, TQ chẳng ưa gì bà. Bắc Kinh cho rằng Hillary là tác giả của chính sách ngoại giao thù hằn với TQ trong suốt nhiệm kì ngoại trưởng của mình, từ việc Mỹ can thiệp sâu hơn vào các vấn đề khu vực đến việc tố cáo Trung Quốc vi phạm nhân quyền. Những phát biểu “lung tung” của Hillary khi viếng thăm nước khác (như Mông Cổ năm 2012 và Tanzania năm 2013) càng làm cho TQ khó chịu hơn.

Khi Hillary rời ghế ngoại trưởng Mỹ, Bắc Kinh cảm thấy như cất được một gánh nặng. Tờ nhật báo China Daily đã so sánh Ngoại trưởng John Kerry với người tiền nhiệm như sau: “Hillary Clinton cứ thao thao bất tuyệt và tỏ vẻ không quan tâm đến người nghe. Ngược lại, Kerry thức thời hơn, sẵng sàng lắng nghe và trao đổi với người đối thoại”. Trong mắt nhiều nhà phân tích TQ, Hillary là biểu tượng cho chính sách đối ngoại xấu xa của Mỹ: đạo đức giả về nhân quyền và dân chủ, can thiệp vào các vấn đề khu vực, và quan trọng nhất là thái độ thiếu tôn trọng TQ và “lợi ích cốt lõi” của nước này.

Như vậy, quan hệ Mỹ-Trung sẽ như thế nào nếu bà Hillary đắc cử tổng thống ? Với nhiều người Mỹ, TQ ko ưa Hillary lại là điều tốt. Họ cho rằng, khi chơi với Bắc Kinh, thà bị Bắc Kinh sợ còn hơn là được Bắc Kinh thích. Ngoại trưởng Úc Julie Bishop như phụ họa thêm cho quan điểm này khi phát biểu trước báo giới “TQ không tôn trọng các nước nhỏ”. Bà hứa Úc sẽ “phản đối thái độ đó” bất chấp TQ có nổi giận hay không.

Nhiều người Mỹ cũng mong muốn chính quyền Washington phải tỏ thái độ như Úc. Bill Bishop, người lập ra trang website Sinocism Newsletter, cho rằng “Bắc Kinh ngày càng chứng tỏ họ không tôn trọng Obama và các quan chức hoạch định chính sách ngoại giao ở nhiệm kì hai của ông”. Những người cho rằng Obama không được TQ coi trọng thích bỏ phiếu cho Hillary vì quan điểm cứng rắn với TQ của bà. Chính quyền Bắc Kinh có thể không có thiện cảm với bà nhưng sẽ phải tôn trọng bà hơn – sự “tôn trọng” chỉ để làm giảm sức ép từ Mỹ.

Cần thiết lập quan hệ cá nhân tốt đẹp giữa hai lãnh đạo Mỹ-Trung trước chuyến thăm chính thức. Blogger Yang Hengjun cho biết, mối quan hệ khắng khít Nga-Trung dựa một phần trên quan hệ cá nhân giữa tổng thống Putin và chủ tịch Tập Cận Bình. Những khác biệt về địa chính trị giữa Washington và Bắc Kinh khiến cho quan hệ giữa hai nước sẽ không bao giờ tốt đẹp, nhưng quan hệ cá nhân giữa hai lãnh đạo lại có thể xóa bỏ sự ngờ vực vốn đang rất cao. Thực tế cho thấy, dù chính sách đối ngoại của tổng thống George W. Bush không được khen ngợi nhiều, nhưng mối quan hệ thân mật trong công việc giữa ông và Chủ tịch Hồ Cảm Đào đã giúp ổn định mối quan hệ Mỹ-Trung khi cả hai còn đương chức.

Tuy đã rất cố gắng nhưng Obama và thuộc cấp không có quan hệ thuận lợi với lãnh đạo Trung Quốc như hai bậc tiền nhiệm. Chính quyền Obama đã dành nhiều thời gian và công sức để tạo quan hệ với Tập Cận Bình từ khi ông còn là phó chủ tịch nước. Nhưng, cho đến nay, những nỗ lực đó có thể coi đã thất bại, điều này thể hiện ở việc Chủ tịch Tập Cận Bình muốn nhìn xa hơn mối quan hệ Mỹ-Trung trong việc lập chính sách đối ngoại. Nếu Hillary trúng cử, quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo hai nước Mỹ-Trung.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Trí thức thật sự không bao giờ làm nô lệ



Tạp chí Phía Trước: Tiến sĩ Nguyễn Quang A, đại diện của Diễn đàn Xã hội Dân sự, là một trong những trí thức đi đầu cho phong trào dân chủ trong nước hiện nay. Ông không phải chỉ là một trí thức bàn giấy, ông là một trí thức dấn thân. Phía Trước đã có buổi phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Quang A về chủ đề: “Vai trò của trí thức – văn nghệ sĩ với xã hội”


Phía Trước: Trong những năm gần đây, tiếng nói của các trí thức trong tiến trình đổi mới đất nước trở nên rất mạnh mẽ. Bản thân ông cũng là một trí thức cấp tiến trong công cuộc ấy, mong ông có thể giúp cho các độc giả của Phía Trước biết được những gì các trí thức cấp tiến đã làm trong thời gian vừa qua để thúc đẩy quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam?

T.S Nguyễn Quang A: Giới trí thức Việt Nam đã có một số đóng góp tích cực vào việc phản biện chính sách và các dự án lớn mà điển hình là dự án Bauxite Tây Nguyên (BTN) và dự án đường sắt cao tốc (ĐSCT).

BTN là một dự án lớn (thực ra là để cho Trung Quốc vào đầu tư). Một tổ chức NGO đã dàn xếp cho nhà văn Nguyên Ngọc và cựu đại sứ Nguyễn Trung đi thực địa tìm hiểu (2 lần, mỗi lần vài tuần lễ) trên cơ sở những nghiên cứu của các nhà khoa học độc lập, gồm các anh Nguyên Ngọc và Nguyễn Trung, đã thúc đẩy nhiều cuộc tiếp xúc với các chính quyền địa phương, vạch rõ cho họ những nguy hại của dự án, đã cùng các nhà khoa học tổ chức nhiều hội thảo phản biện và có một báo cáo dài gửi cho các cơ quan hữu trách. Tuy nhiên, có vẻ như dự án vẫn tiếp tục, cho nên các trí thức đã vận động báo chí vào cuộc và tiếng nói phản đối ngày càng lên cao. Nhiều kiến nghị của tri thức đã được công bố và gửi cho các cơ quan hữu trách. Từ đó trang Bauxite Việt Nam ra đời và đến nay vẫn hoạt động tích cực

Dưới sức ép của tri thức, của dư luận, Nhà nước đã phải hạn chế dự án (lẽ ra là cả chục nhà máy với sự đầu tư của Trung Quốc trên quy mô rất lớn) ở mức thí điểm ở 2 nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ (và nhà đầu tư là TKV). Có thể thấy sự phản đối này đã có kết quả không nhỏ, tuy không dừng được toàn bộ. Tất cả các ý kiến phản biện đến nay đều tỏ ra đúng và là một khích lệ lớn cho việc lên tiếng của giới trí thức.

ĐSCT là một dự án khổng lồ với tổng vốn đầu tư dự tính khoảng 60 tỷ USD. Giới trí thức cũng đã lên tiếng mạnh mẽ phản bác bằng ý kiến, hội thảo, kiến nghị và huy động báo giới vào cuộc. Tuy người ta nói đến công nghệ TGV của Pháp và Shinkansen Nhật Bản nhưng họ đã đưa nhiều đại biểu quốc hội và lãnh đạo địa phương đi thăm tàu cao tốc Trung Quốc. Và rất có thể nếu dự án được thông qua thì sẽ là tàu và bằng tiền vay Trung Quốc.

Sự lên tiếng đã mạnh mẽ đến mức Quốc hội đã quyết định không thông qua dự án.

Còn có thể nhắc đến nhiều dự án mà tiếng nói của giới trí thức đã mang lại kết quả (như dừng dự án thủy điện xâm hại đến rừng quốc gia Cát Tiên, vân vân).

Giới trí thức cũng có vai trò tích cực đến quá trình dân chủ hóa mà điển hình là Kiến nghị 72 về sửa đổi hiến pháp đã dấy lên một phong trào tìm hiểu, học tập về hiến pháp chưa từng có trong lịch sử Việt Nam (và đấy mới là mục đích chính của KN72 chứ không phải là để thay câu đổi chữ trong hiến pháp; tất nhiên nếu có sự thay đổi thì càng tốt, nhưng đó không phải là 3 hay 4 mục tiêu đầu tiên của KN72).

Trước KN72 giới trí thức đã đưa ra nhiều kiến nghị khác về nhân quyền nhưng nổi bật hơn trong số đó là kiến nghị thực thi quyền dân sự và chính trị vào tháng 9-2013 đi kèm với sự ra đời của Diễn đàn Xã hội Dân sự (CSF).

