Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung Gửi cho BBC từ Sài Gòn
TBT Nguyễn Phú Trọng đề cao nhu cầu 'giữ ổn định' khi chống tham nhũng
Sáng ngày 6/10/2014 vừa qua, đoàn đại biểu quốc hội thành phố Hà Nội, trong đó có tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp xúc với cử tri các quận Ba Đình, Tây Hồ.
Trong đó, ông Trọng đã phát biểu về vấn đề chống tham nhũng rằng, xử lý trước mắt phải nghĩ lâu dài, giữ cho được ổn định để đất nước phát triển.
"Không phải xới tung lên tất cả, gây mất niềm tin, nghi kỵ lẫn nhau, rối loạn sẽ rất nguy hiểm."
"Phải bình tĩnh tỉnh táo, rất khôn ngoan, có con mắt chiến lược. Bác Hồ dạy rồi, cha ông ta dạy rồi, đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Tức là phải giữ cho được cái ổn định."
Phát biểu trên của ông tổng bí thư đã chống lại hiến pháp do chính Đảng Cộng sản tự soạn thảo và tự ban hành mà không cần thông qua trưng cầu ý dân.
Theo điều 16 hiến pháp 2013, “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Thế nhưng, khi xử lý đảng viên cộng sản cao cấp tham nhũng thì phải “nghĩ lâu dài”, rồi “không phải xới tung lên tất cả”.
Nghĩa là nếu có ai tham nhũng, làm sai, hại dân mà lãnh đạo đảng thấy đụng chạm thì có thể bỏ qua. Vậy còn với dân đen thì sao?
Để so sánh rõ hơn thân phận của dân đen với lãnh đạo cấp cao, ta có thể thấy ngay cuộc tranh luận hiện nay về quyền im lặng trong quá trình tố tụng.
Quyền im lặng là quyền của nghi can để đảm bảo không phải đưa ra bất kỳ bằng chứng gì chống lại chính mình. Đây là một quyền phổ quát trên thế giới để bảo vệ quyền con người và quyền công dân, chống lại việc sử dụng nhục hình, bức cung.
Thế nhưng, vẫn có những quan chức cho rằng “quyền im lặng không phù hợp với thực tiễn văn hóa nước Việt”, hay ngụy biện không nên áp dụng quyền im lặng để “giúp cho công tác phá án nhanh chóng, tránh nguy hiểm cho xã hội”.
'Móc ng̣oặc lợi ích nhóm'
Hiến pháp không quy định quyền và nghĩa vụ của Tổng Bí thư và Bộ Chính trị
Với dân đen thì không cho áp dụng quyền im lặng, còn với đảng viên cao cấp thì có thể im lặng vì thực trạng hiện nay của giới lãnh đạo là “vấn đề lợi ích, cấu kết, móc ngoặc với nhau, lợi ích nhóm, ông mất chân giò, bà thò chai rượu... những quan hệ lằng nhằng với nhau” (Nguyễn Phú Trọng).
Thứ tư duy độc đoán bất công này đã dẫn đến bao nhiêu vụ án oan sai do bị bức cung, mà điển hình như vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn gây chấn động dư luận xã hội vừa qua.
Đồng thời cũng dẫn đến rất nhiều vụ bỏ lọt tội phạm tham nhũng vì nể nang, vì “đại cục”.
Từ đó có thể thấy, khi xử dân đen như ông Chấn thì lãnh đạo đảng cộng sản không cần phải “nghĩ lâu dài”, có thể thoải mái dùng nhục hình, bức cung để buộc tội. Còn hiện trạng tham nhũng mà chính các đời tổng bí thư đều cho rằng đó là “giặc nội xâm”, “ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ” thì phải “bình tĩnh tỉnh táo”.
Tinh thần “quyết liệt” chống tham nhũng của lãnh đạo cao nhất của đảng cầm quyền là như vậy?
Nếu thật sự đây là nhà nước pháp quyền và mọi công dân đều bình đẳng thì các cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Viện kiểm sát, tòa án cứ căn cứ theo pháp luật để xử lý nghi can, bất kể là dân đen hay đảng viên cao cấp. Còn đã lập ra “ban nội chính” để lãnh đạo đảng chỉ đạo xử án thì có còn là pháp quyền nữa hay không?
Ngay cả thời phong kiến, vua chúa cũng phải mị dân rằng “thiên tử phạm tội cũng bị xử như thứ dân”.
Thế nhưng tại Việt Nam ở thế kỷ 21 này, tổng bí thư – người có quyền cao nhất nước lại cho rằng đảng viên cao cấp có thể không bị xử lý vì sợ “vỡ bình”. Vậy những người lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đã đứng trên luật pháp, dù đó là luật pháp do chính đảng cộng sản làm ra.
Như thế, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chống lại điều 4 Hiến pháp “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Tổng bí thư đã không coi điều 4 hiến pháp ra gì thì có cần giữ lại bản hiến pháp hiện nay hay không?
Hay người dân Việt Nam cần thực hiện quyền làm chủ của mình, bầu ra một quốc hội lập hiến để soạn thảo lại hiến pháp mới, tạo ra một hệ thống pháp luật chuẩn mực đảm bảo tự do và công bằng cho mọi người?
Cũng cần nhắc lại rằng trên thực tế, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam là người có quyền cao nhất nước, Bộ Chính trị là cơ quan quyền lực tối cao, nhưng trong hiến pháp hiện hành hoàn toàn không có một dòng nào quy định quyền và nghĩa vụ của tổng bí thư, của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam.
Do không bị khống chế bởi hiến pháp và hệ thống tam quyền phân lập, quyền lực của tổng bí thư và bộ chính trị là vô tận nhưng nghĩa vụ, trách nhiệm với dân thì không có.
'Đánh con chuột đừng để vỡ bình...tức là phải giữ cho được cái ổn định'
Dù lãnh đạo giỏi hay dở, phù hợp với ý dân hay không thì những người lãnh đạo vẫn tiếp tục nắm quyền
Ngược lại, công dân có đủ thứ nghĩa vụ: đóng thuế, đi lính,… nhưng lại không có một chút quyền gì, kể cả các quyền tự do căn bản như quyền tự do ứng cử, bầu cử, ngôn luận, báo chí, lập hội, lập đảng, im lặng khi bị buộc tội,…
Trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh Hong Kong đã xuống đường vì họ biết rằng để mất nền dân chủ thì các quyền tự do cũng sẽ mất theo, vì dân chủ là thể chế hóa của tự do.
Chúng ta cần tự do để sống xứng đáng là con người. Thế thanh niên, sinh viên Việt Nam nghĩ gì?
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, một nhà vận động dân chủ hiện sống tại TPHCM.
N.T.T.
Cánh Cò
07-10-2014
Một lần nữa báo trong báo ngoài, lề này lề kia dậy lên tiếng chì tiếng bấc qua câu nói của ông Nguyễn Phú Trọng trong buổi “họp bạn” tại Hà Nội.
Trả lời câu hỏi về tham nhũng, người bạn chí thân của dân trong phòng lạnh mang tên “tiếp xúc cử tri” đã thủ thỉ những điều đáng thương lạ lùng. Ông nói ném chuột phải tránh chiếc bình quý. Ông cho biết “xử lý trước mắt phải nghĩ lâu dài, giữ cho được ổn định để đất nước phát triển. Không phải xới tung lên tất cả, gây mất niềm tin, nghi kỵ lẫn nhau, rối loạn sẽ rất nguy hiểm”.
Ông trân trọng chiếc bình quý và bảo đừng ném chuột. Bình mà vỡ thì phải làm sao? Hãy tìm cách khác mà đánh con chuột phá hại căn nhà Việt Nam. Bác Hồ dạy rồi, đánh chuột phải xem chừng chiếc bình. Làm sao diệt chuột mà vẫn giữ được bình hoa. Tức là phải giữ cho cái ổn định.
Hầy! ông nói hay và lời vàng ý ngọc đáng cho nhân dân tâm niệm.
Trước tiên, hãy nói về chiếc bình.
Ngày 6 tháng 1 năm 1930 chiếc bình mang tên Đảng Cộng sản Việt Nam được bảy người hùn lại để mua tại Hương Cảng. Đó là các ông Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn. Người đứng tên chiếc bình đầu tiên là Trịnh Đình Cửu, sở hữu vào ngày 31 tháng 10 năm 1930, Sau đó chiếc bình được chế tác lại nhiều lần vì phẩm chất ban đầu xem ra thô sơ, khó bắt mắt người xem. Tên chiếc bình từ Đảng Cộng sản Việt Nam đổi lại thành Đảng Cộng sản Đông dương và tờ giấy chứng nhận người sở hữu chiếc bình “quý” được sang tên cho Trần Phú.
Sau nhiều lần nung lên nấu xuống, năm 1951 bình thay tên thành Đảng Lao động Việt Nam và cuối cùng sửa lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 12 năm 1976.
Sau Trần Phú là Hà Huy Tập, Trường Chinh, Lê Duẩn rồi Nguyễn Văn Linh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng . . . thay nhau đứng tên làm chủ chiếc bình ấy cho tới ngày nay.
Thay vì nói “chủ” người cộng sản thấy khó giải thích với dân bởi “chủ” là một danh từ nhơ bẩn, bóc lột nhân công, không lao động nhưng ăn trên ngồi trốc đè đầu cưỡi cổ đám bần nông. Để cho dịu tai và được mùi quyền bính, ba tiếng “Tổng bí thư” được ưu ái đặt lên vai người chủ chiếc bình quý giá ấy cho xứng với tầm cao của một ông vua trên tập thể ba triệu con người.