Mục tiêu của CSF là thúc đẩy sự phát triển của XHDS ở Việt Nam; góp phần vào sự chuyển đổi ôn hòa từ chế độ độc tài toàn trị hiện nay sang chế độ dân chủ (với hệ thống đa đảng, bầu cử tự do và nền pháp trị thực sự), bằng phương pháp bất bạo động; hoạt động theo phương châm của 4 khẩu hiệu với 16 chữ vàng thật:

1) Thực thi dân quyền

2) Nâng cao dân trí

3) Chấn hưng dân khí

4) Cải thiện dân sinh

Đây là những khẩu hiệu dựa hoàn toàn (3 khẩu hiệu sau) vào tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh cách đây 1 thế kỷ (có cải biến cho phù hợp với hiện nay). CSF tôn xưng cụ Phan Châu Trinh là cha đẻ tư tưởng của mình và bổ sung thêm ý tưởng hiện đại về nhân quyền. Người dân có các quyền tự nhiên, bẩm sinh của mình mà đã được Tuyên Ngôn Nhân quyền long trọng ghi nhận, thậm chí cũng được Hiến pháp hiện hành ghi nhận. Biết được quyền của mình người dân cứ thế thực hiện, cứ như chúng ta ở trong một nước thực sự tự do dân chủ, và không cầu xin bất cứ ai (kể cả Nhà nước) ban cho, không cần bất cứ sự cho phép của bất cứ ai. Việc hạn chế một quyền nào đó chỉ để nhằm bảo vệ quyền của những người khác, và phải được quy định tường minh trong luật (chứ không phải quy định pháp luật). Nhà nước phải có NGHĨA VỤ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân thực thi quyền của mình. Hiểu như vậy dẫu chưa có luật người dân vẫn cứ thực thi các quyền của mình (từ quyền tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, lập đảng, biểu tình, vân vân) mà không đợi sự cho phép của bất kể ai (nhà nước có thể yêu cầu đăng ký nhưng nếu thủ tục đăng ký ngăn cản việc thực thi các quyền đó thì LÀ LỖI CỦA NHÀ NƯỚC, chứ không phải lỗi của người dân.

Thực hiện 4 khẩu hiệu trên, nhất là khẩu hiệu thứ nhất vận động mọi người dân tìm hiểu để biết quyền của mình và thực thi các quyền đó ngay lập tức, cũng góp phần nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, là công việc lâu dài, bền bỉ. Và theo tôi số phận của chúng ta do chính chúng ta quyết định, việc thực hiện 4 khẩu hiệu trên là hết sức thiết thực cho cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta cũng như vận mệnh của cả dân tộc.

Phía Trước: Nhiều người cho rằng trí thức không nên dính dáng đến chính trị, ông nghĩ sao về quan điểm này?

T.S Nguyễn Quang A: Nếu hiểu chính trị theo nghĩa rộng là mọi hoạt động liên quan đến các quyết định tập thể, thì không ai không thể dính đến chính trị, và dính đến chính trị là rất tốt, là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người dân. Và tôi rất tích cực tham gia chính trị theo nghĩa rộng đó.

Còn hiểu theo nghĩa hẹp về chính trị: tham gia đảng phái chính trị với mục đích nắm quyền lực thì lại khác. Tôi cũng không muốn dính đến cái chính trị theo nghĩa hẹp này. Quyền lựa chọn là của mỗi người và chúng ta nên tôn trọng lựa chọn của họ. Và việc tham gia vào chính trị theo nghĩa hẹp này cũng rất cần thiết cho xã hội, thiếu nó xã hội không thể phát triển.

Vấn đề ở đây là hiểu thế nào là chính trị mà thôi. Tôi ủng hộ và tôn trọng sự tham gia, sự dính líu đến chính trị của tất cả mọi người dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp.

Phía Trước: Tôi thấy rằng trí thức luôn ở vị thế rất khó có được sự ủng hộ của số đông, sở dĩ bởi bản tính ôn hòa và thích những hành động ôn hòa. Điều này khiến cho nhiều bên đánh giá là kém dấn thân. Xin ông cho biết ý kiến của ông?

T.S Nguyễn Quang A: Hoàn toàn ngược lại. Nếu trung thực, thẳng thắn, chân thành và biết cách, trí thức hoàn toàn có thể có sự ủng hộ của số đông. Chính bản tính ôn hòa và thích hành động ôn hòa là thế mạnh vô song của trí thức. Sự dấn thân đích thực hoàn toàn chẳng liên quan gì đến đặc tính đó cả.

Phía Trước: Trong rất nhiều bài viết và nhiều lần nói chuyện, ông đều nhắc đến những thay đổi rất nhỏ, nhưng lại mang ý nghĩa lớn lao. Đó có phải là hiệu ứng Domino? Và liệu đó có phải là những hoạt động mà ông và đồng sự đang thực hiện?

T.S Nguyễn Quang A: Không phải tất cả những thay đổi rất nhỏ đều có ý nghĩa lớn, nhưng tôi ủng hộ tất cả những thay đổi nhỏ nhất theo hướng cải thiện cuộc sống của người dân, nếu theo hướng cải thiện thì những thay đổi nhỏ dễ thực hiện hơn, khả thi hơn, sát sườn hơn, thực tế hơn và người dân cảm thấy luôn và như thế nó khuyến khích những việc như vậy. Nhiều thay đổi nhỏ sẽ tạo ra thay đổi lớn.

Tất nhiên phải tận dụng mọi cơ hội để có những thay đổi lớn theo hướng cải thiện và ngăn những thay đổi lớn theo hướng ngược lại.

Xã hội là một hệ thống rất phức tạp và những thay đổi (nhất là thay đổi chính trị) luôn rất khó lường. Chúng ta có thể dự đoán xu hướng dài hạn khá dễ, song trong ngắn hạn, hầu hết những dự đoán đều rất khó. Và những biến đổi có ý nghĩa to lớn không thể xảy ra nếu không có vô vàn những thay đổi nhỏ xảy ra trước đó, rồi đột ngột nó “lật” trạng thái (mà người ta hay gọi là “cách mạng” nhưng tôi ghét từ này). Người ta đã nghiên cứu rất nhiều và khá kỹ hiện tượng “lật” trạng thái như vậy trong các hệ thống phức tạp dưới các thuật ngữ như tipping phenomenon (hiện tượng lật).

Hiểu là hiệu ứng domino như bạn nói cũng có phần đúng, song tôi không thích dùng từ đó, tôi ưa tipping hơn, giống như cái cân nhạy ở trạng thái cân bằng chỉ cần cho thêm một chút vào một bên là nó lật nghiêng sang bên đó.

Hiện tượng tipping rất quan trọng trong bất kỳ hệ thống phức tạp nào và vô cùng quan trọng trong những thay đổi xã hội và chính trị. Cho nên tôi khuyên các bạn hãy tìm hiểu kỹ nó. Hãy kiên trì làm những việc nho nhỏ và nó có thể mang lại những ý nghĩa hết sức lớn (vì không có chúng thì không thể có sự thay đổi lớn có ý nghĩa và thiếu chúng thì sự thay đổi lớn chưa chắc đã bền vững).



Phía Trước: Những cản trở từ chính quyền Việt Nam hiện nay cho thấy rằng họ không những không chấp nhận những cuộc chuyển đổi lớn, mà ngay cả những chuyển dịch từ từ như các hoạt động xã hội dân sự cũng bị đặt vào nguy cơ cần phải đối phó. Theo ông nguyên nhân do đâu? Có phải chỉ vì họ không muốn thay đổi? Hay còn vì một mâu thuẫn bấy lâu nay giữa chính quyền và giới trí thức?

T.S Nguyễn Quang A: Thực ra ở Việt Nam trong một phần tư thế kỷ qua đã có những thay đổi rất lớn. Chính quyền nào cũng muốn giữ quyền cai trị của mình, họ chỉ buộc phải từ bỏ khi bị sức ép (do luật định trong các nước dân chủ khi thua trong bầu cử, do cạnh tranh, do sức ép của nhân dân và quốc tế). Tôi không thấy vấn đề và giải pháp ở phía chính quyền, hoàn toàn ngược lại nó ở phía chúng ta: nhân dân.

Chúng ta chịu để cho chính quyền làm vậy thì chính quyền tất nhiên sẽ làm vậy vì lợi ích của họ xui khiến họ làm vậy. Nếu chúng ta sợ hãi, thụ động và để mặc chính quyền làm trái pháp luật vi hiến thì chúng ta đành phải cam chịu với số phận nô lệ thôi. Hãy đừng đợi có một ông vua hiền hay một ông đảng chân chính nào đó ban cho chúng ta tự do. Tự do, dân chủ phải giành lấy, nó không phải là của bố thí!

Hãy lên tiếng, hãy gây sức ép lên chính quyền 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, chính quyền nào cũng sẽ thay đổi, không sớm thì muộn. Chính vì thế hãy tích cực thực hiện khẩu hiệu số 1 của chúng tôi: đừng sợ và hãy thực thi quyền của mình (dù đó là quyền kinh tế, sức khỏe, văn hóa hay chính trị). Tương lai của chúng ta là hoàn toàn do chúng ta chứ không phải ở chính quyền.

Phía Trước: Vị thế của giới trí thức bấy lâu nay luôn bị đánh giá thấp, đặc biệt là sau sự kiện Nhân văn giai phẩm. Theo ông, liệu giới trí thức có thể lấy lại vị thế quan trọng của mình hay không? Các điều kiện nào cần thiết để người trí thức của thể phát huy được hết khả năng cho vai trò của mình?

T.S Nguyễn Quang A: Tôi không tin vậy. Trí thức luôn là tầng lớp đi đầu. Chỉ có những kẻ điên mới đánh giá thấp trí thức. Điều kiện nào ư? Hãy tạo ra các điều kiện ấy, còn nếu chờ nếu có điều kiện thế này thế nó thì chúng tôi mới phát huy được vai trò là hoàn toàn sai. Người luôn nghĩ như thế vẫn là một nô lệ, dẫu là trí thức cũng là trí thức nô lệ (mà không ít đâu vì cái chế độ này nó có động cơ tạo ra các văn nô, nhà khoa học nô như vậy). Trí thức phải đi đầu trong dẫn dắt nhân dân hiểu và thực thi quyền vốn có của mình, khi đó họ có vai trò lãnh đạo, còn vẫn chờ ai đó tạo điều kiện thì đó chưa phải là trí thức thật.

Phía Trước: Rất mong ông chia sẻ những kỳ vọng của ông về lớp trí thức trẻ của Việt Nam trong 10, 20 năm nữa?

T.S Nguyễn Quang A: Tôi rất tin vào họ và mong họ chăm chỉ làm ăn, học tập, cải thiện cuộc sống của bản thân mình và gia đình mình, sống vui, sống khỏe (đừng tưởng những việc bình thường và có vẻ “chẳng dấn thân” chút nào đó là không quan trọng, chúng vô cùng quan trọng.) Không phải đặt mục tiêu quá to tát làm gì. Hãy thực tế, đặt ra cho mình những mục tiêu vừa sức vì mục tiêu viển vông sẽ chắc chắn thất bại và làm bạn nản lòng. Và tất nhiên tôi cũng chúc họ tham gia chính trị (theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp) một cách tích cực, nhất là trong việc vượt qua nỗi sợ, nỗi ám ảnh và cứ thế thực thi các quyền của mình và một điều cuối đừng sợ cả thất bại nữa.

Xin chân thành cảm ơn ông!

Nguồn: http://phiatruoc.info/tien-si-nguyen-quang-a-tri-thuc-that-su-khong-bao-gio-lam-no-le/

Phát biểu của Phạm Bình Minh ở NYC


Jonathan London

Xem toàn phát biểu (và cả phần hỏi đáp) của Phạm Bình Minh tại tổ chức Asia Society ở New York là một cơ hội tương đối hiếm để nghe và đánh giá lập trường của Chính Phủ Việt Nam (hay ít nhất một bộ phận của nó) tại Mỹ. Nói chung, tôi đánh giá khá cao nội dung của phát biểu và cách phát biểu, đáp câu hỏi của Ông.

Trong bàì phát biểu, Ông Phạm Bình Minh đã nêu một số điểm đáng chủ ý về quan điểm của Ông (Nếu nhớ chính xác thì ông cũng nói “quan điểm của tôi.” Dù là một phát biểu không chính thức, nói thế cũng làm cho tôi suy nghĩ một chút chứ.)

Về nhũng thách thức quốc tế lớn, Ông Phạm Bình Minh có nói đến những rủi ro trên Biển Đông, nhũng rủi ro về thay đổi khí hậu, và sự cần thiết của pháp luật quốc tế và ‘đa phương chủ nghĩa’ (multilateralism). Đáng ghi nhận là bình luận của ông nói (trong một thời điểm mà thế giới có nhiều điểm nóng) Mỹ phải tiếp túc đóng một vai trò chủ chốt và nên không bỏ qua ‘trách nghiệm của mình” ở Đông Á. Đới với khư vực Đông Nam Á Ông bảo là Việt Nam sẵn sàng đóng một vai trò chủ động cùng với những nước khác trong việc xây xựng kiến trúc an ninh mới trong khu vực. Ông Phạm Bình nói cũng phải chống những động thái hung hang đơn phương (‘unchecked unilaterialism)

Ở cuối bài phát biểu, ông nêu ba mục tiêu chiến lược lớn của Việt Nam là (1) tiếp tục cải cách kinh tế; (2) giữ hòa bình qua việc phát triển những mối quan hệ ngoại giao đa dạng, đa phương trên nguyên tắc giữ độc lập; và (3)a thúc đẩy cái gội là một “ASEAN-led regional order” (tạm dịch một trật tự khu vực do ASEAN chủ động. (Có thể là lần đầu tiên tôi được nghe từ ‘chủ động và từ ASEAN trong cùng nhau).

Chuyển sang Trong phần hỏi đáp Ông PBM đã nhắc lại rằng Trung quốc vẫn là đôi tác thương mại lớn nhất và giá trị của thương mại Việt Nam đối với Trung quốc là bằng 1/5 so với tổng giá trị ngoại thương của Việt Nam. Ông cũng đã nhắc lại hai quốc gia là “hai nước xã hội chủ nghĩa” (thế hà?). Đối với TQ Ông PBM đã phát biểu một cách lịch sự, ngoại giao. Còn hai câu hỏi nữa tôi đã đề ý.

Khi được hỏi về việc bỏ cấm vũ khí của Mỹ, Ông trả lời một cách rất ngấn gọn: “Quan hệ Mỹ Việt đã được bình thường hóa gần 20 năm rồi. Và gần đây hơn hai nước đã đồng ý phát triển quan hệ toàn diện. Trong một quan hệ bình thường việc không bán vũ khí là yếu tố mất bình thường duy nhất.” …“Ra sao, Việt Nam vẫn sẽ mua vũ khí ở đầu đó.”

Cuối cùng, ông được hỏi làm sao tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có xử hướng xuống (trong khi Trung Quốc lại tăng), ông trả lời: “Trước hết, phải nói tôi không phải là nhà kinh tế học và vì thế chỉ sẽ trả lời một cách ngoại giao.” Nói thế rất khéo! Song, bảo là Việt Nam phải (1) hoàn thiện cơ chế thị trường; (2) Phát triển và năng cao nguồn nhân lực, và (3) Đầu tư vào hạ tầng cơ sở.” Đúng ông không phải là nhà kinh tế học và là một nhà ngoài giao bỏi vì cả 3 điểm này đều không đạt được mấy nếu không có những cải cách thể chế thực sự sâu rộng. 20 phút trước ông đòi “pháp trị” trong phạm vi quốc tế nhưng đối với nội bộ đất nước không thấy hay không nói ra rằng sự thành công của những cải ở Việt Nam cũng phải có yếu tố pháp trị mới có thể thành công.

Trong một phát biểu của một chính khách của nhà nước Việt Nam trước một khán giả mà chủ yếu là những nhà khinh doanh của Mỹ thì đã phải chờ lâu cho ai nào hỏi về những cam kết về nhân quyền của Việt Nam (đọc ở dưới).

JL

Cập nhật: Vì tôi đã không thể xem hết 71 phút thì không thấy có hai người đề cập về vấn đề nhân quyền trong phần hỏi đáp. Như một bạn trên FB đã cho biết:

Một là của một vị tên là John McAuliff, giám đốc quỹ Hòa giải và phát triển có hỏi VN làm thế nào để tôn trọng nguyên tắc ‘tôn trọng lẫn nhau’ với Mỹ (trong bối cảnh khi mà quan điểm báo chí hiện nay ở Việt Nam có mong muốn kêu gọi Mỹ quan tâm tới ổn định của Biển Đông). Nguyên tắc này đòi hỏi VN làm thế nào để thích nghi với những giá trị của Mỹ, trong đó có nhân quyền. Người thứ 2 là bà Jayne Werner, một nhà nghiên cứu về Đông Á. Bà đặt câu hỏi về tiến trình TPP trong đó có 2 điều kiện về công đoàn độc lập và nhân quyền: VN nhìn nhận các vấn đề đó ra sao? Đã thúc đẩy nó đi tới đâu? và sẽ kết lại những vấn đề đó ra sao? Ông Phạm Bình Minh đã rất ‘ngoại giao’ đối với các câu hỏi này. Với người thứ nhất thì ông nói có lẽ hiện nay quan điểm cũng như cách tiếp cận về nhân quyền của Việt Nam khác với Hoa Kỳ nhưng luôn có những đối thoại để đi tới những hiểu biết thống nhất hơn. Với người thứ 2 thì ông chỉ nói tới công đoàn độc lập – cho rằng đó không là vấn đề quá lớn ở Việt Nam, và cũng không là vấn đề riêng của Việt Nam. (Cảm ơn bạn Quy NTK).

CÔNG TRÌNH BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA HAY HIỂM HỌA TƯƠNG LAI?


Lê Anh Hùng

Công trình quan trọng bậc nhất Việt Nam là tòa nhà Quốc hội hiện do đ/c PTT Hán tặc Hoàng Trung Hải, Thái thú Đặc mệnh Toàn quyền của Trung Nam Hải ở Việt Nam, làm Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước (Quyết định số 2410/QĐ-TTg ngày19.12.2011 của đ/c X, người suốt 6 năm nay bị tố cáo là bị Hoàng Trung Hải và Trung Nam Hải khống chế và thao túng nhưng đơn thư tố cáo vẫn không được giải quyết).
Đó chính là lý do khiến hình hài công trình mang tính biểu tượng quốc gia này lại trông nhang nhác như trụ sở mới của Bộ Công an trên đường Phạm Văn Đồng – một công trình mà thiên hạ vẫn đồn là có sự tham gia của nhà thầu Trung Quốc và bị gắn chíp theo dõi khắp nơi.