Chiếc bình qua nhiều đời Tổng bí thư ngày càng sáng bóng lên bởi những khẩu hiệu viết lời tự sướng. Nét họa tiết trên bình ngày một thẫm màu cờ đỏ mà nhiều đứa ganh ghét, xấu mồm nói là màu máu nhân dân. Bình được đặt trang trọng cho người dân thờ lạy thay vì cắm hoa vào đó. Bình được hiến pháp bảo vệ, chỉ một chiếc duy nhất không có cái thứ hai. Duy nhất luôn luôn là của quý. Ý của Bác Hồ nói khi xưa là thế.
Nói tới bình người dân nghĩ tới người chủ của nó là Tổng bí thư. Nói tới Tổng bí thư thì sự liên tưởng tự động vòng sang chiếc bình.
Tổng bí thư không cho ném bình do sự thật này. Ông sợ chiếc bình vỡ toang cũng có nghĩa là ông sợ cho chính bản thân ông trước tiên và sau đó kéo theo cận thần chung quanh. Giống như người dân nghèo sợ cháy nhà, bồ lúa không nói làm chi, cái quần đùi cũng không còn mà mặc. Chiếc bình cần được bảo vệ bằng hai từ ổn định. Ổn định là y như cũ, là không thay không đổi gì cả miễn sao cuộc sống ngắt ngứ của người dân đừng tuột xuống nữa là ổn thôi.
Bình là ông chính ở sự thật này.
Nhưng một sự thật khác khiến người ta có lý khi nghĩ rằng chuột cũng là ông nốt.
Ông không tham nhũng để bị gọi là chuột nhưng bất cứ điều gì có hại cho căn nhà Việt Nam đều quy ra… chuột tất.
Chuột là nhũng nhiễu dân lành là làm luật sai trái cho một thành phần nào đó. Chuột được biết tới như bằng cấp giả mà tiền lương thì thật. Chuột thập thò ở các ban bệ đục khoét công quỹ, gậm nhấm tài nguyên quốc gia. Chuột đi đêm với kẻ thù, chuột nhắm mắt nói lời dối trá. Chuột cắn xé đất đai tổ quốc và không cho người dân biết sự thật phía sau bức màn đen tối mang tên Thành Đô. Chuột phá nát văn hóa, chuột biến thành sư thầy mang nón cối cười hỉ hả, ngồm ngoàm nhậu nhẹt coi nhân gian như đám lên đồng. Chuột nhốt người cô cớ, giết hại lương dân và còn hàng tá điều ám muội.
Xem ra các thứ chuột này vận vào ông nguy hiểm hơn tham nhũng vạn lần. Tham nhũng tới hồi no thì ngừng nhưng quyền bính và sự u mê không bao giờ có giới hạn. Chiếc bình cũng là con chuột lớn nhất trong hàng trăm ngàn con chuột lúc nhúc trong hang.
Ban ngày là bình, ban đêm là chuột.
Chiếc bình quý biến hình như truyện liêu trai. Bình và chuột trước sau như một che chở cho nhau. Bình có đời bình, chuột có đời chuột nhưng nếu bình không có chuột bình chẳng thể sáng màu. Chuột không có bình che thân thì dân đã phang cho một phát.
Vậy thì có gì lạ khi chính bình bảo dân đừng ném chuột?
Và chuột không nhúc nhích vì biết có ai lại ngu si đi giết chính mình?
Đinh Hoàng Thắng
07-10-2014
Sự vênh nhau về thể chế giữa hai nước vẫn còn là lực cản. Không thể tay ga, tay thắng, vừa giương ngọn cờ “lòng tin chiến lược”, vừa hô chống “diễn biến hòa bình”. Sức ép của Trung Quốc nhằm giảm thiểu xung lực quan hệ Việt-Mỹ cũng là yếu tố không thể coi thường. Hiện còn thiếu vắng một cộng đồng ASEAN thống nhất theo đúng nghĩa… Vì vậy, thay đổi não trạng vẫn là vấn đề mấu chốt từ nay, nếu cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ thực sự cho rằng một kỷ nguyên mới đang đón đợi tương lai quan hệ song phương đầy duyên nợ này.
Quốc gia đang bị xếp vào loại kém phát triển (LDC) như Việt Nam, chưa hẳn đã là hay khi thường xuyên phải xuất hiện trên các trang nhất báo chí và truyền thông quốc tế. Đặc biệt là xuất hiện trong tương quan giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, hai nước lớn được cho là sẽ quyết định vận mệnh tương lai của khu vực và thế giới trong thế kỷ 21. Dù sao mặc lòng, sau 40 năm cấm vận, tin Hoa Kỳ sẽ bán vũ khí để giúp Việt Nam bảo vệ biển đảo, vẫn đánh dấu một bước ngoặt trong quan hệ hai nước. Quyết định lịch sử này đã được Ngoại trưởng John Kerry thông báo với đồng nhiệm Phạm Bình Minh trong những ngày đầu tháng Mười vừa qua tại Washington DC. Nguồn tin từ chính quyền Mỹ cho biết Hoa Kỳ sẽ bán máy bay tuần tra trên biển loại P3 Orion từng được quân đội nước này sử dụng.
Cân bằng địa-chính trị
Tuy nhiên, P3 chưa hẳn là vũ khí vạn năng. Vấn đề mấu chốt hơn là đừng để sau khi mua máy bay do thám về, thần Kim Quy lại tái hiện và kêu lên rằng, giặc đang ở sau lưng nhà vua đấy! Bởi lẽ giữa ngoại xâm và nội xâm, hai thách thức ấy đều gay gắt như nhau. Tham nhũng, mất dân chủ, đời sống văn hóa-giáo dục-kinh tế xuống cấp… những đe dọa này ai dám nói ít nguy hiểm hơn các hành động ngang ngược và hiểm hóc của Trung Quốc trên biển đảo hiện nay? Quốc dân đồng bào trong/ngoài nước ngày càng bức xúc trước việc Bắc Kinh mở rộng đảo Gạc Ma lên 100 ngàn m2. Cùng với cái gọi là “khai hoang” các bãi đá Chữ Thập, Tư Nghĩa, Châu Viên, Gaven và Subi (thuộc quần đảo Trường Sa), Trung Quốc đã làm biến dạng các thực thể địa lý đáng ra là những đảo tiền tiêu của Việt Nam trên Biển Đông thành dãy hành lang trổ ra đại dương, tựa như một cụm các hàng không mẫu hạm không thể đánh chìm của họ.
Trong bối cảnh ấy, tư duy và hành động một cách thấu đáo hơn để kiến tạo nên một sức mạnh mềm nhằm quy tụ các lực lượng cân bằng và đối trọng trong khu vực là điều cấp bách. Trước sự cạnh tranh gay gắt, hợp tác cầm chừng hay mở rộng bang giao trong quan hệ Trung-Mỹ vào thập niên tới, Việt Nam làm thế nào để giữ vững được độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và biển đảo, vẫn là bài toán lưỡng nan, cho dù chúng ta có trong tay bất cứ vũ khí hiện đại nào. Về mặt này, hẳn nhiên một mình yếu tố địa-chính trị của Việt Nam chưa đủ. Sự vênh nhau về thể chế giữa Việt Nam với Hoa Kỳ còn là lực cản. Sức ép của Trung Quốc nhằm giảm thiểu xung lực trong quan hệ Việt-Mỹ cũng là yếu tố không thể coi thường. Mặt khác, hiện vẫn còn thiếu vắng một cộng đồng ASEAN thống nhất theo đúng nghĩa. Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và Hàn Quốc chưa hoàn thành xong quá trình định chế hóa chương trình hành động để đối phó với các thách thức liên khu vực.
Đa phần giới quan sát quốc tế dịp này đều công nhận, tuyên bố nới lỏng cấm vận đánh dấu một bước tiến lớn trong liên hệ quốc phòng hai nước theo thỏa thuận “đối tác toàn diện” ký kết năm 2013. Dấu hiệu tích cực này cho thấy sự tin cậy lẫn nhau mang tầm chiến lược giữa Washington và Hà Nội đang ngày càng gia tăng. Sự kiện này không chỉ giúp tăng cường quan hệ an ninh và quốc phòng, mà cả quan hệ chính trị giữa hai đối tác đặc biệt. Reuters dẫn lời một quan chức ngoại giao Mỹ cho rằng, dỡ bỏ “nhẹ” lệnh cấm bán vũ khí là bước đầu tiên cực kỳ quan trọng, giúp thúc đẩy các quan hệ hợp tác khác trong tương lai. Quan chức này cũng tiết lộ, Mỹ đã tăng ngân sách cho chương trình bán thiết bị quân sự nước ngoài (FMS). Chương trình này sẽ hỗ trợ Việt Nam mua sắm các thiết bị quốc phòng cần thiết.
Tuy nhiên, sự cân bằng giữa Việt Nam với các nước lớn chỉ có thể trở thành sức nặng trên bàn cờ địa-chính trị nếu “lòng tin chiến lược” của các bên từ nay vượt được lên trên làn ranh “ý thức hệ”. Sự vênh nhau về thể chế giữa hai nước vẫn còn là lực cản. Không thể tay ga, tay thắng, vừa giương cao ngọn cờ “lòng tin chiến lược”, vừa hô hoán chống “diễn biến hòa bình”. Thay đổi não trạng, vì vậy, là vấn đề mấu chốt từ nay nếu cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ thực sự cho rằng một kỷ nguyên mới đang đón đợi tương lai mối quan hệ song phương đầy duyên nợ này. Hoa Kỳ, hơn một lần đã tuyên bố ở mức cao nhất (các đời Tổng thống Mỹ gần đây đều cam kết trực tiếp), tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trục chống phát xít Xô-Mỹ-Anh trước đây, mặt trận toàn cầu chống ISIS hiện nay (có tin Mỹ cũng đang vận động Trung Quốc tham gia) đã và đang là những giá trị làm nên mảng sáng trong lịch sử nhân loại.