Tòa nhà Quốc hội lẽ ra đã được hoàn thành vào tháng 8.2014 theo tiến độ đã định, nhưng công trường hiện vẫn còn ngổn ngang. Giống như tất cả các công trình khác dưới quyền “chỉ đạo” của ngài PTT Hán tặc “phụ trách kinh tế”, công trình này cũng chỉ đội giá vỏn vẹn có hơn 2.000 tỷ VNĐ.

Rồi đây, mọi cuộc hội họp của “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” ở Việt Nam sẽ được Trung Nam Hải giám sát chặt chẽ, ngay cả khi ngài “đại biểu nhân dân” Hoàng Trung Hải bận đi "cắt băng khánh thành công trình" hay "chỉ đạo" đâu đó. Quan trọng hơn, một khi kế hoạch “sáp nhập” bất thành hay “chậm tiến độ” và chiến tranh nổ ra, Trung Quốc sẽ chẳng cần phải nhọc công tốn sức phóng tên lửa từ xa tới làm gì, vừa phí phạm tiền của vừa chưa chắc đã trúng đích: họ chỉ cần một nút bấm mà ngài Thái thú Đặc mệnh Toàn quyền Hoàng Trung Hải bố trí đâu đó là xong.
Chưa bao giờ đất nước chúng ta lại bị “Hán hóa” đến mức độ như ngày hôm nay. Viễn cảnh về một Tây Tạng hay Tân Cương phương Nam đang gần hơn bao giờ hết cho dòng giống “con Rồng cháu Tiên”!

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Mỹ sắp bán máy bay săn tàu ngầm cho Việt Nam

Bộ Quốc Phòng Mỹ đang tiến gần đến quyết định nới lỏng cấm vận bán võ khí sát thương cho Việt Nam mà có thể khởi đầu với một số máy bay săn tàu ngầm Orion P-3.


Một máy bay tuần tra Orion P-3 của quân đội Úc đang tìm kiếm chiếc máy bay MH370 của Mã Lai mất tích hồi Tháng Tư vừa qua. (Hình: RICHARD WAINWRIGHT/AFP/Getty Images)

Việt Nam đối diện với tham vọng bá quyền bành trướng của Trung Quốc muốn nuốt trọn Biển Đông nên cần tăng cường khả năng phòng vệ nhiều hơn nữa cho hải quân dù chỉ ở tầm vóc răn đe.

Một số viên chức cao cấp trong chính phủ không được hãng thông tấn Reuters nêu tên cho hay Hoa Thịnh Đốn muốn yểm trợ cho Việt Nam bằng cách giúp cải tiến khả năng tuần tra và phòng vệ duyên hải. Bởi vậy, một trong những thứ võ khí đầu tiên Hoa Kỳ bán cho Việt Nam có thể là một số máy bay tuần tra biển, săn tàu ngầm, nhưng không bán võ khí kèm theo, Orion P-3.

Loại máy bay này sẽ cho phép Việt Nam theo dõi các hoạt động lấn tới của Trung Quốc trên Biển Đông, khu vực đang có nguy cơ xung đột vì tranh chấp chủ quyền giữa nhiều nước trong khu vực.

Hai viên chức cao cấp trong chính phủ Obama, theo Reuters, cho hay các cuộc thảo luận nới lỏng cấm vận võ khí sát thương đang diễn ra ở Hoa Thịnh Đốn và có thể dẫn đến quyết định vào những tháng cuối năm nay.

“Thái độ đang thay đổi, và đấy là cái (nới lỏng cấm vận) chúng tôi đang cân nhắc nghiêm chỉnh”. Một trong hai viên chức giấu tên nói trên cho biết. “Hiện chúng tôi đang có một đối tác mà lợi ích của cả hai bên đều hội tụ lại với nhau.”

Mong muốn quan hệ mật thiết hơn với Việt Nam, dù vẫn quan ngại về 'thành tích nhân quyền' của Việt Nam, nằm trong chiến lược của tổng thống Obama muốn chú trọng trở lại về kinh tế, chính trị và quân sự với Á Châu. Hành động nới lỏng cấm vận diễn tiến theo sau hai thập niên thiết lập quan hệ ngoại giao mà những dấu hiệu gần đây là một số cuộc họp cấp cao về cả ngoại giao và quân sự những tháng gần đây.

Hai giám đốc cấp cao trong kỹ nghệ võ khí Hoa Kỳ nói với thông tấn Reuters rằng họ dự trù chính phủ Hoa Thịnh Đốn sẽ gỡ bỏ cấm vận võ khí với Việt Nam không bao nhiêu lâu nữa.

“Đã từng có nhiều cuộc thảo luận về bán võ khí cho Việt Nam. Điều này là lãnh vực đầy hứa hẹn cho chúng tôi.” Một trong hai người đó nói, yêu cầu được giấu tên vì không được phép bình luận công khai.

Bộ Ngoại Giao CSVN không đưa ra ngay một lời bình luận nào, theo Reuters.

Sự yếu kém quân sự của Việt Nam so với Trung Quốc nhìn thấy rõ rệt hồi Tháng 5 vừa qua khi Bắc Kinh ngang nhiên đem giàn khoan khổng lồ HD 981 tới vùng biển đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Lực lượng tàu tuần của Việt Nam vừa ít vừa nhỏ bé so với Trung Quốc nên chỉ chạy vòng vòng ngoài xa cả chục hải lý. Một số tàu kiểm ngư hay cảnh sát biển của Việt Nam còn bị tàu Trung Quốc đâm nát để cảnh cáo.

Tuy Việt Nam dành ra nhiều tỉ đô la hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là không quân và hải quân, khả năng giám sát, bảo vệ không hải phận vẫn rất giới hạn.

Nghị sĩ John McCain, cựu tù nhân chiến tranh bị CSVN cầm tù tại Hòa Lò Hà Nội, cổ võ nối lại bang giao với nước cựu thù hồi thập niên 1990. Ông cho hay sắp đưa ra một đề nghị lưỡng đảng gỡ bỏ một phần lệnh cấm bán võ khí sát thương cho Việt Nam.

Ông McCain là một trong số 4 nghị sĩ đã gặp các lãnh tụ Hà nội , bàn chuyện gỡ bỏ cấm vận hồi mùa hè vừa qua, cái lúc mà mối quan hệ giữa hai nước Cộng sản anh em Việt – Trung xuống tới mức thấp nhất trong mấy thập niên gần đây.

Trong Tháng 8 vừa qua, 6 ngày sau khi phái đoàn nghị sĩ McCain rời Việt Nam, Chủ tịch Liên quân Hoa Kỳ, đại tướng Martin Dempsey, được Hà Nội trải thảm đỏ đón rước long trọng. Ông là vị tướng cao cấp nhất của Hoa Kỳ đặt chân đến Việt Nam kể từ năm 1971 đến nay.

Tuần trước, đô đốc Nguyễn Văn Hiến, tư lệnh Hải quân CSVN, lặng lẽ tới Mỹ. Không biết chuyến đi âm thầm của ông bao gồm những gì nhưng theo Reuters, có chuyện thảo luận với Bộ trưởng hải quân Ray Mabus về diễn tập hải quân hỗn hợp.

Tin gần đây cho biết Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao CSVN Phạm Bình Minh sẽ đến Mỹ vào đầu tháng 10 tới để thảo luận với Ngoại trưởng John Kerry, trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel dự trù sẽ tới Việt Nam trước cuối năm nay.

Việt Nam nhiều phần sẽ không nghiêng quá lố về phía quỹ đạo Mỹ. Ngay sau các cuộc gặp gỡ một số viên chức quân sự và dân sự Mỹ, Hà Nội đã phải vội vàng cử Lê Hồng Anh, thường trực ban bí thư Bộ Chính Trị CSVN tới Bắc Kinh với những lời xin lỗi về các vụ bạo động chống xí nghiệp Trung Quốc ở Bình Dương, Biên Hòa và Hà Tĩnh đồng thời cam kết “tăng cường hợp tác, duy trì quan hệ phát triển lành mạnh”.

Daniel Russel, Phụ tá Ngoại trưởng Mỹ đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương lưu ý rằng không nên nói quá đáng về sự quan hệ xích lại giữa Mỹ và Việt Nam.

“Tôi không tin rằng Việt Nam muốn đánh đổi mối quan hệ lâu dài với Trung Quốc giữa hai đảng Cộng Sản, mặc dù có chen vào giữa một vài cuộc chiến tranh khá ác liệt, để đổi lấy một quan hệ đặc quyền hay đồng minh với Mỹ.” Ông Russel nói với Reuters.

Theo ý kiến của ông Russel, vị trí chiến lược của Việt Nam là lý do tốt để hợp tác chặt chẽ hơn với Hà Nội. Ông nói thêm rằng nới lỏng cấm vận bán võ khí sát thương “không phải là một điều dở”.

“Chúng tôi sẵn sàng và coi như nằm trong lợi ích của chúng ta để giúp những nước như Việt Nam phát triển lãnh vực cảnh báo trên biển cũng như khả năng hải quân của họ, và hy vọng sẽ có nhiều thứ nữa được đề cập.” Ông nói.