Thỏa thuận Mỹ-Việt vừa công bố thật ra vượt ra ngoài khá xa câu chuyện vũ khí. Đây là câu chuyện vật đổi sao dời trong bang giao quốc tế ở khu vực và cả trên cấp độ toàn cầu. Cái dàn khoan 981 của Trung Quốc cắm vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cũng như cách hành xử bất chấp đạo lý và bất tuân luật pháp quốc tế của Trung Quốc trong, trước và cả sau “thời gian giàn khoan” làm thế giới phải giật mình. Các nhà chiến lược đang tập trung tìm câu trả lời: Trung Quốc muốn gì? Cái vạc dầu châu Á bị “hun” thêm như báo hiệu sự kết thúc của kỷ nguyên Thái Bình Dương yên tĩnh. Thế nhưng chính vào lúc “dầu sôi lửa bỏng” này, từ EU đến Nhật Bản, từ Ấn Độ đến Hàn Quốc và Úc châu đều lại chìa bàn tay tin cậy cho Việt Nam. Câu hỏi “Tại sao Việt Nam” một lần nữa lại thu hút sự quan tâm của nhân loại? (“Why Vietnam?” là hồi ký về chiến tranh Việt Nam).
Di sản như một minh triết
Cách đây hơn 150 năm, chủ yếu bằng ngoại giao, vua Tự Đức cũng đã kiên trì nổ lực nhằm cứu vãn chủ quyền đất nước, nhưng không thành công. Trong Luận văn tiến sĩ của Yoshiharu Tsuboi, giảng viên Đại học Tokyo đã đúc kết bốn nguyên nhân khiến Việt Nam lúc bấy giờ không đương đầu nổi với các áp đảo hung hãn từ bên ngoài. Lý do đầu tiên là lòng dân, yếu tố quan trọng nhất quy tụ mọi lực lượng quốc gia, bị ly tán. Những lý do kế tiếp là sự yếu kém về kinh tế, sự tụt hậu về chính trị và cuối cùng là gánh nặng về di sản. Cả bốn yếu tố này đã hủy hoại sức đề kháng của đất nước, khiến cho thế quân bình với hai cường quốc lúc bầy giờ là Pháp và Trung Hoa bị sụp đổ. Thay vì vượt qua được cơn nguy khốn, hoạt động ngoại giao của chính quyền (vừa cầu hòa với Pháp, vừa triều cống Trung Hoa) đã dẫn đến các xung đột mà chiến trường lại diễn ra ngay trên đất nước Việt Nam[2].
Dường như có một số điều nào đó từ các nguyên nhân “gốc rễ” kể trên mà tận cho đến ngày hôm nay chúng ta vẫn còn vướng bận chưa giã từ được dĩ vãng[3]. Giờ đây, nếu nhìn Việt Nam không như một thực thể chính trị, mà xét từ một góc độ khác – mổ sẻ sâu hơn vào cái bản thể xã hội – nhìn thấu cái “tạng” của quốc gia-dân tộc mình, chúng ta sẽ nhận ra rằng, sự thành bại trong việc đối phó với các thách thức “định mệnh” tới đây vẫn nằm sâu trong bản sắc văn hóa. Vua Tự Đức và các lão tướng thời ấy đã bị đánh gục không phương cứu chữa là do tất cả đều bị cầm tù bởi cái ý thức hệ và nền văn hóa chính trị quá lạc lõng. Và kết cục là Việt Nam đã tụt hậu hơn đối thủ cả một thời đại. Không thua mới là chuyện lạ và có thể coi các bậc tiên tổ từng chiến bại ấy chính là “những anh hùng lạc thời đại”(từ của Nguyên Ngọc).
Từ di sản quá khứ, cái “minh triết bảo thân” đang thúc đẩy chúng ta phải gấp rút tiến lên cùng thời đại. Thật là quá bất cập nếu quản trị đất nước bằng tư duy của các thế kỷ trước. Khó có thể phát huy hiệu quả các loại quan hệ, dù là “đối tác chiến lược” hay “đối tác toàn diện” với cộng đồng quốc tế nếu bản thân quốc gia lại theo đuổi một pe-rơ-đam[4] lạc lõng. Thật khó thuyết phục, khi trong bang giao, chúng ta kêu gọi áp dụng các quy chuẩn của pháp quyền như viện dẫn Hiến chương LHQ, Luật UNCLOS hay COC… nhưng lại chưa thật sự chú ý ưu tiên các giá trị phổ quát ấy trong nội trị hay trong đàm phán các hiệp định quốc tế như WTO hay TPP. Thế kỷ 21 này là thế kỷ của tự do và sáng tạo. Mọi lý thuyết và mô hình, kể cả những thứ đã làm nên phép lạ ở các nước Nhật Bản, Tây Âu hay Hoa Kỳ cũng đều đang được điều chỉnh lại và tái cấu trúc.
Ngoại trưởng John Kerry trong buổi gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, đã ca ngợi Việt Nam ngày nay là một đất nước hiện đại. Tuy nhiên, là người trong cuộc, chúng ta hiểu hơn ai hết, khoảng cách giữa một Việt Nam còn phải đối mặt cùng lúc với nhiều thách thức kép và một Việt Nam đàng hoàng, thịnh vượng trong tương lai. Trước đây phần tư thế kỷ, nhà thơ Nguyễn Duy từng viết, sau lưng chúng ta là những kỷ niệm bi tráng, trước mặt chúng ta là con đường gập ghềnh. Vậy mà bao nhiêu trái tim ấy vẫn nhiễm bệnh “đập cầm chừng”? Bao nhiêu khối óc ấy vẫn mắc chứng “khối u tự mãn”? Chúng ta hãy mau chóng hành động khẩn trương, đừng ngồi yên ca mãi khúc nguyện cầu “đánh thức tiềm lực!” Đừng lặp lại lịch sử để rồi bị coi là “những anh hùng lạc thời đại”, càng không thể để láng giềng phương Bắc gọi chúng ta là “những đứa con hoang đàng”./.
—–
Ghi chú:
[1] Tác giả đề xuất dùng pe-rơ-đam như một từ vay mượn, vì không nên và không thể chuyển ngữ “paradigm” /´pærə¸daim / thành “mô hình”, “hình mẫu”, “thế giới quan”, “hệ biến hóa”, “niệm giới”… và còn có thể liệt kê thêm nhiều nghĩa khác nữa.
[2] Yoshiharu Tsuboi: “Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa” 1847 – 1885, NXB Tri thức, năm 2011, tr. 376- 383
[3] Yoshiharu Truboi, sđd, tr. 414-416
[4] Tác giả đề xuất dùng pe-rơ-đam như một từ vay mượn, vì không nên và không thể chuyển ngữ “paradigm” /´pærə¸daim / thành “mô hình”, “hình mẫu”, “thế giới quan”, “hệ biến hóa”, “niệm giới”… và còn có thể liệt kê thêm nhiều nghĩa khác nữa.
(Tin Nóng) Trang web Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết đại tướng Mỹ Martin Dempsey nói tại TP.HCM rằng nếu Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam, ông khuyến khích Mỹ nên cung cấp vũ khí để gia tăng năng lực của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Đại tướng Mỹ Martin E. Dempsey thăm Hải quân vùng 3 Việt Nam tại Đà Nẵng ngày 15.8. Ông cho biết nếu Mỹ dỡ bỏ cấm vận, ông sẽ đề xuất cung cấp khí tài để gia tăng khả năng cho hải quân Việt Nam - Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ
“Lời khuyên quân sự của tôi là nếu lệnh cấm này được dỡ bỏ, chúng ta nên bắt đầu với các khí tài có thể giúp gia tăng năng lực của Hải quân Nhân dân Việt Nam trong vấn đề hàng hải. Điều này sẽ tạo ra một cuộc tranh luận về điều này, nhưng tôi nghĩ rằng lĩnh vực hàng hải là mối quan tâm chung lớn nhất của chúng tôi hiện nay”, đại tướng Martin E. Dempsey, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, nói.
Theo ông, các khí tài Mỹ có thể cung cấp cho Hải quân Việt Nam có thể sẽ đa dạng, từ những loại vũ khí trong lĩnh vực tình báo, giám sát và trinh sát, tàu tuần duyên, thiết bị tìm kiếm cứu nạn… đến những loại mà Hải quân Việt Nam chưa được trang bị.
Đại tướng Dempsey bình luận rằng, Việt Nam - nền kinh tế lớn thứ 13 trên thế giới - có vị trí duy nhất và quan trọng nằm ở Đông Nam Á, là bàn đạp của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
"Tôi thấy Việt Nam chiếm một khu vực địa chiến lược quan trọng. Về quản lý tài nguyên biển của mình và quản lý các lãnh thổ tranh chấp, gợi ý của tôi là Việt Nam có thuận lợi trên Biển Đông”, ông Dempsey bình luận.
Vào năm 2050, có đến 9 tỉ người trên trái đất, trong đó 7 tỉ người sống ở vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Và “Nơi nào có con người, nơi đó có vấn đề”, ông Dempsey nói, theo báo New York Times.