Từ nhiều năm nay, đặc biệt mấy năm gần đây, Việt Nam là một trong những khách hàng mua sắm nhiều võ khí nhất của Nga, vốn nước đàn anh của CSVN thời chiến tranh lạnh. Hà Nội đã tiếp nhận từ Nga 2 tàu ngầm lớp Kilo và sẽ nhận chiếc thứ ba vào cuối năm nay. Ba chiếc còn lại sẽ nhận trong hai năm tới. CSVN cũng mua một số tàu tuần duyên và hộ tống hạm, phần lớn cũng từ Nga. Tất cả thương vụ mua sắm này lên khoảng $2.6 tỉ.

Nhưng khả năng tuần tra biển từ trên không và khả năng chống tàu ngầm thì các máy bay Orion P-3 nếu có được sẽ giúp Việt Nam lấp được cái lỗ hổng đang còn bỏ ngỏ.

Hiện có tới 435 chiếc P-3 do công ty Lockeed Martin sản xuất phục vụ trong quân đội của 21 nước trên thế giới, theo trang nhà của công ty. Hiện Hải quân Hoa Kỳ đang thay thế dần dần các chiếc P-3 bán phản lực với các máy bay phản lực Poseidon P-8 tối tân hơn do hãng Boeing sản xuất.

Hồi tháng Tư vừa qua, một viên giám đốc hãng Lockeed tiết lộ với tạp chí thông tin Quốc phòng quốc tế IHS Jane rằng Việt Nam đề nghị mua 6 chiếc P-3 đã qua sử dụng, và có vẻ như đang có những hậu thuẫn trong chính phủ Mỹ cho việc này.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từ chối cho hay liệu Việt Nam đã nộp thư chính thức đề nghị xin mua máy bay nói trên hay chưa. Một nguồn tin thân cận với vấn đề này nói rằng các giới chức đang trong tiến trình nghiên cứu quyết định trước khi một thứ thư xin mua có thể được đệ nạp.

Một nguồn tin nói rằng nhiều viên chức trong chính phủ coi việc bán trang bị tuần tra biển là bước khởi đầu tốt cho mối bang giao mới giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, trong đó, Orion P-3 là sự “lựa chọn hợp lý”. Nếu được võ trang đầy đủ, nó có thể mang nhiều loại hỏa tiễn, bom, mìn tấn công tàu ngầm và các mục tiêu trên biển. (TN)

Đường cao tốc 1,5 tỉ USD dài nhất VN mới thông xe đã nứt toác



Một Thế Giới - 09:52 24-09-2014


Cao tốc Nội Bài – Lào Cai là tuyến đường cao tốc dài nhất và hiện đại nhất Việt Nam, với tổng số vốn gần 1,5 tỷ USD, dài 245km-Ảnh TL

Sau 2 ngày tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đi vào hoạt động, tại km 83, chiều từ Yên Bái về Phú Thọ đã có một vết nứt dài, gây nguy hiểm cho các phương tiện giao thông.


Tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai là tuyến đường cao tốc dài nhất và hiện đại nhất Việt Nam. Được đầu tư với tổng số vốn gần 1,5 tỉ USD, dài 245km đi qua năm tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái và Lào Cai.

Với chiều dài kỷ lục, tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai có 120 cây cầu lớn nhỏ, một hầm chui, đào đắp hơn 100 triệu m3 đất đá và hoàn thành sau 5 năm triển khai.

Ngày 21.9 vừa qua đã làm lễ thông xe, thông đường. Việc nứt đường khiến dư luận nghi ngờ chất lượng công trình của toàn tuyến đường này, liệu có đảm bảo như mong muốn? Hay chỉ là được “giây phút ban đầu”…

Sạt ta luy, nứt đường hàng chục mét

Chiều ngày 23.9, phóng viên tiếp nhận thông tin từ các lái xe và đã tiếp cận hiện trường thì thấy khu vực km83 đoạn từ Yên Bái về đã thấy một vết nứt khá lớn, dài khoảng hơn chục mét, xuống cấp nghiêm trọng, chạy dọc theo tuyến đường.

Do nằm ở đoạn cua nên khá nhiều phương tiện đã chủ động né tránh. Nếu cứ để các phương tiện giao thông chạy lên sẽ rất nguy hiểm và dễ tai nạn. Trao đổi với một số người đang khoan tại đây, hầu hết các cán bộ phụ trách đều từ chối trả lời vì lý do “tế nhị”.

Tiếp tục đi dọc tuyến này, phóng viên tiếp tục phát hiện ra một số ta luy đã bị nứt lở. Điển hình như đoạn km 103, một ta luy sau cơn mưa đã sạt lở toàn bộ, một vài điểm khác thì đang được nhà thầu múc, hót, sửa chữa.

Trao đổi với những người dân sinh sống gần đây, nhiều người cho biết: không rõ đơn vị nào là nhà thầu chính bởi ở đây có rất nhiều nhà thầu phụ, nhận lại cho các nhà thầu của Hàn Quốc. Các kè này mới xây được một thời gian, không có ai xâm phạm, không có người đi, lối lại không mà không hiểu tại sao lại đổ sập được.

Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết: Dự án này khởi công từ quý 3 năm 2008. Dự án cao tốc Nội Bài-Lào Cai do nhà thầu Hàn Quốc thi công (chiếm 6/8 gói thầu) gồm: Tập đoàn Posco, Keangnam, Doosan. Công ty cầu đường Quảng Tây (Trung Quốc), Tổng Công ty Cổ phần Vinaconex (Việt Nam).

Tổng mức đầu tư của dự án đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai đã được điều chỉnh tại quyết định số 3008/QĐ-BGTVT ngày 07/8/2014 của Bộ Giao thông Vận tải là 1,46 tỉ USD (giai đoạn 1) bao gồm vay ưu đãi ADF (ADB) 236,21 triệu USD, vay thông thường OCR (ADB) 1,03 tỉ USD và vốn đối ứng là 170,31 triệu USD cho giải phóng mặt bằng.

Phóng viên đã gọi điện đến Tổng Công ty (TCT) đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam để tìm hiểu sự việc. Sau khi trình bày nội dung sự việc với ông Lê, thư ký của TCT, ông này cho biết: Cũng chưa nắm được gì cả nên chưa trả lời, ông Lê hướng dẫn gọi điện cho ông Thành, Phó TGĐ, tuy nhiên ông Thành không nhấc máy.
Được biết, Dự án này được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cao tốc loại A. Đoạn từ Hà Nội đi Yên Bái có 4 làn, 2 làn dừng khẩn cấp với tốc độ thiết kế 100km/h và đoạn từ Yên Bái đi Lào Cai có 2 làn xe, 2 làn dừng khẩn cấp, tốc độ thiết kế 80 km/h.


Một vết nứt khá lớn, dài khoảng hơn chục mét, xuống cấp nghiêm trọng
Kỹ sư Nguyễn Đăng Tâm (Hiệp hội Xây dựng Việt Nam) cho biết: tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai là tuyến đường mới, cho đến ngày thông xe mới cho các xe con, xe tải vào hoạt động. Các phương tiện xe khách cũng chưa lên tuyến đường này để khai thác.
Vậy khó có thể nói là đường nứt, hỏng là do các phương tiện giao thông vận tải, xe quá tải, quá khổ gây nên được. Cái chính cần làm rõ là chất lượng của công trình có đảm bảo? Hay các nhà thầu làm ẩu, dẫn đến tình trạng trên.

Dấu hiệu “ăn bớt” công trình
Được biết, từ khi dự án hình thành và đi vào đầu tư, phía chủ đầu tư đã chuyển cho Hội đồng GPMB của các tỉnh, TP là: Hà Nội , Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái , Lào Cai .
Diện tích giải phóng mặt bằng của dự án là 2.062,38 ha; đền bù giải phóng mặt bằng cho 25.031 hộ dân bị ảnh hưởng; xây dựng 99 khu tái định cư; di dời và xây mới hàng trăm công trình công cộng; dự án áp dụng chương trình phục hồi thu nhập cho gần 17.000 hộ dân.
Tuy nhiên, đã có nhiều khiếu kiện về đất đai như: tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Người dân đã làm đơn khiếu nại về những dấu hiệu sai phạm tại Hội đồng GPMB huyện Văn Yên về những “vô lý” mà người dân gánh chịu.


Hiện trường ta luy sạt lở ở km 103, đoạn từ Yên Bái đi Phú Thọ.
Điển hình như công tác di dân, tái định cư ở xã An Thịnh, gia đình ông Trương Minh Xim, vợ Đoàn Thị Hiền, trú tại thôn Đại An, xã An Thịnh, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tố cáo:

Vì dự án của quốc gia, nhà chị đã bị thu hồi hơn 3.000 m2 đất, trong đó có 300 m2 đất thổ cư. Giá đất thổ cư thu hồi là 100 ngàn m2, sau khi nhận tái định cư, gia đình chỉ có nhận được 280 m2 đất tái định cư (hụt 20 m2), giá đất lại tính 150 ngàn m2. Cao hơn 50 ngàn/1m2. Bởi vậy, cho đến nay, người dân vẫn chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nhiều người dân tiếp tục tố cáo: hiện tại khu tái định cư này chưa có đường dẫn nước sạch vào đây, người dân không thể đào được giếng vì tái định cư trên quả đồi. Hội đồng GPMB huyện Văn Yên khi trả tiền GPMB cũng “cấu” của một số hộ gia đình số tiền 25 triệu đồng, lý do nộp là tiền “đường - điện”.