Website Bộ Quốc phòng Mỹ cũng cho biết ngày càng nhiều ý kiến từ các quan chức Mỹ lẫn từ các tổ chức phi chính phủ của Mỹ yêu cầu dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, vốn đặt ra cách đây hơn 30 năm trước.

Đại tướng Mỹ Martin E. Dempsey thăm Hải quân vùng 3 Việt Nam tại Đà Nẵng ngày 15.8 - Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ

Chiến sĩ sư đoàn không quân 372 đón chào đại tướng Mỹ Martin E. Dempsey tại Đà Nẵng ngày 15.8.2014 - Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ

Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, đại tướng Martin E. Dempsey xem một máy bay tiêm kích huấn luyện của sư đoàn không quân 372 tại Đà Nẵng ngày 15.8 - Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ

Đoàn đại tướng Mỹ Martin Dempsey thăm cơ sở xử lý dioxin tại sân bay Đà Nẵng, ngày 15.8 - Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ
Tin Nóng
Tô Văn Trường
Dân chủ là bất khả diệt và bất khả kháng, có cơ sở đặt trên khát vọng tự nhiên của con người bất kể họ thuộc văn hóa phương Đông hay phương Tây. Mọi luận điệu bôi nhọ phong trào sinh viên và người dân đòi dân chủ ở Hồng Kông cho rằng đây là bị phương Tây lôi kéo, giật dây... đều chỉ là vu cáo trơ trẽn.
Cách đây gần 150 năm, nhà triết học và kinh tế học nổi tiếng người Anh John Stuart Mill đã viết trong cuốn sách “On Liberty” (Bàn về tự do): “Con người phải được tự do hình thành ý kiến và trình bày quan điểm của mình. Quyền tự do chính là điều kiện văn hóa cần thiết cho sự phát triển và bộc lộ tài năng của con người không chỉ vì lợi ích của cá nhân con người mà còn vì lợi ích lâu dài và phát triển bền vững toàn xã hội. Điều mong muốn bây giờ là người cầm quyền phải được thống nhất với nhân dân, quyền lợi và ý chí của họ phải là quyền lợi và ý chí của quốc gia”.
Cuộc đấu tranh đòi dân chủ ở Hồng Kông
Nhà báo Kỳ Duyên bình luận: “Thế giới đang theo dõi cuộc đấu tranh đòi dân chủ của giới trẻ Hồng Kông, một trong ba trung tâm tài chính lớn của thế giới, với rất nhiều khâm phục: Khâm phục ý thức về cuộc sống tự do, dân chủ trong một xã hội tôn ty luật pháp. Khâm phục sự khẳng định khí phách tuổi trẻ. Khâm phục về tính chuyên nghiệp và văn minh của một cuộc đấu tranh. Cuộc đấu tranh của giới trẻ Hồng Kông làm rung chuyển Bắc Kinh. Và thế giới đang theo dõi xem, cách ứng xử, giải pháp thế nào của nhà cầm quyền có tính cách “bá quyền”này trước đòi hỏi dân chủ của giới trẻ, cũng là của những thế hệ tương lai với vận mệnh của mình, ở một thể chế một quốc gia hai chế độ.”
Trong các quyền con người thì tự do là một quyền tự nhiên và là quyền cơ bản của con người. Một nhóm nhỏ phản đối thì có thể chỉ là bất đồng chính kiến nhưng khi đông đảo dân chúng đã lên tiếng thì chính sách chắc chắn có vấn đề, và tự do chắc chắn bị vi phạm. Nhà đương cục khôn ngoan thì lắng nghe, đàm thoại, tháo gỡ. Còn liều lĩnh đàn áp thì có nghĩa coi dân chúng là thù địch. Khi biểu tình ôn hòa mà dùng vũ lực thì là hạ sách, không khác gì lửa đổ thêm dầu.
Ngay từ năm 2005, người dân Hồng Kông đã biểu tình phản đối chính sách của Trưởng đại diện Hồng Kông khiến Đổng Kiến Hoa phải từ chức. Cuộc biểu tình lần này nổ ra là do nhà cầm quyền Trung Quốc muốn chỉ định việc bầu cử Trưởng đại diện Hồng Kông theo danh sách đã “duyệt trước” và thông báo sẽ thẩm tra những người muốn tham gia ứng cử vào vị trí nói trên.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể chịu thua người Hồng Kông, tất nhiên họ sẽ, và đã phản ứng bằng mọi thủ đoạn. Trên công luận cho biết là đã có những nhóm côn đồ chửi bới sinh viên nhóm “chiếm trung tâm”, giật, xé các biểu ngữ của họ, cảnh sát không làm gì được. Nga ủng hộ nhà cầm quyền Bắc Kinh, dễ hiểu thôi, nhưng điều này chứng tỏ là một Nhà nước có thể đổi tên nhưng nếu không thay đổi được thể chế toàn trị thì đâu vẫn hoàn đấy. Nhà nước Trung Quốc có thể vẫn ứng xử như họ vẫn làm vì bản chất họ là như vậy, nhưng họ phải thấy rằng toàn trị không được hoan nghênh ở Hồng Kông.
Qua thông tin đại chúng thì thấy lực lượng biểu tình cố giữ trong khuôn khổ ôn hòa và hợp pháp. Liệu giới cầm quyền có đàn áp không. Cách nào đó thì chúng ta chưa biết và không thể võ đoán – nhưng chắc có lẽ là Trung Quốc sẽ không dễ, và dám lặp lại sự kiện đàn áp đẫm máu như ở Thiên An Môn 1989.
Về lý, chắc chắn thua rồi vì người biểu tình chỉ đòi bầu cử tự do còn chính quyền chỉ cho bầu theo danh sách ứng cử do mình đề ra (kiểu như “Đảng cử dân bầu” ở ta) thì không thể được dư luận đồng tình. Nghe nói, tuy phong trào biểu tình được đông đảo các tầng lớp nhân dân Hồng Kông ủng hộ, nhưng giới kinh doanh bị thất bát (do nhiều hoạt động bị trở ngại) có phản ứng và đã có những cuộc “phản biểu tình” nhưng lực lượng không đáng kể.
Lãnh đạo Trung Quốc đang rất đau đầu vì rõ ràng chính sách “một nước, hai chế độ” của Đặng Tiểu Bình đang phá sản, hay nói đúng hơn là Trung Quốc đang ẵm gọn “một món di sản tẩm thuốc độc” và nguy cơ tấm gương đòi dân chủ của Hồng Kông sẽ lan ra ở nhiều nơi và đặc biệt là Đài Loan đã kịp thời rút ra được bài học đắt giá về sự lừa bịp của “một nhà nước, hai chế độ”!
Nhìn ra Thế giới và Việt Nam
Nhìn ra thế giới, các cuộc nổi dậy của dân chúng làm cách mạng có nhiều sự kiện trong lịch sử như cách mạng Pháp năm 1789 chiếm nhà tù Bastille. Người Nga đánh chiếm lâu đài mùa Đông, mở đầu là những phát đại bác bắn đi từ pháo hạm Potemkine, trong cách mạng tháng mười năm 1917. Đến năm 1989 có cuộc lật chính quyền Xô Viết từ tay Gorbachev của Eltsin năm 1989, chính thức xoá bỏ chế độ cộng sản của Liên xô. Ở Đức, có sự kiện phá đổ bức tường Brandenburg ngăn cách Đông và Tây Berlin năm 1990, và thống nhất hai nước Đức sau đó, v,v.
Đất nước ta từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, đã trải qua các cuộc chiến để lại biết bao di chứng tàn phá của chiến tranh. Đất nước được thống nhất từ năm 1975 nhưng kinh tế xã hội vẫn còn nhiều tụt hậu so với các nước trong khu vực. Lòng dân vẫn chưa yên, và quyền tự do của người dân vẫn còn nhiều hạn chế.
Khi bàn về dân chủ, thường người ta lại chạnh nhớ tới Quốc hiệu cũ và mới, về cái tên ”Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” mộc mạc và chẳng ”viển vông”. Ngày đó, khi đổi Quốc hiệu thì cũng là lúc ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có câu nói nổi tiếng: “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”. Vế trên đã đổi thì vế dưới… đổi luôn thành độc lập – ”tự lo” – hạnh phúc! Quả nhiên, bây giờ ứng nghiệm. Cả nội tình và quan hệ quốc tế, chúng ta đều đang phải trần lực ra … “tự lo”! Ở phạm trù nhỏ nhoi của từng cá nhân cũng cứ phải bo bo, vun vén, đắp điếm cho mình!
Thể chế dân chủ chỉ là một trong những khía cạnh của tự do. Khi mất dân chủ, người ta có thể cấm đoán, áp đặt nhiều thứ. Nhưng, với quyền tự do thì có một phạm trù mà không thời nào có thể cấm đoán, áp đặt nổi – đó là TỰ DO TƯ TƯỞNG! Không thể có thứ luật lệ, cảnh sát nào có thể len lỏi vào trong đầu từng con người để mà chỉ đường vẽ lối được. Cái quyền thiêng liêng mà tạo hóa trao cho đó, nó xuyên suốt lịch sử loài người. Và, từ đó, nó chuyển thành hai hình thái ứng xử: với một số người có đủ năng lực, điều kiện thì phản bác, phản kháng. Số còn lại là những người không đủ năng lực và điều kiện để phản ứng, hở miệng ra là người ta “suỵt!”, đành âm ỉ, ngấm ngầm dạng “bằng mặt mà chẳng bằng lòng”, mà số này lại rất đông, và đó chính là nguyên nhân để nẩy nòi cái sự “nghĩ một đằng, làm một nẻo” mà ngày nay nhan nhản khắp đất nước!
Việt Nam là nước đi sau, phải biết cái lợi và cái bất lợi của nước đi sau. Biểu tình Hồng Kông cho thấy dân chủ là điều bất khả diệt, song làm được như Hồng Kông chắc thế giới này chỉ có một, dù rằng không thể 100% đảm bảo biểu tình Hồng Kông sẽ thành công.
Vậy nước đi sau như Việt Nam nên rút ra bài học gì? Bài học số 1 và sẽ là phúc lớn cho đất nước là người cầm quyền cần phải hiểu dân chủ là bất khả diệt và bất khả kháng, vì lẽ này nên chủ động mở đường và dẫn dắt đất nước vào con đường dân chủ: “Cải cách từ trên xuống và từ trong đảng ra”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Trung đã nhiều lần phân tích kiến nghị làm được như thế tất cả đều thắng, trong đó có cả Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng của dân tộc, với chung cuộc là đất nước Việt Nam yêu dấu của chúng ta toàn thắng. Riêng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam chủ động cải cách như thế sẽ là thắng lợi “kép” đối với Đảng.
1. Đảng trở thành đảng của dân tộc.
2. Đảng tranh thủ được cả đất nước về phía mình.
Thay cho lời kết
Dân chủ là bất khả diệt và bất khả kháng. Cuộc đấu tranh của Hồng Kông vừa làm bộc lộ những “tử huyệt” của giới cầm quyền Bắc Kinh nói riêng và thể chế toàn trị nói chung, vừa có tác dụng tích cực đối với nhân dân ta trong cuộc đấu tranh thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc vừa cung cấp những kinh nghiệm quý báu về chuyển đổi thể chế không đổ máu.
Thực hiện dân chủ là thống nhất được lòng dân tạo nên sức mạnh vô địch để xây dựng và bảo vệ đất nước. Sự kiện Thiên An Môn 1989 là cuộc tập dượt đấu tranh cho dân chủ đã trả giá đẫm máu bằng tính mạng của hàng nghìn người dân và sinh viên vô tội. Chúng ta hãy theo dõi sát sao tình hình diễn biến ở Hồng Kông.
T. V. T.
Tờ JoongAng Daily (Hàn Quốc) nhận định, bức điện mừng này là dấu hiệu mới nhất chứng tỏ mối quan hệ Trung - Triều đang xấu đi.
Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un và các quan chức cấp cao khác của nước này đã gửi điện mừng tới các nhà lãnh đạo Trung Quốc, nhân kỉ niệm 65 ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (01/10).
Tờ JoongAng Daily dẫn thông tin từ Hãng thông tấn nhà nước Triều Tiên KCNA cho hay, bức điện mừng của Kim Jong Un gửi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có đoạn: "Người dân chúng tôi hi vọng rằng người dân Trung Quốc sẽ đạt được những thành công to lớn hơn nữa đối với sự phát triển và thịnh vượng của đất nước. Chúng tôi chúc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thịnh vượng, người dân được hạnh phúc".
Theo tờ này, bức điện dường như khá mờ nhạt so với những bức điện mừng mà Triều Tiên gửi tới các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong những dịp tương tự như thế này trước đây. Điều đáng chú ý nhất là, Triều Tiên đã không nhắc tới "mối quan hệ Trung - Triều", nhằm thể hiện sự gần gũi với Bắc Kinh, giống như mọi khi.
Trong bức điện mừng cũng nhân dịp này hồi năm ngoái, Kim Jong Un đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cần phải phát triển hơn nữa quan hệ song phương, được xây dựng bằng máu và sự hi sinh của các thế hệ đi trước.
Còn năm 2012, Kim Jong Un đã nhắc tới tầm quan trọng của việc phát triển tình hữu nghị giữa 2 quốc gia bằng cách giữ gìn di sản mà 2 cố lãnh đạo Triều Tiên đã để lại.
Kim Jong Un "mất tích", người nắm thực quyền ở Triều Tiên là ai?
The Diplomat dẫn thông tin từ NKIS cho hay, Kim Yo Jong có thể đang nắm quyền lãnh đạo Triều Tiên thay anh trai mình trong thời gian ông này điều trị bệnh.
Các quan sát viên Triều Tiên cho rằng, mối quan hệ giữa Bình Nhưỡng và Bắc Kinh đã nguội lạnh hơn trong vài năm trở lại đây, đặc biệt là sau vụ thử hạt nhân của Triều Tiên năm 2013. Việc nhân vật được cho là nắm quyền lực thứ 2 ở Triều Tiên Jang Song Thaek, một người có mối quan hệ khá thân thiết với Trung Quốc, bị xử tử cũng góp phần khiến Bắc Kinh khó chịu.
BÀI LIÊN QUAN
Báo Hoàn Cầu "bênh" Kim Jong-un và bác tin đồn quản thúc tại gia
Vì sao Nga nhiệt tình làm "trung tâm hòa giải" giúp Triều Tiên?
Vì sao Triều Tiên nắm tay Nga?
Hồi tháng trước, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Putin đều gửi điện chúc mừng Triều Tiên nhân kỉ niệm 66 năm ngày Quốc khánh nước này. Tuy nhiên, theo JoongAng Daily, điện mừng của ông Putin được đăng trên trang nhất của tờ Rodong Sinmun, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Lao Động Triều Tiên, còn bức điện của ông Tập chỉ được đăng trên trang thứ ba.
Trong khi đó, tờ Chosun (Hàn Quốc) lại dẫn lời các chuyên gia cho rằng, sự khác biệt lần này có thể là phản ứng của Bình Nhưỡng đối với việc Trung Quốc đã phá bỏ công thức truyền thống trong các bức điện mừng ngày Quốc Khánh Triều Tiên: đề cập tới mối quan hệ song phương.
Theo tờ này, khi ông Hồ Cẩm Đào vẫn còn đương nhiệm, Bắc Kinh luôn đề cập tới "truyền thống, mối quan hệ trong tương lai, tình hữu nghị và hợp tác" giữa 2 bên mỗi khi gửi điện mừng Bình Nhưỡng. Tuy nhiên, đến thời ông Tập thì "công thức" này đã đổi khác.
Nguyệt Quỳnh
Trong đêm thứ sáu ngày 26/09/14 vừa qua tại Quảng trường Dân sự (Civic Square), tuổi trẻ Hồng Kông đã chứng tỏ sự dũng cảm của mình khi đứng cùng nhau, kiên định đấu tranh vì một nền dân chủ thực sự cho Hồng Kông. Lời nhắn gởi của lãnh đạo sinh viên 17 tuổi Joshua Wong khi anh bị cảnh sát lôi kéo đi đã làm rung động trái tim người Hồng Kông và thế giới. Những thanh niên sinh viên khác đã cùng hát to, hô vang những khẩu hiệu và cố giành giật để cứu anh thoát khỏi tay cảnh sát nhưng vô hiệu.
Tôi tin nhiều bạn trẻ Việt Nam cũng đã xúc động khi đọc lời nhắn gởi của Joshua Wong:
"Tương lai của Hồng Kông tùy thuộc vào bạn, bạn và bạn".
Cảnh sát đã xịt hơi cay vào người biểu tình. Một số sinh viên bị thương, khi bị dẫn ra ngoài, họ bật khóc. Hàng trăm những sinh viên trẻ khác cùng đứng khoác tay, khóa vào nhau khi cảnh sát vây quanh họ bằng khiên chắn kim loại, một số đã hô vang "bất tuân dân sự". Những ngày sau đó, hàng ngàn, chục ngàn, trăm ngàn người dân Hồng Kông đã kéo đến cùng biểu tình để hỗ trợ các sinh viên này. Quang cảnh tràn ngập người trên các đường phố của Hồng Kông đã gợi lại nỗi khát khao về một nền dân chủ của các sinh viên Thiên An Môn 25 năm về trước. Nỗi khát khao này được ghi trong bản tuyên ngôn của sinh viên, trí thức và người lao động đã tham gia phong trào Thiên An Môn:
Dù những đôi vai của chúng ta vẫn không đủ sức mạnh, dù cái chết đối với chúng ta sẽ rất khắc nghiệt, chúng ta phải chấp nhận hy sinh cuộc sống, chúng ta không có chọn lựa nào khác khi lịch sử đòi hỏi chúng ta phải làm điều đó… Với vong linh của người đã khuất – chúng ta đấu tranh để được sống. Với sự tuyệt vọng để cứu lấy cái đất nước ích kỷ và không có nhuệ khí này – chúng ta dâng hiến bản thân mình. Nếu chúng ta không sẵn sàng để hy sinh thì còn ai sẽ làm điều đó đây?
Joshua Wong và tuổi trẻ Hồng Kông làm chúng ta nhớ đến hoàn cảnh đất nước mình, nhớ đến những người trẻ Việt Nam với một niềm hãnh diện xen lẫn một chút xót xa. Xót xa vì những người trẻ của chúng ta, những Nguyễn Đình Hà, Huỳnh Phương Ngọc, Đinh Nhật Uy, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên, Đỗ Thị Minh Hạnh… vẫn còn rất đơn độc. Chúng ta chưa có được hàng ngàn những người trẻ cùng đứng khoác tay nhau trên đường phố như những người bạn của Wong. Chúng ta cũng chưa có được con số hàng ngàn người đổ ra đường để hỗ trợ các bạn trẻ này đòi dân chủ, dù nỗi khát khao dân chủ, nỗi khát khao được sống với những phẩm chất của tự do và quyền con người của chúng ta cũng cháy bỏng không thua gì người dân Hồng Kông. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang có vô số điều để hãnh diện về tuổi trẻ Việt Nam. Giữa lao tù, giữa cô đơn, giữa những trấn áp hung bạo, những người trẻ Việt Nam vẫn âm thầm làm phần nhiệm vụ mà lịch sử giao phó cho họ. Dù những đôi vai ấy vẫn chưa đủ sức mạnh, nhưng các bạn đó đã cho chúng ta thấy rõ sự kiên định về điều họ đã chọn lựa. Họ nhận trách nhiệm với chính thế hệ của mình. Tôi muốn được nói đến những hành động đấu tranh bền bỉ của các thanh niên Công giáo và Tin Lành.