Đến thực tế khu dân cư, phóng viên quan sát thấy nhiều dấu hiệu “ăn bớt” công trình như: một số bờ kè đã bị nứt, lở, cao trình của khu tái định cư bị “tố” làm cao đến 1,5m, không hạ xuống như thiết kế, yêu cầu người dân ký nhận tiền đền bù GPMB năm 2008, nhưng đến 2010 mới mời nhận tiền, vậy suốt 2 năm, số tiền hàng chục tỉ đồng của người dân nằm “ở đâu” mà không chi trả, chưa kể thu hồi đất ở thời điểm nào thì phải tính tiền thời điểm đó…
Đến trụ sở UBND huyện Văn Yên đề nghị làm việc, tiếp phóng viên, ông Đức, Chánh văn phòng đã giới thiệu sang gặp Hội đồng GPMB và một báo cáo đầy “tươi sáng” đã được gửi cho phóng viên.
Tuy nhiên, khi hỏi về những vấn đề cụ thể như: Thu khoản tiền 25 triệu đồng của dân vào việc gì? Đơn giá đền bù, sao có chuyện thu giá thấp, bán đất giá cao, một số công trình hư hỏng… thì các nhân viên ở đây không trả lời nổi vào thoái thác.


Người dân tố cáo những vết nứt của khu tái định cư Đại An, xã An Thịnh

Theo Đà Giang – Nam Long/Báo Xây dựng

Toàn bộ dự án có 19 điểm giao cắt với đường quốc lộ cũ và đường nội bộ chính, có thể qua lại một cách an toàn. Với 120 cầu lớn nhỏ (trong đó có 2 cầu lớn là cầu Sông Hồng và Sông Lô với chiều dài 1,68km, rộng 16,5m), Một hầm xuyên núi (530m, cao 9m, rộng 14m), Một hầm chui (giao Quốc lộ2 dài 645m), Đào đắp hơn 100 triệu m3 đất đá, Xử lý mái dốc hơn 1,3 triệu m2, 460 cống hộp và cống phục vụ dân sinh, 895 cống tròn thoát nước các loại; Trên 6 triệu m3 cấp phối đá dăm; gần 1,8 triệu tấn bê tông nhựa các loại, trên 600.000 m3 bê tông; gần 91.000m dài cọc khoan nhồi, Với 13 trạm thu phí, 5 trạm dừng nghỉ rộng 23 ha.







Công bố mức thu nhập "khủng" của lãnh đạo 11 tập đoàn kinh tế nhà nước

Một Thế Giới - 05:46 24-09-2014


Với mức lương 74,72 triệu đồng, ông Đỗ Ngọc Khải, Tổng Giám đốc kiêm Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp dầu thực vật được cho là có mức thu nhập cao nhất trong các lãnh đạo cấp cao tại các tập đoàn kinh tế của Việt Nam năm 2013.
Ngày 23.9, Bộ Công Thương đã chính thức công bố báo cáo thống kê mức lương trung bình của các lãnh đạo cấp cao trong các tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam trong năm 2013.
Theo đó, báo cáo thống kê cụ thể về thu nhập của các lãnh đạo trong 11 tập đoàn kinh tế lớn như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty công nghiệp dầu thực vật, Tập đoàn than-khoáng sản Việt Nam...
Thống kê thu nhập của các lãnh đạo Tập đoàn được tính dựa trên Nghị định 51/2013/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với viên chức quản lý doanh nghiệp và Chỉ thị số 11/CT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công thương về việc tăng cường công khai minh bạch đối với hoạt động kinh doanh điện, xăng dầu.
Cụ thể, Ông Đỗ Ngọc Khải, Tổng Giám đốc kiêm Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp dầu thực vật đang đứng đầu danh sách thu nhập "khủng" khi có mức lương tháng là 74,72 triệu đồng. Đứng thứ hai là ông Phùng Đình Thực, Chủ tịch Hội đồng Thành viên (HĐTV) Tập đoàn Dầu khí VN với mức lương 65,81 triệu đồng.
"Sếp" của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Đỗ Văn Hậu đứng ở vị trí thứ ba với mức lương 64,35 triệu đồng. Khiêm tốn hơn một chút, Chủ tịch Hội đồng thành viên của Tập đoàn Điện lực Việt Nam Hoàng Quốc Vương chỉ xếp ở vị trí thứ tư với mức lương 61,32 triệu đồng.
Giữ vị trí thứ 5, thứ 6 lần lượt là Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam Bùi Ngọc Bảo với mức lương 54 triệu đồng và Chủ tịch HĐTV Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam Trần Xuân Hòa với .mức lương 53,42 triệu đồng.
Duyên Duyên

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Trước Hội Nghị 10: Phân tích 'báo cáo phân tích nội bộ'

Phạm Chí Dũng 

Chẳng mấy dị biệt với các kỳ hội nghị trung ương trước đây, trước hội nghị trung ương đảng thứ 10 cuối năm 2014, bầu không khí “chính trị nội bộ” ở Việt Nam có vẻ đang dần được sưởi ấm bởi một chiến dịch “phản tuyên truyền” manh nha khởi phát.

Nhưng khác hẳn với năm 2012 khi các bài viết đả kích nội bộ tập trung trên hệ thống trang điện tử cá nhân của dư luận viên, giờ đây mặt bằng dân trí “phản tuyên truyền” đã được “nâng lên một tầm cao mới”: thông qua kênh thông tin “lề dân” và hải ngoại để “khách quan.”

Năm câu hỏi về ông Lê Hồng Anh

Hồi Tháng Tư, loạt bảy bài “Ai đang làm khánh kiệt đất nước?” của một tác giả có tên Dương Vũ cũng được gửi đến Dân Luận, gây náo động dư luận. Rất nhiều chi tiết về “phe lợi ích” và cả về giới chính khách cao cấp ở Việt Nam được lột tả trong loạt bài viết rất đáng nghi ngờ về xuất xứ này. Tất nhiên những trang thông tin như Dân Luận không thể hoặc rất khó có điều kiện kiểm chứng những tin tức chỉ tồn tại trong nội bộ đảng và chính quyền, mà chỉ có thể đăng tải như một tin tức mang tính tham khảo.

Hoặc vài bài viết mang màu sắc “bình luận chính giới” khác xuất hiện trên trang Ðàn Chim Việt, Tin Tức Hàng Ngày...

Mới đây, bài “Những gì diễn ra sau chuyến đi Bắc Kinh của phái viên Lê Hồng Anh,” ký tên “Một cán bộ Viện Nghiên cứu Quốc tế (xin được phép giấu tên)” đăng tải trên trang Dân Luận lại là một dẫn chứng thú vị và đáng xem xét (https://www.danluan.org/tin-tuc/20140915/nhung-gi-dien-ra-sau-chuyen-di-bac-kinh-cua-phai-vien-le-hong-anh#comment-128551).

Tuy nhiên khác nhiều với những bài phân tích cùng chủ đề nội bộ, bài viết trên đặt ra năm câu hỏi trực tiếp:

1- Tại sao ông Lê Hồng Anh được cử sang Trung Quốc gặp ông Tập Cận Bình lại mang danh nghĩa phái viên của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng (trong khi ông Lê Hồng Anh được coi là phó đảng) và cũng không mang danh nghĩa gì về mặt nhà nước. Như vậy danh nghĩa này được hiểu thế nào?

2- Trung Quốc vi phạm chủ quyền của ta, bị thế giới lên án, phê phán; ta phản đối quyết liệt, kiên quyết hành động của họ vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế nhưng sao không mời Trung Quốc sang ta mà lại cử phái viên sang Trung Quốc để hòa giải với họ?

3- Chuyến đi của Lê Hồng Anh đã tác động đến tình hình nội bộ thế nào?

4- Sau chuyến đi của ông Lê Hồng Anh quan hệ hai nước thế nào, những biến động sẽ ra sao?

5- Chuyến đi của phái viên Lê Hồng Anh sang Trung Quốc dư luận quốc tế quan tâm như thế nào?

Dưới mỗi câu hỏi là phần “đánh giá” và “bình luận” của tác giả.

Báo cáo phân tích nội bộ?

Không hẳn là chủ đề hay nội dung bài, mà đặc trưng hiển thị nhất của bài viết này là cấu trúc câu hỏi - đánh giá - bình luận.

Về phương pháp, bài viết này được thể hiện theo dạng báo cáo, chuyên đề phân tích và có hàm lượng phân tích khoa học. Về nội dung, bài viết này nêu những vấn đề theo phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh và quy nạp. Phương pháp và nội dung như thế là khác hẳn với dạng bài viết thông thường theo dạng mô tả, phân tích và có tính báo chí hơn.

Ðiểm đặc biệt có thể ghi nhận về phương pháp cấu trúc bài viết này có thể khiến cho một số bạn đọc liên tưởng đến cách thức diễn đạt những báo cáo nội bộ. Nếu giả thiết này là đúng, bài viết trên phải có nguồn tin xuất xứ từ một báo cáo phân tích nội bộ nào đó, thậm chí có thể từ một cơ quan “nghiên cứu chiến lược” sâu xa, được chuyển cho tác giả để “chế tác.”

Và nếu giả thiết trên là đúng, nhiều khả năng tác giả là người trong nội bộ chứ không thuộc về nhóm nhân sĩ, trí thức phản biện độc lập hay cả những trí thức “phản biện trung thành.”

Liên hệ với những bài “phản tuyên truyền” trong thời gian gần đây, giả thiết về nguồn tin và gốc gác nội bộ của bài viết lẫn tác giả chiếm xác suất cao nhất.

Những câu hỏi còn lại chỉ là tác giả thuộc “phe” nào, và bài viết tung ra nhằm mục tiêu gì.

“Những nhân sự cứng rắn với Trung Quốc”?


Trong bài “Những gì diễn ra sau chuyến đi Bắc Kinh của phái viên Lê Hồng Anh,” có thể lược dẫn một số đánh giá và phân tích đáng chú ý:

“Ðiều này đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa các phản ứng mạnh của thủ tướng và các cơ quan của chính phủ vừa qua có những tuyên bố cứng rắn đối với Trung Quốc” (Ðánh giá câu hỏi 1).

“Nguyễn Phú Trọng tự biến mình thành bầy chuột để tế lễ con mèo như tranh dân gian của nước ta” (Ðánh giá câu hỏi 2).

“Trung Quốc nhân cơ hội này tấn công vào nội bộ ta để phá nhân sự đại hội lần thứ XII, gây áp lực loại những nhân sự có quan điểm cứng rắn với Trung Quốc” (Ðánh giá câu hỏi 3).

“Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng là người chịu trách nhiệm chính, ông cần nghiêm túc kiểm điểm để thấy rõ trách nhiệm của mình đối với việc đối phó với Trung Quốc ở Biển Ðông và việc ngày càng tránh né Việt Nam của Lào, Cambodia để lệ thuộc sâu hơn vào Trung Quốc” (Bình luận câu hỏi 5).

“Mong Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông đọc kỹ các câu hỏi và bình luận của dư luận trong và ngoài nước sau chuyến đi của phái viên Lê Hồng Anh để soi lại mình, vẫn còn đủ thời giờ để điều chỉnh nếu như muốn tránh sự phế truất của đảng viên và nhân dân” (Bình luận câu hỏi 5).

Phần đánh giá và bình luận về những đánh giá và bình luận - tuy riêng rẽ nhưng có tính kết tập trên - xin tùy thuộc độc giả.

Một gợi ý nho nhỏ để góp phần “giải mã” về xuất xứ nguồn tin và tác giả của bài viết trên là văn phong của tác giả này đã đột ngột biến đổi trong đoạn ví Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng “như bầy chuột để tế lễ con mèo” (Ðánh giá câu hỏi 2). “Chuột” cũng là hình ảnh mà một số dư luận viên rất thích dùng để đặc tả những khuôn mặt trong giới đấu tranh dân chủ ở Việt Nam.

Phần bình luận tại câu hỏi 5 về “hướng dẫn kiểm điểm nghiêm túc” đối với ông Nguyễn Phú Trọng cũng dường như muốn hàm ý về một không khí “chi bộ” nào đó sắp tới (có thể Hội Nghị Trung Ương 10?), và có thể không kém phần “nghiêm túc” như Hội Nghị Trung Ương 6 của đảng vào cuối năm 2012 - thời điểm xuất hiện khái niệm “đồng chí X” và tiếp theo hình ảnh tổng bí thư rơi lệ.

Ðể cuối cùng, chúng ta hãy cùng đoán xem “những nhân sự cứng rắn với Trung Quốc” là ai và có “cứng rắn” thật hay không.

Nguồn: Người Việt 21/9/2014

Vì sao dư luận bất mãn với cuộc triển lãm cải cách ruộng đất?





Một số người được cho là dân oan đã tới biểu tình bên ngoài bảo tàng ở Hà Nội.

Một cuộc triển lãm lần đầu tiên về thời kỳ cải cách ruộng đất gây nhiều tranh cãi ở Việt Nam mới đây đã phải đóng cửa ít ngày sau khi khai mạc.

Nguyên nhân đóng cửa được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đưa ra là do “sự cố điện” nhưng nhiều cư dân mạng xã hội lại cho rằng triển lãm buộc phải ngừng lại vì vấp phải không ít phản đối.

Báo chí do nhà nước kiểm soát hầu như chỉ đưa tin về những mặt tích cực của cuộc triển lãm được cho là “cung cấp thông tin đa chiều về một giai đoạn lịch sử đặc biệt”.

Tin cho hay, 150 hiện vật, tư liệu được trưng bày “tái hiện việc giải phóng sức sản xuất ở nông thôn khỏi ách trói buộc của giai cấp địa chủ phong kiến”.

Những ý kiến đối lập cho rằng cuộc triển lãm mang tên “Cải cách ruộng đất 1946-1957” đã “không thừa nhận những sai lầm trong quá khứ” và “không phản ánh đầy đủ những gì đã xảy ra, nhất là về việc đấu tố địa chủ”.

Tiến sỹ Nguyễn Quang A, nhà quan sát tình hình chính sự ở Việt Nam, cho rằng việc ra mắt triển lãm là điều “rất tốt vì nó tự lột mặt nạ của một sự dối trá”.

Ông nói: “Mục đích của họ muốn

cho mọi người thấy rằng cái việc đã làm 60 năm trước là hoàn toàn đẹp đẽ, hay ho còn cũng có một số sai sót nhưng nhỏ tí thôi. Đấy là một kiểu tuyên truyền lừa đảo mà từ trước tới nay vẫn thế. Người ta nghĩ rằng trước cũng lừa bịp được kiểu như vậy rồi và bây giờ vẫn có thể lừa bịp tiếp được. Nhưng mà họ không ngờ rằng dư luận phản ứng mạnh như vậy".

Tin cho hay, một số người được cho là dân oan đã tới biểu tình bên ngoài bảo tàng ở Hà Nội.

Các hình ảnh đăng tải trên mạng cho thấy họ giơ cao các biểu ngữ với những dòng chữ như "quyền con người" hay "phản đối công an bắt người vô tội".

Trong cuộc phỏng vấn với VOA tiếng Việt, giáo sư sử học Lê Văn Lan cho rằng “không có gì phải tranh cãi về vấn đề cải cách ruộng đất”, và ông cho hay “đã được chứng kiến sự thừa nhận sai lầm”.

Nhà nghiên cứu này nói: “Cụ Hồ rồi ông tổng bí thư lúc đấy là Trường Chinh thì đã nhận trách nhiệm, thậm chí là thôi chức và thậm chí Cụ Hồ đã khóc rồi gửi lời xin lỗi. Tất cả chuyện sai lầm cải cách ruộng đất thì đã thuận chiều mà công khai”.

Trong khi đó, tiến sỹ Nguyễn Quang A cho rằng Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã tự mâu thuẫn khi một mặt nói “muốn đưa ra một bức tranh toàn diện” nhưng mặt khác lại nói rằng “không cần phải nêu toàn bộ, không cần phải nêu hết các khía cạnh”.

Nhà quan sát này cũng cho rằng những tiếng nói đại diện cho xã hội dân sự trên mạng xã hội đóng một vai trò lớn trong việc vận động làn sóng phản đối cuộc triển lãm.

Ông nói: “Cái triển lãm này có một mục đích là cho thấy một thắng lợi long trời lở đất, mang lại ruộng đất cho bà con nông dân. Thì bà con Dương Nội kéo đến đấy. Đấy là bà con Văn Giang còn chưa kéo lên đấy. Bà còn ở khắp nơi chưa kéo lên. Họ không lường được phản ứng như thế. Và đến khi bà con Dương Nội lên một cái thì họ đành phải ngụy biện là mất điện, thế này, thế kia rồi đóng cửa và bây giờ đóng cửa vĩnh viễn. Đố chả dám mở lại”.

Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam được nhà nước phát động để “xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là theo Pháp, chống lại đất nước, chống lại chính quyền như địa chủ, cường hào hay các đảng đối lập”.

Tài sản, đất đai của những người vừa kể bị tịch thu và chia cho tầng lớp bần cố nông đồng thời đưa những người bị nhắm làm mục tiêu ra đấu tố và xử tội.

Báo chí trong nước dẫn số liệu tại cuộc triển lãm viết rằng “nông dân cùng nhau chống lại địa chủ, tịch thu hơn 70.000 hécta đất ruộng để chia cho gần 4 triệu nông dân tại 3.314 xã”.

Rốt cuộc, ông Phạm Bình Minh vẫn “được” đi Mỹ


Viết Lê Quân



Rốt cuộc, cũng lộ ra tin tức về chuyến đi Hoa Kỳ sắp tới của Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh.

Nhưng thêm một lần, điều trớ trêu là tin tức trên được tiết lộ từ một hãng truyền thông bị ghép tội “vu khống và xuyên tạc” như VOA Việt ngữ, chứ không phải là Thông tấn xã Việt Nam hay báo Nhân Dân.

“Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sẽ đi thăm Washington vào đầu tháng 10 sắp tới để tham khảo ý kiến với Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry” – VOA dẫn.

Vì sao “được” đi?

Vào đầu tháng 9/2014, các cơ quan thông tấn Việt Nam dè dặt và ấp úng đưa tin Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sẽ tham dự hai sự kiện ở Quảng Tây vào trung tuần tháng 8/2014 nhằm “thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc”. Chuyến “Bắc du” này diễn ra chỉ ít ngày sau chuyến công du Bắc Kinh gây tranh luận đặc biệt của “Đặc phái viên Tổng bí thư” Lê Hồng Anh.