Ngày 3/9/14 vừa qua, chúng ta lại nhận được tin tù nhân lương tâm Nguyễn Đình Cương đã tuyệt thực để phản đối các vi phạm của quản giáo trại giam. Theo gia đình anh Cương cho biết anh bị kỷ luật và bị cùm chân là do đã lên tiếng để bảo vệ một tù nhân cùng phòng đã bị quản giáo đánh đập. Suốt từ năm 2011 cho đến nay, từ khi các bạn trẻ này bị bắt giam, chúng ta vẫn không ngừng nghe nói về cách hành xử và những hoạt động đấu tranh của họ, xin đơn cử một vài trường hợp:
Sau nhiều năm bị bắt giam, tù nhân lương tâm Đặng Xuân Diệu vẫn không chấp nhận mặc áo tù.
Ngày 21/6/13 anh Trần Minh Nhật tuyệt thực để phản đối cán bộ trại giam Nghi Kim liên tục xúc phạm nhân phẩm và tính mạng đối với chính anh.
Tháng 8 năm 2013, anh Trần Hữu Đức bị ban giám thị trại tù K3 Phú Sơn 4, tỉnh Thái Nguyên “vô cớ còng tay, còng chân và biệt giam suốt 9 ngày đêm”. Hay tin này, 4 tù nhân lương tâm khác gồm các anh Hồ Văn Oanh, Trần Minh Nhật, Nguyễn Văn Thanh và Chu Mạnh Sơn đã đồng loạt tuyệt thực để phản đối. Nhờ vậy, Trần Hữu Đức mới hết bị còng và biệt giam.
Tại trại giam Nam Hà, do không cúi chào cán bộ, Paulus Lê Sơn đã bị hai quản giáo dùng dùi cui đánh đến gãy chân. Tù nhân Vi Đức Hồi đã phản đối hành vi dã man này của công an khiến ông bị kỷ luật rồi bị biệt giam. Tuy nhiên, sau đó cũng chính Lê Sơn là người đã xin cho viên quản giáo hành hung anh khỏi bị kỷ luật.
Và cách đây không lâu, hai sinh viên Trần Minh Nhật và Trần Hữu Đức đã tuyệt thực để đòi quyền được thực hành niềm tin tôn giáo của tù nhân trong trại tù.
Trong một xã hội mà sự tử tế trở nên khan hiếm, người ta chợt tìm thấy niềm an ủi và hy vọng từ những tù nhân trẻ tuổi này. Họ gồm có mười bảy người, bị bắt gần như đồng loạt, chỉ cách nhau trên dưới một tháng. Họ là những thanh niên đi cứu trợ đồng bào lũ lụt, góp nhặt ve chai gây quỹ, đi lượm nhặt các thai nhi bị vất bỏ, vận động các bà mẹ không nạo phá thai, giúp đỡ những thanh niên cai nghiện, v.v. Vậy mà những người trẻ này đã và đang phải gánh chịu những bản án bất công, có người phải chịu đến 13 năm tù như trường hợp hai anh Hồ Đức Hoà và Đặng Xuân Diệu.
Những thanh niên Công giáo và Tin Lành này là hiện thân của những giá trị mà chúng ta muốn vực dậy. Điều đáng nói ở đây là chúng ta có đang thờ ơ với những hy sinh và nỗ lực của họ hay không?
Một nhà văn đã nói: nhân cách của một con người được nhìn thấy rõ hơn khi họ bị xô ngã. Chúng ta đã bị xô ngã, tổ quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam cũng đã bị xô ngã đến sấp mặt, chúng ta đã làm gì để vực dậy chính mình?
Trong buổi biểu tình ngày 29/9 vừa qua ở Hồng Kông, một tài xế lái taxi 55 tuổi, ông Edward Yeung đã nói với hàng rào cảnh sát chống bạo động rằng: “Nếu tôi không đứng lên hôm nay, tôi sẽ ghê tởm bản thân mình trong tương lai. Ngay cả khi phải bị khép tội hình sự vì hành động này thì đó sẽ là một điều vinh quang”.
Joshua Wong, tức Hoàng Chi Phong, không chỉ làm rung chuyển Hồng Kông, mà có lẽ anh còn đánh thức cả thế giới, bao gồm luôn giới trẻ Việt Nam và tầng lớp thống trị. Lãnh tụ hay minh chúa đâu nhất thiết phải là người cực kỳ "tài cao hiểu rộng", không nhất thiết phải có một "thành tích lẫy lừng", ... chỉ cần có "thiện tâm và quyết tâm" trong tinh thần trách nhiệm với chính mình và lòng yêu thương lẽ phải. Có lẽ những yếu tố trên đã đem hàng vạn người Hồng Kông đến đứng sau lưng chàng sinh viên 17 tuổi này.
Trở lại với những người trẻ của chúng ta, không lâu trước khi được phóng thích, tù nhân lương tâm Đặng Ngọc Minh đã có dịp gặp anh Đặng Xuân Diệu trong trại giam. Anh Diệu lúc đó rất xanh xao vì vừa trải qua một giai đoạn tuyệt thực dài. Khi chào từ giã nhau, Đặng Xuân Diệu đã nói với bà Minh rằng anh tin đất nước anh sẽ phải thay đổi trong vòng hai năm trước mặt. Liệu niềm tin của Đặng Xuân Diệu có trở thành sự thật không?
Xin được gởi giúp những người trẻ bất khuất đầy “thiện tâm và quyết tâm” này một lời nhắn. Một niềm hy vọng thiết tha mà tôi tin rằng họ muốn nhắn gởi đến các bạn trẻ và người dân Việt Nam trên khắp đất nước: “Tương lai tổ quốc Việt Nam tùy thuộc vào chính bạn và tôi”.
N. Q.
Nguyễn Đình Cống
Tại Đại hội Mặt trận Tố quốc Việt Nam vừa qua, Tổng Bí thư có kêu gọi mọi người góp ý kiến và phản biện. Nhân dịp ông cầm đầu một phái đoàn sang Hàn Quốc tôi xin góp một vài ý kiến.
Về việc góp ý (cao hơn là bày mưu) cho người khác, cách đây trên 2000 năm, Hàn Phi có viết trong “Thuyết nan” một đoạn đại ý như sau: “Cái khó nhất của các thuyết khách góp ý cho các bậc vua chúa không phải là ở chỗ nêu ra các việc hay, đúng, cần và có thể làm được, mà là ở chỗ đoán và nói đúng được mong ước và những suy nghĩ thầm kín của họ”. Dẫn chứng rõ ràng nhất cho ý này là việc vua Tần ban chiếu thiết tha cầu người hiền tài, thế mà Vệ Ưởng hai lần đến gặp vua trình bày sách lược chấn hưng đất nước đều bị đuổi về. Nguyên nhân là ông trình bày về “đế đạo” và “vương đạo” là hai đường lối rất hay nhưng không hợp với ý muốn của vua là “bá đạo”. Chỉ đến lần thứ ba, sau khi đã đoán được, Vệ Ưởng trình bày cách thực hành bá đạo thì mới được hoan nghênh và trọng dụng.
Ý của Hàn Phi là đúng cho những “thuyết khách” muốn được tiến thân để cầu danh lợi thông qua việc “góp ý cho các vua chúa”. Tôi và nhiều người khác, vì không cầu danh lợi cá nhân nên cứ mạnh dạn góp ý mà không dựa dẫm vào mong muốn của người nghe. Vẫn biết rằng làm như thế thì hiệu quả của lời góp ý có phần bị hạn chế, hoặc thậm chí bị bác bỏ (nhưng chưa tìm được cách khác hay hơn nên cứ đành phải làm như vậy, chịu mang tiếng là ngu, là kém).
Đối với người nghe, trong “Binh thư” có lời khuyên “Để lòng không mà nhận lời can”, có thể hiểu là muốn tiếp nhận tư tưởng khác, quan điểm khác (lời can) thì cần có lòng trống rỗng, nên tạm bỏ qua, tạm quên tư tưởng cũ, quan điểm cũ đang chứa sẵn (nếu biết tư tưởng cũ, quan điểm cũ là nhầm, là không còn phù hợp thì phải đánh bật ra, phải từ bỏ dứt khoát thì mới mong tiếp nhận được cái mới). Hãy cứ để lòng không mới có thể tiếp nhận lời can, sau đó xem xét lại thật kỹ, nếu lời can là không thể nhận thì không nhận, chớ đừng để lòng chật ních và phủ nhận ngay lời can nghe trái tai. Phật dạy: “Y pháp bất y nhân”, có ý là người nghe chỉ cần chú ý đến, quan tâm đến nội dung (y pháp) mà không cần để ý đến thái độ, dáng vẻ của người nói (bất y nhân).
Lại có lời khuyên cho người nghe là: Nghe những lời khen thì sướng lỗ tai đấy nhưng không có ích lợi gì. Nghe những lời trái tai thì khó chịu đấy nhưng có thể nhận được lợi ích vô giá.