Chuyến đi của ông Lê Hồng Anh được mô tả là “duy trì quan hệ Việt Nam-Trung Quốc hòa bình và ổn định ở Biển Đông”, sau chiến dịch giàn khoan HD981 lợi bất cập hại của Trung Quốc ở Biển Đông vào đầu tháng 5/2014, được tiếp nối bởi cú đổ bộ vào Hà Nội của Ủy viên quốc vụ viện Trung Hoa Dương Khiết Trì.

Nhưng với Ủy viên trung ương đảng Phạm Bình Minh, có lẽ thời gian qua là lần đầu tiên từ khi nhậm chức bộ trưởng ngoại giao, đường quan lộ của ông trở nên trễ tràng đến thế. Từ tháng 5/2014 cho đến nay, ông Phạm Bình Minh vẫn chưa “được” đi Mỹ, bất chấp lời mời khá nhiệt tình của Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry. Ngay cả khi một lãnh đạo cao cấp trong Bộ chính trị Việt Nam xuất hiện ở Mỹ vào cuối tháng 7/2014, trong đoàn tùy tùng cũng không có mặt ngoại trưởng Việt.

Trong suốt gần 5 tháng qua, có vẻ những gì quan trọng nhất mà ông Phạm Bình Minh diễn đạt là dự tiếp đón các quan chức quốc hội Mỹ vào tháng 8/2014 tại Hà Nội, trong khi giới chức bên chính phủ VN dường như giữ thái độ lắng tiếng đến khó tả.

Tuy nhiên, có lẽ ảnh hưởng của những nhân vật như John McCain và Dempsey là đủ lớn để dẫn đến chuyến đi Hoa Kỳ sắp tới của ông Phạm Bình Minh.

“Biến đổi khí hậu”

Một chi tiết đáng chú ý và có tính so sánh là tin tức về chuyến đi dự kiến của ngoại trưởng Việt Nam hé lộ giữa lúc phái đoàn đàm phán TPP của Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh đang ở Hoa Kỳ, cùng lời đề nghị người Mỹ cần “linh hoạt” cho Việt Nam về quy chế thị trường và các điều kiện “thấp hơn” để vào TPP.

Cùng là phó thủ tướng, nhưng ông Vũ Văn Ninh đứng ở thứ bậc cao hơn ông Phạm Bình Minh trong Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế - một cơ quan mới được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lý quyết định thành lập vào khoảng giữa năm 2014.

Có thể, một số lời “nhắn nhủ” nào đó của Đại diện thương mại Mỹ Froman với ông Ninh đã có tác dụng khiến cho giới bảo thủ Việt Nam thay đổi cách nhìn nhận vấn đề: đằng nào thì cũng phải có một khuôn mặt đại diện ngoại giao đứng ra làm việc với Chính phủ Mỹ.

Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington (CSIS) cho biết, cuộc họp sắp tới giữa hai vị ngoại trưởng Mỹ - Việt là một diễn đàn để “đề ra những bước cụ thể và đào sâu hơn quan hệ đối tác toàn diện đã được loan báo khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đến thăm Tòa Bạch Ốc vào tháng Bảy năm 2013”.

Còn theo dư luận hành lang, trước khi đi Mỹ, một cách đương nhiên ông Phạm Bình Minh “phải” có mặt ở Trung Quốc, dù chỉ mang tính hình thức.

Lại nói về Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế. Cơ quan này đề nghị hai nước hãy đề ra những bước cụ thể, để tạo điều kiện cho một chuyến đi của Tổng Thống Barack Obama tới thăm Việt Nam trong năm tới, để đánh dấu kỷ niệm 20 năm ngày hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao với nhau, có lẽ vào dịp hội nghị thượng đỉnh an ninh và kinh tế thường niên sẽ được tổ chức ở Malaysia và Philippines vào tháng 11, 2015.

Tin tức mới nhất cho biết ngay trước chuyến đi Mỹ, ông Phạm Bình Minh sẽ tham dự và phát biểu tại phiên thảo luận cấp cao Khóa họp 69 Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, diễn ra từ ngày 22/9-7/10 tại New York, Hoa Kỳ. Ông cũng sẽ phát biểu tại một hội nghị cấp cao về khí hậu.

Tuy nhiên, “biến đổi khí hậu” trong chính trường Việt Nam là vô cùng khó lường. Nếu cho tới giờ vẫn chưa ló dạng bất cứ tù nhân lương tâm nào từ thể chế “đặc xá” của Nhà nước Việt Nam, vẫn chưa có gì chắc chắn là ông Phạm Bình Minh sẽ có mặt ở phi trường thủ đô Washington vào đầu tháng 10/2014 để bàn thảo về “đối tác chiến lược toàn diện” với Ngoại trưởng Hoa Kỳ.

V.L.Q



Chuyến đi Mỹ của Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và quan hệ Mỹ-Việt-Trung



Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sẽ có mặt tại Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc, lúc 3h chiều ngày 24-9-2014, địa chỉ: 725 Park Avenue, New York, NY, để tham dự hội thảo “Vị trí Việt Nam trong trật tự thế giới“.

Ngoài ông Phạm Bình Minh, các nhân vật tham gia hội thảo gồm có: GS David Denoon – đại học New York; ông Vikram Nehru – Giám đốc chương trình nghiên cứu Đông Nam Á của Viện Carnegie; Ankit Panda – BTV báo Diplomat và GSJayne Werner.

Hội thảo này mở rộng cho mọi người tham gia, không phải là thành viên sẽ phải trả lệ phí $15/ người, sinh viên hoặc người lớn tuổi $12/ người, thành viên $10/ người. Phải đăng ký trước tại đây.

Không thấy truyền thông trong nước đưa tin về hội thảo này. Được biết, chuyến đi Mỹ của Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã bị trì hoãn hơn 4 tháng qua.

Ngay sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào thăm dò dầu khí ở vùng biển Việt Nam, hôm 21/5, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã mời Ngoại trưởng Phạm Bình Minh thăm Mỹ để “tham vấn toàn diện về các vấn đề song phương và khu vực trong khuôn khổ mối quan hệ Đối tác Toàn diện giữa hai nước“, thế nhưng ông Phạm Bình Minh đã không đi Mỹ, cho dù báo chí trong nước đưa tin ông sẽ thăm Mỹ để ‘thảo luận về vấn đề giàn khoan Hải Dương’.

Hai tháng sau lời mời của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, Bộ Chính trị đã cử ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội thăm Mỹ trong một chuyến đi “bí mật”. Truyền thông trong nước chỉ đưa tin sau khi ông Phạm Quang Nghị đã làm việc ở Mỹ 2 ngày. Báo chí trong nước không đưa tin chương trình làm việc của ông Phạm Quang Nghị trong suốt những ngày ông Nghị ở Mỹ. Truyền thông trong nước hoàn toàn im hơi lặng tiếng cho tới khi ông Nghị kết thúc chuyến đi. Nhiều người thắc mắc, không hiểu Ông Phạm Quang Nghị sang Mỹ làm gì trong khi phía Mỹ mời ông Phạm Bình Minh?

Sau chuyến đi Mỹ của ông Phạm Quang Nghị, một tuần sau đó, Thượng Nghị sĩ Bob Corker đã đến thăm Việt Nam. Ba ngày sau chuyến thăm của TNS Bob Corker, là chuyến đi của Thượng nghị sỹ Mỹ John McCain và Sheldon Whitehouse thăm Việt Nam 4 ngày, từ ngày 7/8 đến ngày 10/8. Trong chuyến đi này, TNS John McCain đã lên tiếng ủng hộ Hoa Kỳ nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam với lý do “Hà Nội đã có tiến bộ về nhân quyền“.

Ba ngày sau chuyến thăm của TNS John McCain và Sheldon Whitehouse là chuyến thăm lịch sử của Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân Mỹ. Chuyến thăm Việt Nam 4 ngày, kể từ ngày 13/8 đến ngày 16/8, của tướng Martin Dempsey là chuyến đi của một viên tướng cao cấp tới Việt Nam sau hơn 4 thập niên, kể từ khi chuyến thăm của Đô đốc Thomas Moorer, Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, hồi năm 1971.

Hơn 10 ngày sau, Bộ Chính trị cử ông Lê Hồng Anh, đặc phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, sang thăm Bắc Kinh trong 2 ngày, từ ngày 26/8 đến 27/8. Tại đây, ông Lê Hồng Anh đã đạt được thỏa thuận ‘Nguyên tắc ba điểm’ quan hệ Việt–Trung với phía Trung Quốc.

Và bây giờ là chuyến thăm Mỹ của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh. Ông Phạm Bình Minh sẽ nói gì với Ngoại trưởng John Kerry và các quan chức Mỹ? Liệu ông sẽ nói: ông Lê Hồng Anh đã đi Bắc Kinh và có buổi nói chuyện thân mật, cởi mở với Chủ tịch nước Tập Cận Bình, chúng tôi đã đạt được ‘nhận thức chung nguyên tắc ba điểm về tiếp tục phát triển quan hệ Việt-Trung’, quan hệ Việt-Trung bây giờ rất tốt đẹp?


Ngọc Thu
Nguồn: Anh Ba Sàm