Để học tập gương các con rồng châu Á, lãnh đạo Việt Nam từng mời Lý Quang Diệu làm cố vấn tối cao, nhưng rồi phần lớn các ý kiến của ông Lý đưa ra không được chấp nhận. Vì sao? Vì điều kiện tiên quyết để xây dựng một xã hội như Singapore, Đài Loan, Malaysia, như Thụy Điển, Phần Lan… là phải có nền chính trị thật sự tự do, dân chủ, phải từ bỏ độc quyền, từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, một điều mà Việt Nam không muốn làm vì đã bị khóa chặt bởi ý thức hệ. Ông Lý ra về mà ngậm ngùi than rằng đã thất bại vì không thể nào góp ý cho lãnh đạo cộng sản Việt Nam được.
Bây giờ ông Tổng Bí thư, dẫn một phái đoàn đông đúc cán bộ Đảng sang Hàn Quốc, chắc rằng muốn trao đổi ý kiến, muốn học tập con đường phát triển đất nước của họ (còn việc ký kết các hiệp ước thì phải do các đoàn của chính phủ, việc mưu mẹo để thống nhất đất nước bằng chiến tranh thì chắc họ không nghe, còn thống nhất bằng hòa bình thì đoàn lại không biết). Muốn vậy thì xin ông và phái đoàn hãy thật sự thấm nhuần phương châm “Để lòng không mà nhận lời can” và “Y pháp bất y nhân”. Có nghĩa là phải biết tạm quên đi ý thức hệ của chủ nghĩa Mác - Lênin, quên đi định hướng xã hội chủ nghĩa, quên đi chế độ toàn trị của cộng sản, còn nếu cứ giữ nguyên các quan điểm cũ thì “những biện pháp quý giá, những kinh nghiệm vàng ngọc của Hàn Quốc” cũng chỉ như nước chảy mây trôi mà thôi.
Hay là (tôi chỉ đoán mò) đoàn định học tập việc khác. Nguyên thân phụ của bà Tổng thống Hàn Quốc là cố Tổng thống Park Chung Hee, một người có tiếng là độc tài. Và có nhận xét cho rằng chính nhờ sự độc tài đó mà đã phát triển được đất nước.
Xin thưa, nếu các vị định học sự độc tài của Park Chung Hee thì chắc chắn các vị không thể nào học được, vì độc tài của ông Park và độc tài của cộng sản khác nhau về bản chất. Một bên là độc tài của một con người thật sự giỏi giang, có trí tuệ siêu việt, một lòng vì nước vì dân, được sự tin cậy và ủng hộ của đại đa số nhân dân, một chế độ độc tài trong sạch, liêm khiết, và quan trọng nhất là ông xem sự độc tài như một biện pháp tạm thời để đưa đất vào thế ổn định, sau đó phải là sự mở rộng dân chủ. Một bên là sự độc đoán, độc quyền kiểu “toàn trị của đảng”, dựa chủ yếu trên sự dối trá (tuyên bố công khai là vì nước vì dân nhưng thực chất là vì quyền lợi cá nhân và nhóm lợi ích, vì bảo vệ ý thức hệ), do những con người kém trí tuệ nhưng nhiều mưu mô điều hành, đã đánh mất lòng tin của nhân dân, một xã hội đầy rẫy tham nhũng, mua quan bán tước, chủ trương độc quyền là để duy trì sự độc quyền bằng bất cứ giá nào.
Không, các vị không thể nào học được sự độc tài của Park Chung Hee (cũng như sự độc tài của các vị như Pie Đại đế, Minh Trị Thiên Hoàng, Hoàng đế Khang Hy...). Các vị phải từ bỏ độc quyền cộng sản thì mới mong cứu nước và cứu đảng khỏi sự sụp đổ.
Tôi nghĩ và xin góp ý với các vị là trước mắt Việt Nam chỉ có thể chọn một trong hai con đường là: 1- Hòa nhập với thế giới. 2- Giữ nguyên “định hướng xã hội chủ nghĩa” và lệ thuộc vào Trung Quốc.
Để hòa nhập với thế giới thì điều kiện tiên quyết là thực hiện Nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa, thực thi dân chủ, từ bỏ sự toàn trị và ý thức hệ chuyên chính vô sản đã lỗi thời. Tấm gương để soi thì đã có nhiều. Gần thì như Myanmar, xa hơn thì như Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani, Azerbaijan, Đông Đức …
Để giữ nguyên định hướng xã hội chủ nghĩa thì không tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Trước đây chúng ta nhầm mà tin cậy vào Đảng Cộng sản Trung Quốc trên tinh thần quốc tế vô sản. Bây giờ đã thấy tương đối rõ dã tâm của họ. Nếu cứ để lệ thuộc vào ý thức hệ cộng sản thì rất khó giữ được độc lập và chủ quyền, rất khó (và gần như không thể) thực hiện được nguyện vọng của Bác Hồ là tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Trong thế giới đa cực hiện nay Việt Nam chưa đủ thế và lực để tạo thành một cực như một số nước thuộc loại cường quốc.
Từ bé đến nay các vị đã tuyệt đối tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, bây giờ nghe nhiều người nói nó sai, thấy nhiều nước từ bỏ nó, các vị nên bình tĩnh, khách quan suy nghĩ xem nó thực sự đúng sai ở chỗ nào. Thái độ khoa học là biết nghi ngờ. Mình cho là đúng trong khi người khác cho là sai thì nên và cần thành tâm tìm hiểu sự thật, chớ chủ quan giữ khư khư nhận thức của mình. Nếu tự các vị không thể nào thấy ra cái sai, cái nhầm của Mác thì xin cứ tổ chức một số cuộc hội thảo, mời những người có ý kiến phê phán Mác đến thuyết trình và thảo luận. Nếu có hội thảo như vậy và được mời tôi sẽ xin đến trình bày, chứng minh những nhầm lẫn của Mác, việc áp dụng chủ nghĩa Mác - Lênin đã mang lại nhiều tai họa cho dân tộc và những thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong các cuộc chiến tranh từ 1945 đến nay chủ yếu không phải nhờ vào chủ nghĩa ấy. Còn trong thâm tâm các vị có thấy được cái sai của chủ nghĩa Mác - Lênin mà bên ngoài cứ làm như không biết để lợi dụng cho một ý đồ nào đó thì… xưa nay những người tử tế không ai làm như vậy.
N. Đ. C.
Trần Quí Cao
Bauxite Việt Nam hoan nghênh ông Trần Quí Cao từ sự kiện Hồng Kông đang nổi bão liên tiếp mấy hôm nay đưa ra dự đoán về ván cờ Trung Quốc liên quan mật thiết đến tương lai Việt Nam. Vâng, một cơ thể ốm yếu như cái thể chế chúng ta đương còng lưng gánh, nhìn về phương diện nào cũng đã đến lúc cùng mạt, vậy mà lại khư khư ôm chân cộng sản Tàu trong mọi đường đi nước bước thì một phong trào dân chủ ngay tại chính quốc có khả năng làm lung lay tận gốc chính sách độc tài cộng sản khét lẹt mùi Đại Hán hẳn là cơ hội ngàn vàng để con dân nước Việt thoát cái ách Trung Cộng (ách Trung và ách Cộng) không gì quý giá cho bằng. Nhưng xét cho cùng, dân Việt vốn không tự mình khoác lấy ách ấy mà chính là mấy vị tổ cộng sản rước nó về cho dân, thì trách nhiệm của thế hệ cộng sản đang cai trị đất nước hôm nay phải tự mình thoát trước và giúp dân cùng thoát, đó chính là lẽ công bằng. Tiếng nói của 61 đảng viên vừa qua cho thấy thực tế đã chín muồi một yêu cầu sống còn như vậy.
Tất nhiên, kêu gọi một đảng cộng sản “thoát Cộng”, về một phương diện nào đấy e cũng vẫn là chuyện nực cười, huống chi với những vị đang sống chết với chiếc ghế mà nếu không có hai chữ “cộng sản” thì nằm mơ cũng chẳng thấy, thì chẳng phải là phản động đứt đuôi rồi sao. Kêu gọi một đảng đang một mình một cỗ ngất ngưởng trên chiếu rượu chót vót mà phía dưới là ngót 90 triệu con người đang è cổ ra đỡ cho chiếc chiếu ấy, từ bỏ vị thế độc tài trở về trong lòng dân tộc, về một phương diện nào đấy e vẫn là một cách nói quá lạc quan mà những ai có chút suy nghĩ có lẽ cũng chẳng dám tin. Nhưng thôi, hãy cứ lạc quan để mà vỡ mộng thì cũng còn hơn là bi quan để không còn tìm thấy một con đường nào cho dân tộc ngoài con đường làm cho đảng cộng sản trở lại trong sạch “như nước suối ban mai” để “tiếp tục lãnh đạo nhân dân”, giữa lúc phong trào dân sự chưa bao giờ hưng phấn như hiện nay. Đó là hai điểm lưu ý của chúng tôi khi chia sẻ bài viết tâm huyết này. Rất mong được bạn đọc cùng quan tâm trao đổi.
Bauxite Việt Nam
Cuộc phản kháng của Hồng Kông
Sau 17 năm trở về với Trung Hoa dưới chính sách “một quốc gia, hai chế độ”, đến nay người dân Hồng Kông cảm nhận sâu sắc rằng quan niệm về Tự do Dân chủ của họ và của Đảng Cộng sản Trung Quốc khác nhau hẳn.
Người Hồng Kông không chấp nhận quan điểm của Trung Hoa đại lục rằng Tự do Ứng cử và Bầu cử nghĩa là các các Ứng cử viên vào các vị trí chính quyền tại Hồng Kông phải được quyết định bởi chính quyền đại lục. Dân chúng Hồng Kông đang thể hiện quan điểm của mình bằng các cuộc biểu tình rộng khắp và kiên quyết tại trung tâm Hồng Kông thu hút sự chú ý của thế giới.
Thế giới chú ý vì Hồng Kông là một trung tâm tài chánh lớn của thế giới. Hơn nữa, sự việc không chỉ là của Hồng Kông, không chỉ là của Trung Hoa. Đây là cuộc đối đầu giữa quan điểm Dân chủ Tự do phổ quát trên thế giới và quan điểm Dân chủ do một đảng lãnh đạo độc quyền và toàn diện. Quan điểm sau là quan điểm chính thống của Trung Hoa Cộng sản và của Việt Nam Cộng sản, hai đồng chí chung chiến hào tư tưởng. Các nước Đông Á và Đông Nam Á càng chú ý tới sự việc nhiều hơn.
Các nhà quan sát chính trị so sánh phong trào phản đối chính quyền Bắc Kinh của Hồng Kông hiện nay với phong trào Thiên An Môn năm 1989, và nhận định lần này gây khó hơn cho Bắc Kinh vì tính quốc tế rất cao của Hồng Kông không cho phép Bắc Kinh dễ dàng mang xe tăng tới đàn áp như năm 1989 ở Thiên An Môn. Nếu phong trào Hồng Kông đòi dân chủ thành công, rất có thể có hiệu ứng dây chuyền tới phong trào đòi dân chủ hóa toàn Trung Hoa đưa tới nước Trung Hoa thoát Cộng. Nếu phong trào Hồng Kông đòi dân chủ thất bại thì tinh thần Hồng Kông cộng hưởng với tinh thần Thiên An Môn trước đó cũng sẽ để lại một dấu ấn tinh thần hướng về Tự do rất khó phai trong lòng người Trung Hoa. Dấu ấn này sẽ không để dân chúng Trung Hoa nằm im lâu.
Hơn nữa, hiện nay, môt số tỉnh thành quan trọng trên đại lục cũng đang rục rịch đòi phản kháng. Những nơi này đang theo dõi diễn biến của Hồng Kông, và chắc chắn lòng can đảm cùng cảm hứng đấu tranh cho tự do được thúc đẩy mạnh mẽ.
Thực là một bài toán rất khó cho Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tương lai của Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn rất quan tâm tới cuộc phản kháng của Hồng Kông. Bởi vì chỗ dựa hiện nay của Đảng CSVN không phải là dân chúng trong nước, mà là Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nếu Đảng CS Trung Quốc không còn thống trị Trung Hoa, Đảng CSVN cũng sẽ mất quyền thống trị Việt Nam.
Nếu Đảng CS Trung Quốc sụp đổ, Đảng CSVN không thể tiếp tục tồn tại lâu.
Nếu các người lãnh đạo Đảng CS Trung Quốc thành công trong việc khuất phục Hồng Kông, thì thành công đó cũng chỉ tạm thời kéo dài sự thống trị của họ. Dân chúng Trung Hoa vốn có tinh thần trọng tự do từ những năm 1840 khi tiếp xúc với phương Tây, được trui rèn qua các phong trào và các cuộc đấu tranh trước khi lục địa bị nhuộm đỏ năm 1949. Chủ nghĩa Cộng sản chỉ tạm thời thống trị chứ không thể tiêu hủy các giá trị nhân bản lâu dài. Tinh thần tự do, dân chủ, bình đẳng vẫn chảy ngầm dưới bề mặt đợi ngày bừng lên. 25 năm trước là Thiên An Môn. Hôm nay là Hồng Kông. Nếu sự phản kháng của Hồng Kông hôm nay thất bại thì nó cũng khiến Đảng CS Trung Quốc phải e dè hơn, mở rộng hơn một số quyền Tự do cho dân chúng. Chế độ Cộng sản nào cũng vậy, khi phải lùi một một bước trước áp lực dân chúng đòi Tự do đều có nghĩa chế độ đang tiến gần hơn một bước tới ngày cáo chung. Bởi vì từ căn bản, Cộng sản đối lập toàn diện với Tự do. Trong hoàn cảnh thế giới và khu vực hiện nay, các đảng Cộng sản còn sót lại của châu Á đang lùi với gia tốc càng nhanh.
Khi Đảng CS Trung Quốc suy yếu hơn, họ sẽ không còn sức mạnh chống lưng cho Đảng CSVN. Đảng CSVN có thể một mình chống chọi với các yêu cầu chính đáng và hợp thời đại của dân chúng Việt Nam trong bao lâu nữa? Hai năm? Bốn năm? Những con số rất nhỏ đối với lịch sử, nhỏ cả đối với một đời người!
Huống chi, Đảng CS Trung Quốc, trong khi cùng chiến hào tư tưởng với Đảng CSVN, vẫn không từ bỏ dã tâm thôn tính Việt Nam. Đi chung với Đảng CS Trung Quốc có nghĩa là phản bội lại Tổ quốc Việt Nam.
Có muốn níu kéo lại quyền thống trị tuyệt đối mà không chính đáng này thì thời gian níu được cũng không dài, Đảng Cộng sản Việt Nam có thể cố đấm ăn xôi mà gánh lấy cái gánh quá nặng và quá xấu của kẻ bán đứng Tổ quốc hay không? Các đảng viên còn lương tri và tỉnh táo có để cho đảng mình làm cái việc tày trời “di xú vạn niên” hay không? Dân chúng, đã quá sức nhẫn nhịn, có để yên cho một Đảng CSVN đang đà sụp đổ, tiếp tục chính sách bán nước, buôn dân, vơ vét đầy túi tham hay không?
Giải pháp tốt nhất cho Đảng CSVN là từ bỏ chế độ độc tài, từ đó độc lập với Đảng CS Trung Quốc. Giải pháp này sẽ mang lại các lợi ích to lớn sau đây:
1) Lợi ích cho đất nước: dân chúng Việt Nam sẽ được sống và làm việc trong môi trường đa nguyên và tự do, chính là môi trường khai phóng cho tình đoàn kết, tinh thần hợp tác, học hỏi, sáng tạo góp sức làm đất nước giàu mạnh. Một nước Việt Nam như vậy sẽ đầy đủ tư cách là công dân tích cực của thế giới, được nể trọng, do đó có đầy đủ tư thế bảo vệ hòa bình mà không phải trả giá bằng lệ thuộc hay mất một phần Tổ quốc. Một nước Việt Nam như vậy sẽ không còn phải trông chờ thụ động vào các động thái của Trung Hoa, mà tích cực phát triển độc lập với các diễn biến chính trị của Trung Hoa, và hơn thế nữa, có thể quan sát các biến chuyển của Trung Hoa mà vạch ra chính sách ích quốc lợi dân thích hợp.
2) Lợi ích cho Đảng CSVN: Mất vị trí độc quyền thống trị, nhưng sẽ có vị trí một chính đảng trong cộng đồng dân tộc. Các sai lầm đã qua sẽ được tha thứ, các công lao sẽ được ghi nhận. Chuyển thành công và êm thấm đất nước từ chế độ độc tài và toàn trị đã 40 năm sang chế độ dân chủ và tự do là công lao rất lớn. Lòng dân sẽ ghi nhận. Còn lợi ích nào lớn hơn cho Đảng CSVN khi được trở về làm một thành viên bình đẳng trong lòng dân tộc? Các đảng viên của Đảng CSVN sẽ yên tâm và trở lại tự hào một cách chính đáng về đảng của mình. Còn lợi ích nào lớn và sung sướng hơn?
Thưa các nhà đấu tranh cho dân chủ, cho phát triển lâu dài của đất nước. Đảng CSVN đang lùi từng bước và sẽ mất dần độc quyền thống trị, Tổ quốc đang tiến lên từng ngày hội nhập vào thế giới văn minh, giàu mạnh, thế giới dân chủ, tự do. Hoàn cảnh này càng yêu cầu các nhà tranh đấu hợp tác với các đảng viên tiến bộ, nhằm giúp Đảng CSVN hiểu lợi ích của quốc gia và của đảng mà mạnh dạn bước về hướng dân chủ tư do nhanh hơn. Hoàn cảnh càng yêu cầu dân chúng Việt Nam đoàn kết nhau, nhìn rõ mục tiêu mà kiên quyết tiến bước trong tinh thần bao dung, hòa hợp. Không để mảy may hận thù ích kỉ làm u ám tinh thần hướng tới tự do, u ám môi trường xây dựng lại đất nước sau này.
Thế hệ chúng ta sẽ tạo và để lại một môi trường sáng trong, nhân bản, thuận lợi cho con cháu chúng ta thỏa sức tung cánh lượn bay và phát triển.
Ước mơ này có lớn quá sức của dân tộc không? Có lớn quá sức của Đảng Cộng sản Việt Nam không?
T.Q.C.
Jaroslav Wieczorkiewiz - Một nhiếp ảnh gia người Ban Lan đã sang tạo nên một phương pháp chụp hình mới. Với phương pháp của ông, sữa cung có thể tạo nên nhưng bộ thời trang rất ấn tượng dưới các shoot hình. Ông đã tiến hành quảng bá phương pháp chụp hình này tại một số quốc gia. Dưới đây là một số hình ảnh tuyệt đẹp được ông chụp năm 2013: