Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

Quanh cái chết của Nguyễn Chí Thanh

Chép sử Việt

Giới thiệu: Nhân những ngày ghi dấu hàng loạt sự kiện, kỷ niệm như Chiến dịch/Thảm sát Mậu Thân 68′, 84 năm thành lập ĐCSVN, tướng Giáp vừa qua đời, tướng Thanh vừa 100 năm ngày sinh … xin trích đăng nội dung liên quan trong một cuốn sách viết về hai phe phái- gọi là “xét lại” và “giáo điều” bên trong Đảng LĐVN/CSVN, chưa được chính thức xuất bản, để có thêm khơi gợi cho việc làm sáng tỏ những bí ẩn, khuất lấp của lịch sử.

Một khi biết thêm những hành động tàn độc, không từ một thủ đoạn nào của các phần tử chóp bu cộng sản VN đối với nhau, thì sẽ dễ lý giải hơn cho nghi án tàn sát dân lành mà họ không tránh khỏi vai trò như kẻ chủ mưu có bàn tay không vấy máu.
Biết thêm những bất hạnh, bất lực của vài nhân vật mà nhiều người vẫn coi như thần tượng, hẳn họ sẽ thấy nhẹ lòng hơn; song nếu suy nghĩ cho kỹ thêm, sẽ nhận ra tất cả chỉ như trong một băng đảng giang hồ, cũng có kẻ gian manh tàn ác, kẻ có chút ít lương tâm … Cái khó cho rất nhiều người còn mơ hồ ở chỗ họ phải nhận diện một “băng cướp vĩ đại”, không chỉ cướp của, mà còn cướp cả chính quyền, không chỉ giết người, mà còn hủy hoại nhiều thế hệ và tương lai cả dân tộc.
—
Năm 1968, sau những gì xảy ra ở miền Bắc (sai lầm của cải cách ruộng đất, hợp tác hóa, cải tạo công thương nghiệp tư bản, tư doanh, vụ “nhân văn giai phẩm”,…), người dân đã hiểu rằng tinh thần đoàn kết, quên mình vì sự nghiệp dân tộc trong chiến tranh của họ sẽ được đền đáp bằng đấu tranh giai cấp tàn khốc sau khi cách mạng thành công. Do đó, sự tin tưởng, nhiệt tình tham gia sẵn sàng đóng góp cho sự nghiệp chung chuyển thành thái độ nghi kị, bàng quan của nhân dân trước các biến động xã hội.

Chứng cớ là cho đến năm 1975, tại một số thành phố lớn như Buôn Mê Thuột, Đà Nẵng, Sài Gòn,… khi lực lượng Việt Nam Cộng hòa rút lui còn diễn ra cảnh di tản thương tâm của gia đình binh sỹ, người tham gia chính quyền Sài Gòn và cả dân thường. Ngay cả khi lực lượng vũ trang chủ lực của quân Giải phóng miền Nam đã hoàn toàn áp đảo quân đội Việt Nam Cộng hòa, các đợt tấn công quân sự đã dành toàn thắng với khí thế thần tốc thì tại các đô thị miền Nam, nhân dân đổ ra đường vẫy chào quân giải phóng nhưng quần chúng không nổi dậy dành chính quyền trên qui mô lớn. Cho đến khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, cả ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng vũ trang cách mạng cũng là đối tượng tiếp quản công sở địch mà không do nhân dân nổi dậy dành chính quyền.

Rõ ràng những lập luận duy ý chí để đi đến quyết định tổng tấn công và nổi dậy vào năm 1968 là của nhóm lãnh đạo giáo điều do Lê Duẩn chỉ huy. Hoàng Tùng khẳng định: “Người đưa ra sáng kiến này là đồng chí Lê Duẩn, sau khi đã trực tiếp chỉ đạo mọi mặt công tác ở miền Nam… Đồng chí Lê Duẩn trực tiếp chỉ đạo mọi công tác chuẩn bị chiến dịch này ở cả hai miền cùng với Quân uỷ Trung ương và Trung ương Cục miền Nam” (1). Tạp chí lịch sử Xưa và Nay cho rằng đồng tác giả của chiến dịch này là một số nhân vật khác trong Trung ương Cục Miền Nam như Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh và Trần Văn Trà (2).

Vũ Kỳ cho biết ngay khi họp lần thứ nhất bàn kế hoạch này, Hồ Chí Minh đã không đồng ý tổng tiến công và nổi dậy mà chỉ chủ trương “tập kích chiến lược rồi rút ngay”, Võ Nguyên Giáp cũng chủ trương như vậy (3). Như vậy, để tránh được sự tranh luận gay gắt với những người hiểu biết vả kiên quyết bảo vệ quyền lợi chung như Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, mũi tấn công vào nội bộ Đảng phải có thêm nhiệm vụ nữa là loại bỏ mọi đối thủ có ý kiến trái với quyết định tổng tấn công, muốn vậy, mũi này phải đi trước một bước.

Để chuẩn bị cho đòn đảo chính nội bộ, “bộ phận chuyên án X77” bắt đầu gán tội lật đổ, gián điệp,… cho nhóm cán bộ xét lại:

“Nhóm ‘trung tâm lãnh đạo’ đề ra mục đích đấu tranh làm thay đổi đường lối của Đảng, tiến đến lật đổ cơ quan lãnh đạo của Đảng, lập ra Ban chấp hành Trung ương mới theo đường lối xét lại (…) chúng soạn thảo tài liệu ‘Chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam’ là tài liệu tuyên truyền, là cương lĩnh chống Đảng, chống cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Chúng thường xuyên liên lạc với nước ngoài và cung cấp cho nước ngoài nhiều tài liệu bí mật, tuyệt mật về nội bộ Đảng; các Nghị quyết 9, 10, 11,12, kể cả các văn bản hội đàm bí mật của lãnh đạo Đảng ta với các Đảng anh em,…” .(4 – trang 267).

Khoảng giữa năm 1967, Ban Tổ chức Trung ương do Lê Đức Thọ nắm giữ ra chỉ thị cho các cơ quan quan trọng nhất thường làm việc với Hồ Chí Minh rằng vì lý do “bảo vệ sức khoẻ Chủ tịch”, những công việc xưa nay trực tiếp báo cáo và nhận chỉ thị từ Hồ Chí Minh, sẽ chuyển sang làm việc với Lê Duẩn (5).

Tháng 6-7 lan truyền tin đồn trong các cấp lãnh đạo cao cấp rằng các cố gắng thương lượng đã thất bại, Hồ Chí Minh sẽ đi Trung Quốc nghỉ và Nguyễn Chí Thanh sẽ thay Hồ Chí Minh. Một cuộc vận động chính trị được tiến hành tập trung vào bộ phận lãnh đạo cao cấp của quân đội để khẳng định quyết tâm đánh Mỹ đến cùng. Không ai được nói đến chuyện thương lượng (6).

Ngày 6/7/1967, Nguyễn Chí Thanh chết một cách bất ngờ khi chuẩn bị lên đường vào Nam. Theo tin chính thức, nguyên nhân dẫn đến cái chết là bệnh nhồi máu cơ tim. Sau khi tắm ở nhà, thấy mệt, tướng Thanh đến Bệnh viện quân đội 108, và tự đi bộ leo thang gác đến nơi khám bệnh, từ chối mọi người định cáng ông đi. Theo lời kể của bà Cúc, vợ Nguyễn Chí Thanh, ông này không phải chết vì bệnh tim mà chết trong một đêm trở bệnh do những lý do khó giải thích sau một ngày họp liên tục (7).

Lê Trọng Nghĩa, người còn làm việc với Nguyễn Chí Thanh hôm trước kể rằng cách đó hai hôm, để chuẩn bị cho tướng Thanh vào Nam, Võ Nguyên Giáp làm việc với Nguyễn Chí Thanh về chiến lược chiến tranh. Sau rất nhiều năm bất đồng về đường lối, lần đầu tiên hai nhà chỉ huy đứng đầu quân đội tỏ ra thống nhất với nhau. Sau buổi họp thành công, hai người ăn cơm, uống rượu với nhau rất thân thiết, thấy vậy anh em cán bộ mừng rỡ, chạy sang Cục Quân báo gọi sỹ quan chụp ảnh sang ghi lại hình ảnh đoàn kết này (8).

Tướng Đặng Kim Giang lại kể rằng, trong các cuộc tra hỏi ngay sau khi bị bắt, một câu hỏi nhắc đi nhắc lại là có phải ông là người tổ chức giết tướng Thanh không, lập luận là các bác sỹ trong Bệnh viện quân đội 108, vốn là cấp dưới trực tiếp của tướng Giang (phụ trách Tổng cục Hậu cần trước đây) và cho tới khi đến bệnh viện, sức khỏe của Nguyễn Chí Thanh còn rất tốt, mà sau đó lại chết rất nhanh.

Nguyễn Văn Trấn cho hay, Bùi Công Trừng cho rằng Lê Đức Thọ từ trước đó đã có âm mưu lấy Nguyễn Chí Thanh thay thế Hồ Chí Minh (9 – trang 328). Theo ám chỉ của Hoàng Văn Hoan, thì Nguyễn Chí Thanh bị Lê Duẩn tiến hành ám sát (9)a. Điều đáng nói là bác sỹ Thuận, người chuyên chăm sóc ông, sau này đã đảm nhiệm vai trò bác sỹ riêng của Lê Đức Thọ (10).

Nếu sự ra đi của Nguyễn Chí Thanh là không bình thường thì cả hai phía xét lại và giáo điều đều có lí do muốn loại bỏ ông. Vào cuối năm 1966, Võ Nguyên Giáp có vẻ dành ưu thế trong cuộc tranh luận về chiến lược quân sự với Nguyễn Chí Thanh. Tuy nhiên một người thiển cận nhất cũng dễ dàng nhận thấy, cái chết này sẽ làm lệch cán cân lãnh đạo quân sự trong Bộ Chính trị đang do nhóm giáo điều chiếm đa số và nắm quyền lực. Rõ ràng họ không thể để xảy ra nguy cơ tuột khỏi tay quyền chỉ huy quân sự đúng vào lúc cuộc tổng tấn công và nổi dậy mà họ dầy công chuẩn bị sắp nổ ra. Loại bỏ Nguyễn Chí Thanh vào thời điểm này tỏ ra không phải là cách nhóm xét lại muốn làm.

Nhìn ngược lại, từ phía nhóm giáo điều, ván cờ có vẻ đã đi từng bước chặt chẽ: Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp sẽ bị đưa ra nước ngoài, toàn bộ cán bộ ủng hộ họ đã nằm trong vòng ngắm. Kế hoạch tổng tấn công bất ngờ sẽ dành chiến thắng quyết định trên chiến trường. Cả lực lượng vũ trang và quyền định đoạt chiến lược quân sự cũng như lãnh đạo Đảng và chính quyền sẽ nằm trong tay nhóm lãnh đạo của Lê Duẩn, chiến thắng tuyệt đối này không cần chia sẻ với một nhân vật có uy tín cao trong Đảng và có khả năng tranh chấp quyền lực trong quân đội như Nguyễn Chí Thanh.

Đây là cách xử lý của Mao Trạch Đông với Bành Đức Hoài năm 1959 và Lâm Bưu năm 1971. Trong thực tế Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã sát cánh với Lê Duẩn tham gia trực tiếp vào việc xây dựng kế hoạch Tấn công Mậu Thân. Nếu mọi việc diễn ra theo kế hoạch trên thì sau đó số phận Võ Nguyên Giáp cũng đã được định đoạt.

Đặng Quốc Bảo kể lại: trước khi vào Nam, cũng là trước khi chết, Nguyễn Chí Thanh có nói về một âm mưu đảo chính đang được nhen nhóm ở Hà Nội. Theo cách diễn giải thì người ta dễ liên tưởng đến nhóm xét lại và vụ án được đưa ra sau đó, tuy nhiên, cuộc “đảo chính” này đã xảy ra ngoạn mục lúc đó lại do chính nhóm giáo điều tiến hành. Những gì xảy ra với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và đông đảo các cán bộ, chiến sỹ, đảng viên thuộc nhóm xét lại cho thấy nhóm giáo điều có thể đi đến đâu trong việc xử lý các “đồng chí” khác quan điểm, hoặc khác lợi ích. Cuộc đảo chính năm 1967 chỉ là một sự kiện bình thường trong lịch sử phong trào cộng sản. Những người giáo điều luôn là những người dám đi tới cùng trong việc “đấu tranh giai cấp” vô nhân đạo và phi pháp với đồng đội và nhân dân ở Liên Xô thời Stalin, ở Trung Quốc với Mao Trạch Đông, ở Cămpuchia với Pônpốt… và trước đây ở Việt Nam trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức của Trường Chinh.

Ngày 18 tháng 7 năm 1967, tại Bắc Kinh, Chủ tịch Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ cùng vợ bị các cán bộ trong Ban thư ký của Hội đồng Tổng lý bắt ra đấu tố đánh đập, cùng bị đấu tố là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và vợ. Mao Trạch Đông và “nhóm bốn người” đã chính thức bật đèn xanh cho cuộc đảo chính lật đổ chính thể hợp hiến ở Trung Quốc, nhân danh cuộc đấu tranh với nhóm 61 cán bộ lãnh đạo đảng can tội “chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội”.

Đúng lúc ấy, ở Việt Nam, đòn mở màn cho chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy diễn ra dành chính quyền không phải ở Sài Gòn mà ở Hà Nội. Chiến dịch đàn áp nhóm “xét lại-chống Đảng” lần này không những rộng hơn nhiều so với chiến dịch thanh trừng phái hữu và vụ báo Quân đội Nhân dân năm 1964 mà còn làm thay đổi kết cấu tổ chức và hệ thống quyền lực của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 27 tháng 7 năm 1967, Viện trưởng Viện Triết học Hoàng Minh Chính và một nhóm giáo sư và nhà báo bị lực lượng công an bắt. Tài liệu của bộ Công an viết: “Phát hiện họ lấy cắp biên bản hội đàm Việt – Trung để chuyển cho nước ngoài, Bộ Chính trị quyết định cho bắt 4 tên Hòang Minh Chính, Trần Kim Châu, Phạm Việt, Hoàng Thế Dũng (trung tá quân đội). Khám xét nơi ở của những tên bị bắt, ta thu được nhiều tài liệu chống Đảng, trong đó có bản gốc ‘Chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam’ do nhóm ‘trung tâm lãnh đạo’ soạn thảo” (11- trang 267-268).

Cuộc vận động học tập chính trị trở thành vụ án “Xét lại chống đảng”. Đảng ra thông báo số 1 về nhóm chống Đảng và tiến hành đợt kiểm điểm lớn trong Đảng.

Ngày 5 tháng 9 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh và thư ký riêng Vũ Kỳ được đưa sang Bắc Kinh “dưỡng bệnh”. Mới trước đó ít lâu, ông vừa kiểm tra sức khỏe và điều dưỡng ở Tùng Hóa, Trung Quốc (từ ngày 14 tháng 4 năm 1967 đến tháng 6 năm 1967 trở về Hà Nội) (12). Tài liệu của Hungary cho biết Võ Nguyên Giáp ở Hung sớm nhất từ 14 tháng 10, cùng với con trai của cựu Bộ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm để điều trị y tế (13), ông đã nghỉ luôn việc chỉ đạo công việc ở Việt Nam (14). Đại diện cho cánh xét lại đã ra đi. Thực tế Bí thư Lê Đức Thọ đã vào làm việc trực tiếp với Tổng quân ủy (15).

Hồ Chí Minh sang Trung Quốc lần này từ 10 tháng 9 năm 1967 đến 23 tháng 12 năm 1967 lần này không điều trị ở suối nước nóng Tùng Hóa như mọi khi, mà Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ông về Bắc Kinh. Với lý do Trung Quốc đang xảy ra biến động lớn với cuộc “Đại cách mạng văn hóa”, họ không bố trí ông ở trong nội thành Bắc Kinh, mà nghỉ tại “khu nghỉ dưỡng của Trung ương” ở ngoại thành Bắc Kinh, cách Bắc Kinh 70 km.

Trương Đức Duyb, nhân vật được giao làm “thư ký của nhóm bác sĩ Trung Quốc chăm sóc Chủ tịch Hồ Chí Minh” từ 1967 đến 1969 kể: “để bảo đảm an toàn, Bác phải hạn chế đi lại. Tâm trạng Bác lúc đó buồn lắm, Bác cảm thấy như thiếu thốn một điều gì rất ghê gớm. Lúc đó Bác hỏi tôi: “Đồng chí Trương Đức Duy này, cổng trước thì kín rồi, cổng sau có gì không”.

Đồng chí Trương Đức Duy trả lời: “Thưa Bác, cổng sau cháu cũng chưa đi, không biết có gì không?”

Nghe đồng chí Trương Đức Duy trả lời xong, Bác nói: “Chiều nay tôi với chú và mấy anh em ta cùng đi luôn xem thế nào”.

… Lệnh của Trung ương là phải giữ an toàn tuyệt đối cho Bác. Thế nhưng Bác lại là người mà ông vô cùng ngưỡng mộ. Chẳng biết làm thế nào, cuối cùng ông cũng chiều theo ý Bác.

Khi Bác và ông Trương Đức Duy ra cổng phía sau ngôi nhà, thấy cỏ cây um tùm rậm rạp, Bác nói: “Ta cứ đi chú à”.

Sau khi đi hết một quãng cây cối um tùm rậm rạp, trước mắt Bác và đồng chí Trương Đức Duy mở ra một cánh đồng rất đẹp, không xa là một ngôi làng của người bản địa. Trước cảnh đẹp nên thơ như vậy, Bác liền đọc hai câu thơ:

“Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ
Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn”

(Dịch nghĩa: Nơi sơn cùng thủy tận này tưởng rằng không còn đường nữa. Trong khung cảnh bị cây liễu che phủ, tối mờ mờ có điểm một vài bông hoa, bỗng phía trước xuất hiện một thôn nhỏ) (16).”

Bị đưa đến một nơi “sơn cùng thủy tận không còn đường ra”, không phải là cơ sở y tế, nằm trong bốn bức tường khóa chặt, không được ra ngoài, không giao tiếp, suốt hơn 2 tháng chỉ có một số bác sĩ giỏi như Tôn Chấn Hoàn, Dương Khắc Cần, Quách Trung Hòa đến khám sức khỏe (17) là cách “chữa bệnh” cho Hồ Chí Minh ở Trung Quốc năm đó.

Cuối tháng 7, khi kế hoạch tác chiến Đông Xuân đã được chuẩn bị lại, một số cán bộ thân cận của Võ Nguyên Giáp được điều ra mặt trận. Nguyễn Văn Vịnh vào miền Nam, Đại tá Đỗ Đức Kiên đi cùng để phổ biến kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy. Nguyễn Chí Thanh nếu còn sống, theo kế hoạch, cũng sẽ vào Nam lúc này, Phạm Hùng được cử đi thay. Các tướng lĩnh phụ trách chiến trường như Lê Đức Anh, Trần Văn Trà, Cao Văn Khánh, Nguyễn Năng, Lê Chưởng,… được triệu tập ra Hà Nội bàn kế hoạch mới. Một tài liệu của bài nói chuyện của tướng Vịnh bị đối phương bắt được ở khu 5 nói về chủ trương vừa đánh vừa đàm khiến cho phía Mỹ cân nhắc phải chăng lãnh đạo Việt Nam tính đến việc chuyển hướng (18) ?

Vẫn dưới danh nghĩa được Bộ Chính trị cho phép, lực lượng công an tiến hành đợt bắt bớ lần thứ 2 ngày 18 tháng 10 năm 1967 nhắm vào một số quan chức cao cấp như Thứ trưởng, Bí thư Đảng đoàn Bộ Nông trường Quốc doanh Đặng Kim Giang, Vụ trưởng vụ Lễ tân Bộ Ngoại Giao (cựu thư kí của Hồ Chí Minh) Vũ Đình Huỳnh, Trần Minh Việt, Phạm Kỳ Vân, Nguyễn Kiến Giang, Phùng Văn Mỹ. Họ được coi là “những tên cầm đầu tổ chức và cung cấp tài liệu” (19- trang 268). Lúc này thông báo số 2 của Đảng được ban hành và học tập rộng rãi.

Những người bị bắt bị đưa vào giam ngay tại nhà tù Hỏa Lò nằm ở giữa Hà Nội. Các biện pháp khủng bố như giam cấm cố trong bóng tối, cùm chân tay liên tục,…, được áp dụng trong các cuộc thẩm vấn đầu tiên cho những nạn nhân của cả hai đợt bắt bớ trên để tìm cho ra lời khai cho một kịch bản ám sát Nguyễn Chí Thanh, liên hệ với sứ quán Liên Xô để tổ chức đảo chính,… và đều phải có mối liên hệ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhóm giáo điều muốn nhanh chóng xác lập chứng cớ để loại bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn ngay lập tức các nhà lãnh đạo xét lại ở cấp cao nhất.

Ngày 20 đến 25 (có tài liệu ghi là 24) tháng 10 diễn ra cuộc họp của Bộ Chính trị bàn cụ thể chủ trương và kế hoạch Tổng tấn công năm 1968. Có 2 ủy viên Bộ Chính trị vắng mặt là Võ Nguyên Giáp, trong biên bản ghi “vì lý do sức khỏe, chữa bệnh ở nước ngoài” và Lê Duẩn (đi dự lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười tại Mascơva (20). Hồ Chí Minh cũng không có mặt vì đang ở Trung Quốc. Các ủy viên Bộ Chính trị tham dự có: Trường Chinh (chủ trì), Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Lê Đức Thọ. Các ủy viên trung ương và Quân ủy Trung ương tham dự có: Tố Hữu, Lê Văn Lương, Song Hào, Nguyễn Văn Vịnh, Trần Quí Hai. Tại cuộc họp, Văn Tiến Dũng đã trình bày Kế hoạch chiến lược Đông-Xuân-Hè năm 1968 (21- trang 89), Bộ Chính trị đã quyết định chọn thời điểm mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy là tết Mậu Thân 1968.

Tháng 12, năm 1967, diễn ra đợt bắt bớ lớn thứ 3 do lực lượng bảo vệ trong quân đội tiến hành nhắm vào những sỹ quan thân cận của tướng Giáp trong tổ chức quyền lực nhất của quân đội – Quân ủy Trung ương. Lúc này công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã chuyển vào triển khai tại Ban chỉ huy các chiến trường.

Trong khi Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp không có mặt, tướng Nguyễn Văn Vịnh đóng vai trò thường trực Quân ủy bị cách ly ngay khi từ chiến trường về. Toàn bộ cán bộ thân cận nhất của Võ Nguyên Giáp bị quét sạch trong đợt này gồm có đại tá Lê Trọng Nghĩa cục trưởng Cục Quân báo là người phụ trách tình báo của Trung ương Cục miền Nam, đại tá Đỗ Đức Kiên phó tư lệnh quân chủng Phòng không – Không quân, đại tá Lê Minh Nghĩa chánh văn phòng Bộ Tổng tham mưu, đại tá Nguyễn Văn Hiếu chánh văn phòng quân ủy trung ương, Trung tá Nguyễn Hoàng, thư ký văn phòng Quân ủy Trung ương và là thư kí riêng của Võ Nguyên Giáp… Đại sứ Liên Xô tại Hà Nội Shcherbakov nói với quyền đại sứ Hungary rằng những cuộc bắt bớ trong năm 1967 là kết quả của “sự suy yếu dần tính dân chủ trong Đảng; quá trình suy yếu này diễn ra rất nhanh sau khi chiến tranh bùng nổ mặc dù thực tế đã bắt đàu trước đó“c (22).

Sau 6 tháng ráo riết chuẩn bị và khi chiến dịch bắt bớ nội bộ đã gần hoàn tất (chỉ còn lại nhóm cán bộ quân sự cần để lại chuẩn bị cho các cuộc họp cuối cùng của Bộ Chính trị về chiến dịch Mậu Thân), sáng 21 tháng 12, văn phòng Trung ương mời Hồ Chí Minh về dự họp để rà soát lại mọi công tác và hạ quyết tâm chiến lược cho cuộc “Tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt”(d). Chiếc máy bay chở Chủ tịch Đảng trở về đã vượt qua một nguy cơ tai nạn khó hiểu.

(Còn tiếp)
—
CHÚ THÍCH:
a Hồi ký của Hoàng Văn Hoan đặt câu hỏi về sự chậm chễ trong việc xử lý Nguyễn Văn Vịnh trong vụ Xét lại – chống Đảng: “Vì sao vụ án phát hiện từ năm 1967 mà để mãi đến mười năm sau là năm 1977 mới giải quyết? Là vì trong vụ anh Nguyễn Chí Thanh bị ám hại, Nguyễn Văn Vịnh là người được biết tất cả mọi chi tiết, nếu xử lý Nguyễn Văn Vịnh đúng theo kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước thì Nguyễn Văn Vịnh sẽ bươi ra hết cả, như vậy bộ mặt của bọn Lê Duẩn sẽ bị bóc trần, tội ác của bọn Lê Duẩn sẽ phơi bày trước Đảng và trước dư luận nhân dân.”
b Sau này là Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam trong giai đoạn Trung Quốc tấn công Việt Nam (1989 -1993), có vai trò đặc biệt tác động đến một số lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, Đại tướng Lê Đức Anh trong vấn đề Cămpuchia và bình thường hóa quan hệ Việt – Trung.
c Kho Lưu trữ Quốc gia Hungary (Magyar Orszagos Leveltar), XIX-J-l-j, Vietnam SZT 1968.87.doboz, 001051/1968. Báo cáo từ ĐSQ Hungary tại VNDCCH, ngày 17 tháng Một năm 1968.
d Có lý do để cho rằng có thể lần trở về này là theo yêu cầu cùa Hồ Chí Minh, nằm ngoài dự kiến của nhóm lãnh đạo trong nước.
-
1. Hoàng Tùng. Những kỷ niệm về Bác Hồ. hao.com/kktd/su_that__lich_su/hcm_nhung_ky_nien_ve_hcm.html
2. Hoàng Minh Thảo. Tết Mậu Thân (Xuân 1968). Xưa và Nay số 301+302 tháng 2 năm 2008.
3. Bài nói chuyện của nhà văn Sơn Tùng ngày 11/4/2001 tại trường Quản Lý Giáo dục của Bộ Giáo dục – đào tạo.
4. Biên niên sự kiện lịch sử lực lượng an ninh nhân dân 1954-1975. NXB Công an Nhân dân. Hà Nội. 1997.
5. Lê Trọng Nghĩa. Hồi kí chưa công bố.
6. Lê Trọng Nghĩa. Hồi kí chưa công bố.
7. Hồ Khang. Tết Mậu Thân 1968 bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. NXB Chính trị Quốc gia 2008.
8. Lê Trọng Nghĩa. Hồi kí chưa công bố.
9. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho mẹ và quốc hội, NXB. Văn Nghệ, Califonia, 1995.
10. Lê Trọng Nghĩa. Hồi kí chưa công bố.
11. Biên niên sự kiện lịch sử lực lượng an ninh nhân dân 1954-1975. NXB Công an Nhân dân. Hà Nội. 1997.
12. Quan Doi Nhan Dan QĐND – Thứ Bẩy, 29/08/2009, 19:45 (GMT http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.qdnd.vn/Khong- duoc-roi-du-chi-mot-khac-Tiep-theo-va-het/3143 721.epi
13. Sophie Quinn Judge. The Ideological Debate in the DRV and the Significance of the Anti Party Affair, 1967-1968. Journal of Cold War History 5, issue 4. 11-12/2005. Cuộc đấu tranh hệ tư tưởng ngay trong lòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà & ý nghĩa của vụ chống Đảng 1967- 1968. Duy Tân Trẻ dịch. © Taylor & Francis. Bản tiếng Việt đăng trên talawas.
14. Vũ Kỳ. Bác Hồ với Tết Mậu Thân năm ấy. Văn Nghệ tết Mậu Dần 1998.
15. Lê Trọng Nghĩa. Hồi kí chưa công bố.
16. Quan Doi Nhan Dan QĐND – Thứ Bẩy, 29/08/2009, 19:45 (GMT http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.qdnd.vn/Khong- duoc-roi-du-chi-mot-khac-Tiep-theo-va-het/3143 721.epi
17. Quan Doi Nhan Dan QĐND – Thứ Bẩy, 29/08/2009, 19:45 (GMT http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.qdnd.vn/Khong- duoc-roi-du-chi-mot-khac-Tiep-theo-va-het/3143 721.epi
18. Lê Trọng Nghĩa. Hồi kí chưa công bố.
19. Biên niên sự kiện lịch sử lực lượng an ninh nhân dân 1954-1975. NXB Công an Nhân dân. Hà Nội. 1997.
20. Sophie Quinn Judge. The Ideological Debate in the DRV and the Significance of the Anti Party Affair, 1967-1968. Journal of Cold War History 5, issue 4. 11-12/2005. Cuộc đấu tranh hệ tư tưởng ngay trong lòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà & ý nghĩa của vụ chống Đảng 1967- 1968. Duy Tân Trẻ dịch. © Taylor & Francis. Bản tiếng Việt đăng trên talawas.
21. Lê Duẩn, Thư vào Nam. Thư gửi Đảng Bộ Sài Gòn- Gia Định 1/7/1967
22. Sophie Quinn Judge. The Ideological Debate in the DRV and the Significance of the Anti Party Affair, 1967-1968. Journal of Cold War History 5, issue 4. 11-12/2005. Cuộc đấu tranh hệ tư tưởng ngay trong lòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà & ý nghĩa của vụ chống Đảng 1967- 1968. Duy Tân Trẻ dịch. © Taylor & Francis. Bản tiếng Việt đăng trên talawas.

THƯ ĐIỀU TRẦN NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM

Kính gửi:                 Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc
Đồng kính gửi:        - Văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên hiệp quốc (OHCHR)
- Tổ chức Giám sát nhân quyền Liên hiệp quốc (UN Watch)
- Ban tổ chức Hội thảo “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc”
                                – Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

 Vừa có thêm một bằng chứng sống động nữa về khoảng cách biệt khó che giấu giữa tư duy và cách hành xử về điều được coi là “luôn bảo đảm các quyền con người” của Nhà nước Việt Nam với những tiêu chí nhân quyền có giá trị thực tế hơn rất nhiều của Liên hiệp quốc.

Bằng chứng sống động đó vừa ứng vào trường hợp của tôi –  Phạm Chí Dũng, một nhà báo độc lập ở Việt Nam.

I. Nhận thư mời từ UN Watch, một tổ chức phi chính phủ Thụy Sĩ có chức năng giám sát các vấn đề nhân quyền và dân chủ thuộc Liên hiệp quốc, tôi đã làm thủ tục visa và đã có vé máy bay để đến Genève tham dự cuộc hội thảo “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc” vào ngày 4/2/2014, bên cạnh cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam (UPR) diễn ra tại Genève vào ngày 5/2/2014.

Là một trong những diễn giả của cuộc hội thảo trên, bài tham luận của tôi sẽ đặt vấn đề về “Vai trò của các NGO nhằm thúc đẩy nhân quyền cho Việt Nam”, trong đó cần kíp xây dựng một mạng lưới liên kết giữa các NGO quốc tế và các nhóm dân sự Việt Nam nhằm thúc đẩy các vấn đề về quyền con người.

Thấu hiểu hoàn cảnh rất khó được xuất cảnh của tôi, ngày 29/1/2014, Văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên hiệp quốc đã gửi văn thư cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại diện thường trực của Chính phủ Việt Nam tại Genève và đại sứ Việt Nam tại Bangkok, đề nghị hỗ trợ đầy đủ cho chuyến đi của tiến sĩ Phạm Chí Dũng. Văn thư này cũng nêu rõ một trong những yêu cầu chủ yếu của cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam là sự tham gia của xã hội dân sự, và Liên hiệp quốc khuyến khích các nhóm dân sự và cá nhân Việt Nam tham dự cuộc kiểm điểm này.

 Những tin tức mà tôi nhận được cũng cho thấy Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đề nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam tạo thuận lợi cho chuyến đi Genève của tôi.

Trước tấm chân tình và những tương tác tiến bộ của cộng đồng quốc tế cùng giới hoạt động vì quyền con người ở Việt Nam, không thể khác là trong tôi mang nặng tình cảm xúc động và hàm ơn.
Nhưng bất chấp những vận động nhiệt tình và thiện ý của cộng đồng quốc tế, chuyến bay đi Genève của tôi vào ngày 1/2/2014 từ sân bay Tân Sơn Nhất đã bị ngăn chặn. Tại sân bay này, Cục quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Công an và cơ quan an ninh của Công an TP. Hồ Chí Minh đã thông báo miệng với tôi rằng “hội thảo ở Thụy Sĩ có thể bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm xuyên tạc và nói xấu nhà nước Việt Nam”, đồng thời những cơ quan an ninh này lập biên bản thu giữ hộ chiếu của tôi.

Trước đây vào tháng 8/2012, tôi cũng đã bị Công an TP. Hồ Chí Minh khuyến cáo “không nên đi” khi tôi được mời dự Hội thảo mùa hè ở Singapore về cải cách kinh tế Việt Nam. Việc không đồng ý với khuyến cáo của cơ quan an ninh cũng được hiểu là đương sự hoàn toàn có thể bị ngăn chặn tại sân bay nếu vẫn giữ nguyên kế hoạch xuất cảnh.

Gần đây nhất vào giữa tháng Giêng năm 2014, một blogger ở TP. Hồ Chí Minh là Thành Nguyễn đã bị cơ quan an ninh cửa khẩu ngăn chặn chuyến bay tới Mỹ, dù blogger này đã được tòa lãnh sự Hoa Kỳ cấp visa. Theo blogger Thành Nguyễn, phía cơ quan an ninh chỉ đưa ra một lý do rất mơ hồ trong việc ngăn chặn là “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội’.

Theo thống kê sơ bộ của giới hoạt động dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam, từ đầu năm 2013 đến nay đã có khoảng 10 trường hợp cá nhân bị ngăn chặn xuất cảnh tại các cửa khẩu, tương tự vụ việc của tôi.

Cũng có thông tin trong giới hoạt động dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam cho biết hiện đang tồn tại một danh sách lên đến khoảng 2,000 người bị cơ quan an ninh cấm xuất cảnh, trong đó nhiều trường hợp bị ngăn chặn thuộc về các cựu tù nhân lương tâm và những người bất đồng chính kiến.

II. Ngay trước thềm UPR diễn ra ngày 5/2/2014 tại Thụy Sĩ, hành động các cơ quan an ninh Việt Nam ngăn chặn việc xuất cảnh đối với tôi đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do đi lại của công dân – được ghi nhận tại điều 12 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia từ năm 1982; vi phạm nghiêm trọng Điều 23 của Hiến pháp Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 mà theo đó “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Với tư cách một công dân, tôi không vi phạm bất cứ quy định nào về pháp luật xuất nhập cảnh ở Việt Nam. Tôi cũng chưa từng được cơ quan an ninh thông báo về cá nhân tôi không được xuất cảnh.
Vô tình hay hữu ý, hành động ngăn chặn xuất cảnh như trên đã làm xấu đáng kể hình ảnh của Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế, chứng minh không thể sinh động và cập nhật hơn về việc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – một thành viên vừa được bầu của Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp quốc – lại vừa ngang nhiên vi phạm các cam kết về nhân quyền của Liên hiệp quốc, vi phạm Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, đồng thời vi phạm hiến pháp của chính nhà nước này.

Tuy vấn đề xuất cảnh của cá nhân tôi chỉ rất nhỏ bé, song vụ việc ngăn chặn xuất cảnh đối với tôi lại lồng trong khung cảnh nhiều chủ đề về quyền con người ở Việt Nam về dân sinh, dân quyền và chính trị vẫn còn thụt lùi sâu sắc, bất chấp rất nhiều hứa hẹn “sẽ cải thiện” từ phía một nhà nước luôn tuyên xưng “của dân, do dân và vì dân”.

Trong trường hợp cần thiết, tôi sẵn lòng phác tả về bức tranh nhân quyền mang sắc màu u ám trong một Việt Nam đương đại.

Lồng trong khung cảnh thụt lùi sâu sắc về nhân quyền như thế, nhiều công dân Việt Nam như tôi đang khắc khoải mong đợi những tác động đủ mạnh và đủ ý nghĩa từ cộng đồng nhân quyền quốc tế, đặc biệt là cuộc UPR sắp tới, hầu mong có thể phần nào cải thiện não trạng và cải hóa hành vi đối xử nhân quyền của nhà nước và các cơ quan an ninh Việt Nam.

Hơn lúc nào hết, ý nghĩa của những tác động quốc tế khó có thể tách rời tương lai định chế Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Nhà nước Việt Nam có thể được chấp thuận tham gia hay không, lồng trong bối cảnh quốc gia này đã chìm trong cơn suy thoái kinh tế kéo dài hơn 6 năm và phía trước là một cuộc khủng hoảng rất khó tránh thoát.

Thư điều trần này được gửi đến Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế liên quan, với lòng kính trọng những điều mà quý vị đang cống hiến cho nền dân chủ và nhân quyền trên toàn cầu.

Việt Nam ngày 2 tháng 2 năm 2014
Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng
(đã ký) 


Tuyên bố của Diễn đàn Xã hội Dân sự

Phản đối việc công an thành phố Hồ Chí Minh ngăn cản Ts. Phạm Chí Dũng xuất cảnh

Ngày 1-2-2014 Ts. Phạm Chí Dũng ra sân bay Tân Sơn Nhất để lên đường đi dự Hội thảo về nhân quyền và dân chủ, bên cạnh cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam tại Geneve theo lời mời của tổ chức UN-Watch đã bị công an thành phố Hồ Chí Minh ngăn cản không cho xuất cảnh.


Hành động này của công an thành phố Hồ Chí Minh đã vi phạm nghiêm trọng Điều 23 của Hiến pháp vừa có hiệu lực từ 1-1-2014 mà theo đó “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”; đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do đi lại của công dân được ghi nhận tại điều 12 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia từ năm 1982; đã bôi nhọ danh dự của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế vì nó cho thấy Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam một thành viên vừa mới được bầu của Hội đồng nhân quyền của Liên Hiệp quốc đã trắng trợn vi phạm nhân quyền, vi phạm công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, vi phạm hiến pháp của chính mình.

Biên bản số 166/BB-A72-TSN ngày 1-2-2014 đã viện đến đề nghị của Công an thành phố Hồ Chí Minh không cho Ts. Phạm Chí Dũng xuất cảnh dựa vào Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17-7-2007 của Chính phủ.

Điều 21 của Nghị định 136/2007/NĐ-CP quy định: “Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.
2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.
3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.
4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.
5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.
6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ”.

Theo Điều 21 rõ ràng các điểm từ 1 đến 5 và điểm 7 không áp dụng được trong trường hợp này và  chỉ có thể viện vào “lý do bảo vệ an ninh quốc gia” một nửa của điểm 6 mà thôi.

Điểm 3 của Điều 12 của Công ước về quyền dân sự và chính trị nêu rõ các quyền này sẽ “không phải chịu bất kỳ hạn chế nào, trừ những hạn chế do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền tự do của người khác, và phải phù hợp với những quyền khác được Công ước này công nhận.”

Điều 12 của Hiến pháp quy định “Nước cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam … tuân thủ Hiến chương Liên hiệp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên…” Như thế, những sự hạn chế quyền tự do đi lại phải do luật định mà Nghị định 136/2007/NĐ-CP không phải là luật và không thể viện dẫn đến Nghị định này để cản trở Ts. Phạm Chí Dũng hay bất cứ công dân khác nào xuất cảnh.

Ngay cả giả như có thể áp dụng Nghị định 136/2007/NĐ-CP thì hành động ngăn cản này cũng đã vi phạm thủ tục của chính Nghị định đó.  Khoản 1 của Điều 22 Nghị định trên quy định thẩm quyền quyết định chưa cho công dân xuất cảnh như sau: chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án hay cơ quan thi hành án có thể quyết định chưa cho xuất cảnh theo các khoản 1,2 và 3 của Điều 21; Bộ trưởng và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định chưa cho xuất cảnh theo khoản 4 Điều 21; Bộ trưởng Bộ Y tế theo khoản 5; Bộ trưởng Bộ Công an theo khoản 6; và Thủ trưởng cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người nêu tại khoản 7 của Điều 21 nêu trên.  
“Đề nghị của công an thành phố Hồ Chí Minh” như được viện dẫn trong biên bản 166/BB-A72-TSN (đã nêu trên) không phải là quyết định của công an thành phố Hồ Chí Minh (trong trường hợp này công an thành phố Hồ Chí Minh cũng chẳng có thẩm quyền ấy mà chỉ Bộ trưởng Bộ công an mới có thẩm quyền), thế nhưng  người ký quyết định chưa cho xuất cảnh trong biên bản trên lại là thượng tá Phạm quốc Hùng, phó trưởng Đồn công an của khẩu Tân sơn Nhất. Như thế quyết định nêu trong biên bản 166/BB-A72-TSN là một quyết định hành chính hoàn toàn trái pháp luật.

Vì những lý do trên Diễn đàn Xã hội Dân sự cực lực lên án công an thành phố Hồ Chí Minh đã phạm pháp trong việc cản trở Ts. Phạm Chí Dũng xuất cảnh và yêu cầu:

Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ công an nghiêm trị những kẻ đã có hành vi phạm pháp đối với Ts Phạm Chí Dũng cũng như đã ngăn chặn xuất cảnh một cách trái pháp luật đối với một số người khác.

Ts. Phạm Chí Dũng hoàn toàn có quyền kiện công an thành phố Hồ Chí Minh đã phạm pháp trong trường hợp này và trong trường hợp đó chúng tôi yêu cầu tòa án xử nghiêm minh.

Ts. Phạm Chí Dũng hoàn toàn có quyền kiện Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra trước Hội đồng Nhân quyền (HRC) của Liên Hiệp Quốc về sự vi phạm này, tương tự như các vụ Peltonen kiện nhà nước Phần Lan (mã số 4922/92) hay vụ Celepli kiện nhà nước Thụy Điển (mã số 456/91) vv… và trong trường hợp này chúng tôi yêu cầu HRC xét xử nghiêm minh.

Trong mọi trường hợp, Diễn đàn Xã hội Dân sự bày tỏ sự đoàn kết với Ts. Phạm Chí Dũng và kêu gọi tất cả mọi người ủng hộ Ts. Phạm Chí Dũng và mạnh mẽ lên án sự phạm pháp của công an thành phố Hồ Chí Minh, lên tiếng yêu cầu Chính phủ Việt Nam nghiêm trị những kẻ phạm pháp, tôn trọng công ước quốc tế, tôn trọng hiến pháp và có những biện pháp thích đáng để không xảy ra những vụ  phạm pháp tương tự với mọi công dân Việt Nam.

Ngày 2-2-2014
Diễn đàn Xã hội Dân sự

Sài gòn đang hấp hối – Soái Nga Phạm Nhật Vượng và Vạn Thịnh Phát đã và đang xẻ thịt trung tâm Quận 1

Có thành phố nào trên thế giới mà kiến trúc đô thị “hài hòa”, chơm chởm, và dị hợm như này không?

Cái cũ đang bị triệt phá, cái mới thì không biết bao giờ mới đến. Thành phố đang hấp hối. Sài gòn chưa bao giờ rơi vào cảnh ngộ như vậy.

Về toà nhà phía bên kia bức tường kính 

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Vai trò của các NGO nhằm thúc đẩy nhân quyền cho Việt Nam

Trích tham luận của tiến sỹ Phạm Chí Dũng  tại Hội thảo “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc” ngày 4/2/2014, bên cạnh cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam diễn ra tại Geneve vào ngày 5/2/2014.

 NQL:Vì không dự được Hội thảo“Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc” ngày 4/2/2014 nên anh Phạm Chí Dũng gửi cho Quê Choa bản tham luận này. Hy vọng dù Phạm Chí Dũng vắng mặt nhưng tham luận này vẫn sẽ được vang lên tại Genève.


II. Xã hội dân sự ở Việt Nam: phương châm và độ chín muồi:

* Phương châm nào?

Khác hẳn với xã hội dân sự ở các nước phát triển, các nhóm dân sự ở Việt Nam không có được không gian tự do biểu đạt, và không gian này càng bị thu hẹp trong bối cảnh thể chế chính trị một đảng được coi là “duy nhất” ở Việt Nam. Tình hình như thế dẫn đến hậu quả tất cả các nhóm dân sự đều có thể bị chính quyền đàn áp nếu bị coi là quá thiên về hoạt động chính trị nhằm thay đổi chế độ.

Thực ra về mục đích, xã hội dân sự với các phong trào dân sự không nhắm đến một cuộc tranh đua, giành đoạt về quyền lực đối với chính thể đương nhiệm.

Với sứ mệnh được mặc định của mình, xã hội dân sự chỉ nhằm làm cho chính quyền nhận ra được những sai lầm trong chính sách và quá trình thực hiện chính sách, từ đó tiến hành hủy bỏ hoặc điều chỉnh những chính sách, nhân sự thực hiện.

Ôn hòa, bất bạo động, tránh đổ máu là những đặc trưng trong phương pháp hoạt động của xã hội dân sự và các phong trào dân sự. Chính phương châm này đã loại trừ tâm trạng lo lắng đầu tiên của những người muốn tham gia phong trào dân sự là liệu họ có bị sách nhiễu hoặc thậm chí bị bắt bởi những hoạt động thuần túy xã hội của mình.

* Đã chín muồi để xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam?

Việt Nam hiện thời đang phải đối mặt với tình trạng kinh tế lụn bại, tham nhũng ghê rợn chưa từng thấy, xã hội nhiễu nhương đạo lý, chính trị bất nhất đạo đức, tình cảm của người dân chuyển từ bức xúc đến phẫn nộ rồi tràn sang phẫn uất. Trong bối cảnh đó u uất đó, những người muốn có một sự thay đổi lớn lao về thể chế chính trị không phải là ít.

Xã hội dân sự là một trong những phương cách tốt nhất để tạo nên sự thay đổi cấp thiết ấy.

Hãy làm sao để người dân nhận ra rằng được sinh ra từ lòng xã hội dân sự, các phong trào dân sự không phải là một khái niệm cao siêu mà giai cấp nông dân và công nhân không thể với tới được.

Ngược lại, hoạt động dân sự trong xã hội dân sự là những gì thiết thân và gần gũi nhất với đời sống dân sinh, nhằm hỗ trợ giải quyết một cách thấu tình đạt lý những bức xúc của dân chúng liên quan đến nhiều chủ đề thiết thực trong hiện tồn Việt Nam như Hiến pháp, tham nhũng, đất đai, môi trường, biển đảo, quyền lợi người lao động, thị trường, các chính sách công bất hợp lý…

Có quá nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong bối cảnh chính quyền không có đủ năng lực và ngày càng mất đi sự công tâm cần có để bảo đảm việc chấp nhiệm một cách công bằng. Đó cũng chính là nhu cầu xã hội đang nảy sinh trong lòng xã hội Việt Nam đương đại, đòi hỏi phải có những tác động phi chính phủ, tức hoạt động nằm ngoài khuôn khổ của đảng và chính quyền, giúp cho người dân nhận thức được bản chất của những mâu thuẫn, khó khăn, xung đột và tìm cách giải quyết phần nào những mối nguy đó.

* Những tiền đề của xã hội dân sự ở Việt Nam:

Có thể xem phong trào phản biện Bauxite từ năm 2007 là tiêu điểm đầu tiên mang dấu ấn của nhóm trí thức xuất thân từ lòng đảng, nhưng đậm nét cách tân và có quan điểm cách mạng hơn nhiều so với những lề thói cũ. Công cuộc phản đối dự án khai thác bauxite của Trung Quốc cũng có thể có ý nghĩa không kém thua so với 11 cuộc biểu tình chống sự can thiệp của Bắc Kinh vào Biển Đông vào năm 2011.

Đến đầu năm 2013, nhóm “Kiến nghị 72” với những kiến nghị chưa có tiền lệ về đổi mới Hiến pháp, là một hiện tượng có vẻ như đột biến, nhưng thực chất là tuân theo đúng quy luật biện chứng “lượng đổi dẫn đến chất đổi”. Sau nhiều năm không nhận ra một sự thay đổi và cải thiện đáng kể nào từ phía đảng và chính quyền, giới trí thức bất đồng tiên phong đã phải trực chỉ một điều cốt tử: một khi nền chính trị Việt Nam không có đối trọng - được thể hiện bởi những lực lượng vật chất - những chính sách bất hợp lý về tư tưởng và bất công về quyền lợi của nó chỉ có thể dẫn dân tộc đến hố sâu phân hóa và tự triệt tiêu động lực tiến bộ.

Có thể coi sự hình thành của “Kiến nghị 72” nhằm thay đổi điều 4 Hiến pháp về vai trò độc đảng là dấu mốc cực kỳ quan trọng cho việc khởi xướng tiền đề của hoạt động xã hội dân sự ở Việt Nam trong tương lai.

Sau “Kiến nghị 72”, một số blogger trẻ cũng đã khởi phát phong trào 258 - một hoạt động mà về hình thức chỉ là tiếp xúc và trao bản tuyên bố phản đối điều 258 Bộ luật hình sự cho các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài và một số tổ chức nhân quyền quốc tế, nhưng thực chất là bày tỏ thái độ phản đối công khai đối với chính quyền theo tinh thần minh bạch hóa và tác động thay đổi chính sách của xã hội dân sự.

Năm 2013 là thời điểm của sự hình thành những tiền đề các nhóm dân sự. Hàng loạt tổ chức dân sự mới ra đời như Diễn đàn Xã hội dân sự, nhóm Phụ nữ nhân quyền Việt Nam, Hội Bầu bí tương thân, Hội Dân oan Việt Nam…. Đến nay, đã có ít nhất 15 tổ chức dân sự có khuynh hướng tác động nhằm điều chỉnh hoạt động chính trị ở Việt Nam, chưa kể nhiều tổ chức dân sự mang mục tiêu giáo dục, xã hội và văn hóa.

Cũng chủ yếu từ năm 2011 đến nay, hoạt động truyền thông xã hội tại Việt Nam đã hình thành một cách dày dạn và tỏ ra can đảm hơn hẳn hoạt động thông tin “lề trái” ở Trung Quốc. Số người viết ngày càng nhiều, nhưng quan trọng hơn, số bài viết có chất lượng và có sức lan tỏa, tính kết nối với hệ thống truyền thông quốc tế ngày càng tăng. Truyền thông quốc tế lại tác động đến nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế và chính phủ các quốc gia hàng đầu về dân chủ và nhân quyền, tạo nên hiệu ứng tác động ngược lại đối với nhà cầm quyền ở Việt Nam.

Chính hiệu ứng “trong ra ngoài vào” như vậy đã thực sự làm nên một đối trọng về áp lực dư luận đối với hệ thống báo đảng, khiến cho các cơ quan tuyên giáo từ trung ương đến địa phương không thể xem thường truyền thông xã hội. Trong một số trường hợp liên quan đến “Kiến nghị 72”, vụ tuyệt thực của hai tù nhân lương tâm Cù Huy Hà Vũ và Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, vụ bắt rồi thả một nữ sinh là Phương Uyên, đề xuất thành lập đảng mới của một luật gia là ông Lê Hiếu Đằng, hiện tượng thoái - bỏ đảng, lễ tưởng niệm ngày mất đảo Hoàng Sa…, giới báo chí “lề đảng” đã phải chọn cách đứng trước vành “đối chất” thay vì phẩy tay bỏ qua vào những năm trước.

Truyền thông xã hội lại là một thành phần đương nhiên của xã hội dân sự. Đó cũng là lý do để có thể tạm thời kết luận rằng một phần quan trọng và có thể có tính quyết định của xã hội dân sự đã manh nha và đang dần khởi sắc ở Việt Nam, cho dù chân đứng của nó có lẽ còn khá lâu nữa mới vững chắc và đồng vị tại một điểm thống nhất nào đó.

* Ảnh hưởng đối ngoại đối với sự hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam:

Trong bối cảnh hình thành những tiền đề đầu tiên của xã hội dân sự, hướng mở về đối ngoại kéo theo độ mở về chính trị đã cho thấy chưa bao giờ từ năm 1975 đến nay, Nhà nước Việt Nam lại “cần” đến cộng đồng quốc tế như bây giờ. Nhu cầu thiết thân về quyền lợi và quyền lực như thế đang liên quan trực tiếp đến các chủ đề hấp dẫn như Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương - TPP, cũng như lời hứa hẹn về “đối tác chiến lược toàn diện” từ phía người Mỹ, trong đó trước mắt là một vài động thái liên minh quân sự giữa Việt Nam và Hoa Kỳ để giảm thiểu tác động rất tiêu cực từ Trung Quốc.

Hiển nhiên là giai đoạn đầu của xã hội dân sự đang diễn ra ở Việt Nam, trong bối cảnh nhà nước này đang dần phải chấp nhận những giá trị phổ quát về nhân sinh, nhân quyền và dân chủ của cộng đồng quốc tế. Đó cũng là lý do để có thể cho rằng đã có những tín hiệu cho thấy một số quan chức cao cấp nào đó của đảng và chính quyền, tuy chưa công khai biểu hiện quan điểm vì lý do chưa muốn hoặc vẫn bị áp lực bởi “chủ nghĩa kinh viện tập thể”, vẫn đang có xu hướng âm thầm “xoay trục” sang phương Tây và dần chấp nhận đường hướng một mô hình xã hội dân sự nào đó trong tương lai cho Việt Nam. Vào cuối năm 2013 và đầu năm 2014, đã có những dấu hiệu từ giới truyền thông của đảng cho thấy vấn đề xã hội dân sự đang bắt đầu được giới đảng quan tâm theo chiều hướng buộc phải thích nghi với đòi hỏi của cộng đồng quốc tế.

Đó cũng là lý do để có thể cho rằng tỉ lệ thuận với khuynh hướng “xoay trục” sang phương Tây, một nhận thức mới mẻ đang dần hình thành trong não trạng của một số lãnh đạo cao cấp: trong tương lai gần, một lực lượng trí thức có tính độc lập tương đối với hệ tư tưởng của đảng, có thể là cần thiết được duy trì mà không bị sách nhiễu hoặc bắt bớ, với mục đích tạo nên một ráng hồng dân chủ nào đó cho khuôn mặt của chế độ, cũng là nhân tố có thể mang lại thiện cảm với các tổ chức và quốc gia trên thế giới quan tâm đến vấn đề dân chủ, nhân quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, lực lượng trí thức độc lập này còn có thể là cầu nối trong - ngoài để một số quan chức cao cấp Việt Nam dễ tiếp cận hơn với các tổ chức quốc tế. Nhưng tất nhiên, đó chỉ là nhận thức và suy diễn chủ quan của giới quan chức đảng, trong khi phần lớn tương lai của xã hội dân sự lại do chính giới trí thức Việt Nam tự quyết.

III. Dự báo những diễn biến chủ lưu ở Việt Nam năm 2014:

Dự báo tổng quan, năm 2014 sẽ chứng kiến 5 diễn biến chủ lưu ở Việt Nam:

(1) 2014 là năm đầu tiên của một chu kỳ khủng hoảng ngân hàng, bắt đầu từ sự đổ vỡ của vài ngân hàng hạng trung và có thể dẫn đến sụp đổ dây chuyền trong ít nhất 50% số ngân hàng hiện hữu trong vài năm sau đó, dẫn đến khủng hoảng gần như toàn bộ nền kinh tế. Chu kỳ khủng hoảng kinh tế có thể lên đến cao điểm vào năm 2016 - 2017 và trở thành sóng nhấn cuối cùng đối với con thuyền chính trị bươm rách. Đây là diễn biến quan yếu nhất.

(2) Bất ổn xã hội và phản kháng dân chúng sẽ tăng cao về số lượng, quy mô, tạo nên áp lực lớn đối với chính thể và nằm trong giai đoạn đầu của một cuộc khủng hoảng xã hội trong những năm sau. Xu hướng này sẽ mau chóng biến thành xu thế ở rất nhiều địa phương, liên quan đến đất đai, môi trường, quan hệ giữa người dân và nhân viên công lực, nạn tham nhũng… Sẽ xuất hiện nhiều hội nhóm độc lập của người dân như những tiền đề của xã hội dân sự.

(3) Bước khởi động cho cuộc tranh đua chính trị chuẩn bị cho đại hội đảng thứ 12, đặc biệt là vị trí tổng bí thư đảng và vai trò thủ tướng, kể cả vấn đề “hậu chuyển tiếp” cho một mô hình chính trị mới.

(4) Xu hướng và lực lượng gần gũi với phương Tây sẽ rõ nét và chiếm ưu thế hơn trong nội bộ đảng. Nếu thành công trong hai năm 2014 - 2015, xu hướng này sẽ chuyển thành xu thế vào các năm 2016 - 2017 và có thể tạo nên một sự thay đổi lớn về bản chất chế độ chính trị.

(5) Hoạt động dân chủ gia tăng đáng kể về số lượng hội nhóm, nhưng bị hạn chế về nguồn nhân lực và thiếu tính trực tiếp với nhu cầu dân sinh nên không thu hút được số đông quần chúng. Chỉ một bộ phận nhỏ trong số các nhóm dân chủ hoạt động có tính thực chất và đạt được thành công ở mức độ khiêm tốn.

Dưới đây là phần dự báo một số vận động cụ thể:

* Tình hình nhân quyền và những đối sách về nhân quyền của đảng và chính quyền:

Trong năm 2014, có khả năng Quốc hội sẽ được tác động ở mức độ nhất định để ban hành Luật tiếp cận thông tin, Luật lập hội và có thể cả Luật biểu tình. Cả ba đạo luật này đều mặc nhiên xuất phát từ nhu cầu và cũng là xu thế đương nhiên của xã hội công dân, đồng thời là một trong những điều kiện của khối phương Tây trong mối quan hệ thương mại đa phương với Việt Nam.

Cũng nhằm thỏa mãn nhiều hơn yêu cầu của người dân và đòi hỏi của cộng đồng quốc tế, giới chính khách trong nước nhiều khả năng sẽ thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia trong năm 2014. Việc hình thành cơ quan này là một đối sách cho 14 điều cam kết của Nhà nước Việt Nam khi ứng cử Hội đồng Nhân Quyền Liên hiệp quốc, trong đó có nội dung “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, củng cố các tổ chức quốc gia bảo vệ nhân quyền, trong đó có thể thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia”.

Cơ quan nhân quyền quốc gia có thể tồn tại dưới hình thức Hội đồng nhân quyền quốc gia hoặc như một ủy ban nhân quyền quốc gia trực thuộc chính phủ, thay thế cho ban chỉ đạo nhân quyền quốc gia trước đây. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều dấu hiệu hứa hẹn cho việc cơ quan nhân quyền quốc gia này sẽ nhận thức và hành động cân bằng giữa nhiệm vụ “phòng, chống các thế lực lợi dụng nhân quyền” với việc quan tâm thực chất đến quyền con người của dân chúng.

Một thỏa hiệp khác của Nhà nước Việt Nam với phương Tây là sẽ dần thừa nhận vai trò và dần chấp nhận sự tồn tại và vận động của xã hội dân sự ở Việt Nam, và thái độ này sẽ thể hiện rõ nét hơn trong năm 2014. Thỏa hiệp này liên quan đến một trong 14 điều cam kết của Nhà nước Việt Nam khi ứng cử Hội đồng Nhân Quyền Liên hiệp quốc là “Tăng cường nền tảng dân chủ và sự tham gia của nhân dân vào sự lập kế hoạch và thực hiện các chính sách, cải thiện việc Việt Nam tham gia trong các tổ chức chính trị, xã hội trong lĩnh vực nhân quyền”.

Tình hình trên sẽ dẫn đến việc năm 2014 sẽ xuất hiện nhiều tổ chức dân sự hơn năm 2013. Nếu chỉ xét đến các tổ chức dân sự theo đường hướng xã hội - chính trị, số tổ chức hình thành trong năm 2014 có thể gấp đôi năm 2013. Tuy nhiên, điều đáng quan ngại là một số trong đó hoạt động thiếu tính thực chất.

Trong bối cảnh xã hội dân sự bắt đầu được thừa nhận, hoạt động truyền thông xã hội (còn gọi là “lề trái”) sẽ được “hợp thức hóa” và sẽ gia tăng về số lượng, trong khi cơ chế cản trở bằng bức tường lửa trên mạng Internet sẽ giảm bớt.

Năm 2014 cũng có thể chứng kiến một số biểu hiện giao lưu, kết nối kín đáo giữa báo chí “lề phải” với truyền thông “lề trái” về quan điểm và mối tương tác trong một số vụ việc nhạy cảm của xã hội, kinh tế. Theo đó, hiện tượng nhà báo, phóng viên “lề phải” trực tiếp hoặc gián tiếp gia nhập hoạt động truyền thông “lề trái” sẽ gia tăng về số lượng, cung cấp thêm cho “lề trái” một lực lượng nhỏ cây viết chuyên nghiệp. Hiện tượng này sẽ diễn ra bất chấp sự ngăn cản và cấm đoán của hệ thống tuyên giáo đảng.

Tình hình trên cũng có thể dẫn đến chủ trương chính quyền tạm thời không thi hành biện pháp bắt bớ giới bất đồng chính kiến, nhưng thay vào đó sẽ tiếp tục tăng cường hành động gây khó khăn cản trở, sách nhiễu đối với giới này. Đặc biệt tại một số địa phương, những nhóm dân chủ hoạt động công khai ngoài đường phố sẽ có thể hứng chịu hình ảnh “đấm đá nhân quyền” hoặc những hành vi dưới tầm mức văn hóa của nhân viên công lực.

Xu thế chính trị đối ngoại lẫn đối nội cũng tạo điều kiện cho sự xuất hiện đảng chính trị độc lập và còn có thể xuất hiện đảng chính trị đối lập trong dân chúng, tuy chỉ với quy mô nhỏ.

* Khuynh hướng và động thái ngả về phương Tây trong chính giới Việt Nam:

Với những dấu hiệu manh nha từ năm 2013, xu hướng nhóm chính khách mang quan điểm gần gũi hơn với phương Tây sẽ nổi lên rõ hơn vào năm 2014, dần trở nên cân bằng và có thể còn có phần lấn ảnh hưởng của nhóm chính khách “thân Trung Quốc” ở Hà Nội và tại một số tỉnh thành. Biểu hiện sớm nhất và rõ nhất của sự đối chọi giữa hai xu hướng này là mối giao kết về hợp tác hải quân Việt - Mỹ sẽ gia tăng, trong khi Trung Quốc sẽ lại xúc tiến gây hấn tại biển Đông vào một số thời điểm, trùng với thời gian mà mối quan hệ Việt Nam - phương Tây trở nên “nồng ấm” hơn.

Xu hướng ly khai dần khỏi tâm điểm Bắc Kinh cũng liên quan mật thiết đến chính sách nhập khẩu nguyên, phụ liệu của Việt Nam từ Trung Quốc. Để có thể tham gia đầy đủ vào TPP và được miễn thuế xuất khẩu hàng hóa, Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu là hàng hóa đó phải có xuất xứ từ các nước nội khối TPP, trong khi Trung Quốc vẫn chưa phải là thành viên TPP. Do đó, Chính phủ Việt Nam có thể phải tìm nhiều cách để giảm bớt cơ cấu nhập khẩu nguyên, phụ liệu từ Trung Quốc và chuyển đổi vùng nhập khẩu sang các quốc gia khác. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ đầy thách thức vì trước đó có đến 80-90% nguyên phụ liệu phụ thuộc vào Trung Quốc, và bởi sức ép về chính trị và kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam là liên tục và sẵn sàng căng thẳng.

Tuy nhiên, với “quyết tâm” tìm phao cứu sinh từ ngoại viện phương Tây, Việt Nam sẽ được chấp thuận tham gia vào TPP trong năm 2014, thậm chí khả năng này có thể xảy ra ngay trong nửa đầu năm 2014. Tuy nhiên, tính hiệu quả của TPP là không thể tức thời, khi thời hiệu áp dụng sớm nhất của hiệp định này là giữa năm 2015 hoặc đầu năm 2016.

Để được chính thức chấp thuận tham gia vào TPP, Nhà nước Việt Nam sẽ chấp nhận một số điều kiện của phương Tây về cho phép hình thành nghiệp đoàn lao động, lập hội và cải cách doanh nghiệp nhà nước (liên quan đến cơ chế giảm dần và tiến đến xóa độc quyền của một số doanh nghiệp như điện lực, xăng dầu…).

* Cuối 2014: khởi đầu khủng hoảng kinh tế:

Một sự thật không thể chối bỏ là cho dù được chấp thuận bởi TPP, nền kinh tế Việt Nam vẫn quá khó trong năm 2014. Rất nhiều khả năng nền kinh tế này sẽ vận động ngang trong năm 2014 chứ không thể tăng tốc được, và cũng chưa có dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy sẽ “thoát đáy”.

Với những dấu hiệu khá rõ ràng về tình trạng đóng băng bất động sản, nợ xấu, thực trạng khan hiếm tiền mặt, tình trạng bi đát của hệ thống ngân hàng thương mại vào cuối năm 2013, nhiều khả năng hệ thống ngân hàng bắt đầu bước chân và giai đoạn đổ vỡ vào nửa cuối năm 2014. Khi đó nền kinh tế cũng bắt đầu thời kỳ đầu tiên lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, khi trước đó đã có 7 năm suy thoái.

* Bất ổn và phản kháng: giai đoạn đầu của khủng hoảng xã hội:

Kinh tế tiếp tục suy thoái và bắt đầu bước chân vào khủng hoảng là mảnh đất phì nhiêu cho các mầm mống bất ổn xã hội. Nếu trong năm 2013, bất ổn đã sinh ra từ nhiều phản ứng và phản kháng của dân chúng đối với chính quyền, thì đến năm 2014, số lượng và quy mô phản kháng chắc chắn sẽ tăng cao hơn.

Phản kháng dân chúng sẽ tập trung vào lĩnh vực đất đai, môi trường, điều kiện lao động, giá cả. Số cuộc và số người dân tuần hành, biểu tình sẽ gia tăng so với năm 2013.

Hiện tượng chống nhân viên công lực và hiện tượng “tự xử” của người dân cũng sẽ gia tăng nhanh chóng tại nhiều địa phương và ngay tại Hà Nội. Hầu hết hiện tượng như vậy đều diễn biến theo chiều hướng tự phát và thiếu kiểm soát. Trong một số trường hợp gặp phải tác động tiêu cực từ phía cơ quan công quyền, phản ứng tự phát của người dân có thể biến thành bạo động cục bộ và quy mô nhỏ.

Vào cuối năm 2014, trong khung cảnh có thể khởi đầu khủng hoảng kinh tế, quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ lương hưu cũng có thể bắt đầu lâm vào tình trạng nguy hiểm. Cùng với làn sóng thoái - bỏ đảng phát sinh vào thời điểm này, có thể phát sinh những phản ứng mạnh mẽ đầu tiên của tầng lớp hưu trí, làm tiền đề cho xu thế bỏ đảng trong giới hưu trí và cả một bộ phận thuộc giới đảng viên đương chức trong những năm sau.

IV. Hành động của xã hội dân sự:

* Làm thế nào để các phong trào dân sự có thể được xây dựng nhanh chóng và lan tỏa được ở Việt Nam?

Một số đánh giá mang tính ước đoán cho biết hiện thời có ba nhóm quan điểm chính trị chủ yếu ở Việt Nam. Nhóm thứ nhất gồm khoảng 30% trí thức trong đảng và nhà nước, bao gồm cả quan chức, được xem là nhóm “trung thành” và có quyền lợi thiết thân với chức vụ và các đặc quyền trong hệ thống. Ngược lại với nhóm thứ nhất, nhóm thứ hai có khoảng 20% trí thức trong các cơ quan nhà nước, không phải đảng viên hoặc vẫn là đảng viên, nhưng có tư tưởng cấp tiến, muốn thay đổi, song chưa có điều kiện để thể hiện quan điểm và hành động của họ. Nằm giữa hai khuynh hướng vừa đề cập là nhóm thứ ba với khoảng 50% trí thức trong đảng và nhà nước - những người không gắn bó đặc biệt với quyền lợi và chức vụ, mang quan điểm trung dung.

Cũng có những đánh giá cho rằng một xã hội dân sự được tổ chức tốt sẽ có thể thu hút đến ít nhất phân nửa số trí thức đang làm việc cho hệ thống của đảng và nhà nước.

Muốn xã hội dân sự được rút ngắn cung đường khởi động, yếu tố đoàn kết phải là con ngươi của phong trào phản biện, phong trào dân sự và do đó của xã hội dân sự trong tương lai ở Việt Nam. Tình trạng xa cách giữa nhóm trí thức phản biện độc lập với các trí thức trong đảng và hệ thống nhà nước như hiện thời là yếu huyệt nguy hiểm nhất trên con đường cải hóa các mục tiêu xã hội và chính trị, gây loãng tác động điều chỉnh chính sách và càng làm cho đời sống dân tình trở nên khốn khó, bức bách hơn.

Bức bách thách đố đối với những người hoạt động dân chủ ở Việt Nam lại là phải tạo ra được bầu không khí tranh luận thật sự dân chủ trong đa nguyên tư tưởng, gạt sang một bên những đố kỵ, tị hiềm, ganh ghét hoặc nói xấu lẫn nhau - những biểu hiện vẫn luôn bị coi là một thói xấu trong lịch sử văn hóa của người Việt.

* Những mục tiêu cụ thể của các phong trào dân sự:

Trong giai đoạn đầu của xã hội dân sự, một số hành động cần được ưu tiên triển khai là:

Nhóm hành động chính trị - xã hội: lên tiếng bảo vệ chủ quyền biển đảo, hạn chế sự phụ thuộc của nền kinh tế và chính trị Việt Nam vào Trung Quốc; phản biện chống tham nhũng và các nhóm lợi ích, nhóm thân hữu; thúc đẩy Quốc hội sớm ban hành Luật biểu tình, Luật lập hội, Luật trưng cầu dân ý; thúc đẩy tiếng nói của trí thức độc lập tại Quốc hội; thúc đẩy tính hợp hiến và hợp pháp hóa của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo; phản biện đối với các điều luật chính trị hóa hành vi phản phản biện như điều 79, 87, 88, 258 trong Bộ luật hình sự; phản biện đối với điều kiện giam giữ phạm nhân trong các trại giam; hỗ trợ tinh thần và vật chất cho các gia đình có người bị giam giữ, liên quan đến yếu tố chính trị…

Nhóm hành động kinh tế - xã hội: bảo vệ quyền lợi của nông dân trước hành vi trưng thu đất đai bất hợp pháp và vô lối; phản biện đối với chủ đề sở hữu trong Luật đất đai và cơ chế thu hồi đất đối với các dự án kinh tế - xã hội; bảo vệ quyền lợi của công nhân và thị dân về điều kiện làm việc và an sinh xã hội; đấu tranh chống tác động tiêu cực của một số doanh nghiệp đối với môi trường tự nhiên…

Thái độ lên tiếng của phong trào dân sự cũng không thể bỏ qua việc phản biện đối với một số vấn đề kinh tế gay gắt như nợ công quốc gia; nợ và nợ xấu; tính độc quyền của kinh tế quốc doanh và một số tập đoàn; ngân hàng; các thị trường đầu cơ như vàng, bất động sản; những ngành có liên quan mật thiết đến người tiêu dùng như điện, xăng dầu, nước…

Và để tự nâng mình lên, các phong trào dân sự cũng phải phản biện với chính những tiếng nói phản biện thiếu tinh thần xây dựng và đoàn kết trong giới hoạt động dân chủ ở Việt Nam và hải ngoại.

Trước mắt hoạt động của phong trào dân sự cần nhích thêm một bước: không chỉ là diễn đàn trên mạng, mà phải hình thành các nhóm công khai trong đời sống theo phương châm ôn hòa, bất bạo động.

Ngay từ bây giờ, đang rất cần đến một sự kết nối có tính thành tâm, hữu dụng và bài bản giữa các nhóm trí thức phản biện độc lập, trí thức trong đảng với các nhóm dân sự tiêu biểu của nông dân, công nhân, tiểu thương, sinh viên, tín đồ tôn giáo trong nước, cùng khối trí thức và kiều bào Việt Nam ở nước ngoài.

V. Những đề nghị với các NGO quốc tế:

Dân sinh và môi trường luôn là những tiêu chí đấu tranh rất quan trọng của phong trào dân sự trên thế giới. Ở nhiều quốc gia, đặc biệt những quốc gia phát triển, những tổ chức phi chính phủ như Hòa Bình Xanh, Chữ Thập Đỏ, DANIDA… đã xây dựng được vai trò và sự ảnh hưởng lớn lao đối với việc cải thiện các vấn đề môi trường và xã hội.

Bài học kinh nghiệm mà nhiều tổ chức phi chính phủ hàng đầu trên thế giới đã tích lũy được và đưa vào chiến lược hành động của họ là không thể thụ động trông chờ thái độ cải hóa và sự cải tiến tự thân của các cấp chính quyền, mà phải tạo được hành động tác động đối với chính quyền nhằm thay đổi về chính sách và những vấn đề liên quan. Đường lối hành động này trong thực tế đã trở nên hiệu quả hơn hẳn ở nhiều quốc gia châu Á như Bangladesh, Ấn Độ, Myanmar và Campuchia, hay gần đây là cáo buộc của tổ chức phi chính phủ Global Witness đối với Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai ở Việt Nam…

Sứ mệnh của các NGO tại các quốc gia phát triển (còn gọi là NGO phương Bắc) không chỉ là cung cấp viện trợ và “cần câu” cho các NGO ở các quốc gia đang và kém phát triển (còn gọi là NGO phương Nam), mà luôn cần được ưu tiên về hoạt động truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm về công tác tổ chức, đào tạo và thực hiện dự án, đặc biệt là kinh nghiệm làm thế nào để tạo tác động có hiệu quả đối với các chính sách bất hợp lý, bất công của chính quyền sở tại, nhằm cuối cùng điều chỉnh hoặc xóa bỏ những chính sách đó để bảo vệ quyền lợi người dân và các đối tượng dân chúng chịu rủi ro, mang lại công bằng hơn cho xã hội.

Con số 15-20 tổ chức dân sự độc lập ở Việt Nam là không thể so sánh với 2 triệu NGO đăng ký hoạt động tự do ở Hoa Kỳ. Những gì mà tiền đề xã hội dân sự ở Việt Nam đang biểu hiện cũng trở nên quá ít ỏi so với các xã hội dân sự trưởng thành ở Bắc Âu. Đó chính là lý do mà một xã hội dân sự tương lai của Việt Nam cần dựa vào kinh nghiệm và đường lối của các mạng lưới xã hội dân sự phát triển trên thế giới, nhằm mục tiêu tự xác lập thái độ và cách thức hành xử hợp lý đối với các chế độ chính trị ở Việt Nam - hiện hữu và trong nhiều năm tới.

Từ nhu cầu cấp thiết trên, tham luận này xin nêu ra một đề nghị ban đầu với các NGO quốc tế - những người có mặt trong phòng họp ngày hôm nay và những NGO đang muốn tìm kiếm một nối kết nhiệt thành và hiệu quả với xã hội dân sự ở Việt Nam. Theo đó, cần thành lập mạng lưới NGO quốc tế và NGO Việt Nam. Mạng lưới này nhằm tiến hành một số hoạt động như:

- Tổ chức nghiên cứu các dự án xã hội, thể chế. Trước mắt cần tổ chức nghiên cứu đề tài về xã hội dân sự ở Việt Nam để chuẩn bị cho tương lai.

- Tổ chức truyền thông: đào tạo người viết và cách thức làm báo.

- Can thiệp, tác động các vấn đề về nhân quyền. Trước mắt, cần can thiệp, tác động về chủ đề đất đai, môi trường, nghiệp đoàn lao động, cải thiện chế độ lao tù. Cần thí điểm một số trường hợp cụ thể tại một số địa phương.

- Tổ chức đào tạo diễn giả, thông tín viên để chuyển tải thông tin từ trong nước ra quốc tế.

Về lâu dài, xã hội dân sự và các mạng lưới các NGO ở Việt Nam cần xây dựng một chiến lược mang tính thống nhất về phương châm, mục tiêu, tổ chức, lĩnh vực hoạt động, khu vực hoạt động để hoàn thiện vai trò của mình.

Kết

Hãy hành động, hành động và hành động! Vì dân sinh, dân quyền, dân chủ và dân trí! Thay đổi của xã hội cũng là hệ quả cho phản biện và cơ hội cho dân chủ cùng xã hội dân sự ở Việt Nam.

Phải thay đổi về não trạng của chính quyền và nhận thức của người dân để có thể cống hiến cho xã hội nhiều hơn nữa. Phong trào dân sự và những điều kiện cho một xã hội dân sự ở Việt Nam đang nằm trong xu thế và lộ trình khởi động trong 3-4 năm tới. Và nếu được tổ chức tốt, xã hội dân sự hoàn toàn có thể góp sức cho xã hội về những triển vọng lạc quan trong tương lai dài hạn của dân tộc.

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

Khen tên dân gian của Tổng Bí thư

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

Báo Đại biểu Nhân dân nói người ta bảo ông Trọng 'Lú' vì không ăn tiền

Báo  Đại biểu Nhân dân có bài nói Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam có tên dân gian 'Trọng Lú' vì người dân 'khen ông sạch' và chê các lãnh đạo khác tham tiền. 

Lời nói dối ngọt ngào cộng sản

Nguyên thứ trưởng Trần Nhơn
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu “di huấn”
Lời trải nghiệm để lại cho đời:
Đừng bao giờ nghe cộng sản nói,
Hãy chỉ nhìn hành động mà thôi!(1)
Lời có cánh xuyên đại dương, biên giới,
Người cộng sản phải biết lắng nghe.
Để lột xác căn cơ thay đổi,
Giã từ trò “thịt chó đầu dê”!

Ba bài chúc Tết của anh Tư Sang

Chủ tịch nước Chúc Tết: 2 năm quên “ổn định chính trị”, “an ninh”, “CNXH”, nhưng nhớ “tiền nhân”, “tổ tiên”. Năm nay thêm “dân chủ rộng rãi”, “pháp quyền tiến bộ”

Đơn giản chỉ là trò nhàm chán dò chữ, đối chiếu và liệt kê thôi, với thứ văn bản có lẽ hiếm ai chịu đọc, đưa lên để quý độc giả cùng suy nghĩ. 

Nếu như đó là một trong những màn dạo đầu cho vài thay đổi chút ít nào đó trong tư duy và mong muốn của người cầm quyền, mà khó có thể huỵch toẹt ra, sợ bị đám bảo thủ “kiên định lập trường” có cớ sinh sự, thì cho ta chút hy vọng

Còn nếu vẫn chỉ là minh họa cho những vở diễn chính trị mị dân được xem mãi đã nhàm chán như Táo Quân 2014, thì … cũng chẳng lạ.

Dân trí

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc Tết Nhâm Thìn (2012)

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài!
.
Vào thời khắc giao thừa thiêng liêng chào đón năm mới Nhâm Thìn – 2012, tôi thân ái gửi tới toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ trên mọi miền của Tổ quốc, đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Đặc biệt, tôi gửi tới cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ ở các vùng biên giới, hải đảo xa xôi; cán bộ, công chức, viên chức vì yêu cầu nhiệm vụ phải đón tết xa nhà, những tình cảm thân thiết nhất.
.
Chúc đất nước ta bình yên, thịnh vượng, chúc mọi người, mọi nhà ấm no, hạnh phúc. Tôi cũng gửi tới các bạn nước 
1 
ngoài đang sống và làm việc trên đất nước Việt Nam, đến nhân dân các nước, các dân tộc trên thế giới tình hữu nghị của nhân dân Việt Nam cùng lời chúc hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
.
Năm Tân Mão – 2011 vừa qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với sự đồng tâm hiệp lực, nỗ lực phấn đấu cao của đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng về tăng trưởng kinh tế, cố gắng bảo đảm đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tăng cường hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới.
.
Bước sang năm mới Nhâm Thìn – 2012, tuy vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng với niềm tin vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và tương lai tươi sáng của đất nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, mọi người Việt Nam yêu nước hãy đoàn kết một lòng, phát huy bản lĩnh, trí tuệ và truyền thống văn hiến Việt Nam, nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, đẩy mạnh thi đua yêu nước, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực, tiếp tục giành được những thành tựu to lớn hơn nữa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu đẹp, văn minh, nhân dân ta có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc.
.
Mừng Xuân mới, khí thế mới, thắng lợi mới!
.
Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang.
——–

Thư chúc Tết Quý Tỵ 2013 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (2013)

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cả nước, 

Vào thời khắc giao thừa thiêng liêng đón chào năm mới Quý Tỵ – 2013, tôi thân ái gửi tới toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sỹ trên mọi miền Tổ quốc, đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Thay mặt Nhà nước và nhân dân Việt Nam, tôi gửi tới nhân dân các dân tộc trên thế giới lời chúc hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. 

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cả nước, 

Năm Nhâm Thìn – 2012 vừa qua, chúng ta đã chứng kiến và nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn thử thách trên con đường đi lên của đất nước. Có thể, đó chưa phải là những thử thách cuối cùng. Đứng trước khó khăn, truyền thống quý báu của dân tộc ta là phát huy cao nhất tinh thần đoàn kết, tạo thành sức mạnh để vượt qua.
Đón chào năm mới Quý Tỵ 2013 chính là thời điểm để thêm một lần nữa, mỗi gia đình, mỗi người Việt Nam chúng ta khắc sâu công ơn dựng nước và giữ nước của các bậc tiền nhân. Biết bao mồ hôi, xương máu của các thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau kiên cường chiến đấu, hy sinh, lao động sáng tạo, hiến dâng cho Tổ quốc cuộc đời mình để đất nước được như ngày hôm nay. Trách nhiệm của chúng ta là kế thừa xứng đáng sự nghiệp rạng rỡ của cha ông, phải xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ta ngày càng thêm giàu đẹp, vững bền. 

Đó là tình cảm sâu nặng, là nghĩa vụ quang vinh của mỗi chúng ta.
Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cả nước, 

Năm mới, chúng ta tận dụng mọi điều kiện, cơ hội, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, khắc phục mọi yếu kém, khuyết điểm để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, quyết tâm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam yêu quý của chúng ta. 

Cả nước đồng lòng gắng sức, nhất định thành công.

Chào thân ái! 

Trương Tấn Sang
———
Tiền phong

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc Tết Giáp Ngọ (2014)

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước!

Năm 2013, đất nước ta vượt qua nhiều thử thách. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực vượt bậc, thu được những kết quả quan trọng và nhiều kinh nghiệm quý.

Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đòi hỏi phải quyết tâm cao, sự thống nhất ý chí và hành động, tinh thần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ.

Bước vào năm mới 2014, đất nước còn đang đứng trước nhiều khó khăn, nhưng những thành tựu của công cuộc đổi mới luôn là niềm cổ vũ to lớn để nhân dân ta vững tin đưa dân tộc đi tới tương lai tươi sáng. Chúng ta nguyện làm việc, cống hiến thật xứng đáng với tổ tiên, với lịch sử hào hùng của dân tộc và vì tương lai của các thế hệ con cháu mai sau.

Tôi kêu gọi đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, đem tất cả tinh thần và sức lực, trí tuệ và tài năng, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hành dân chủ rộng rãi với tư tưởng pháp quyền tiến bộ, tiếp tục đưa đất nước tiến lên. Giao thừa đã điểm, năm Giáp Ngọ đã đến.

Một mùa Xuân mới đang về với đất nước và con người Việt Nam. Vào thời khắc thiêng liêng này, tôi thân ái gửi tới toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất.

Thay mặt đồng bào cả nước, tôi gửi tới các cán bộ, chiến sĩ đang thực hiện nhiệm vụ ở các vùng biên giới, hải đảo xa xôi tình yêu thương sâu nặng.

Chúc đất nước ta hòa bình, thịnh vượng, nhân dân ta ấm no, hạnh phúc.

Mừng Xuân mới, khí thế mới, thắng lợi mới!

Trương Tấn Sang

Ý kiến của anh Tư:

 Văn chương ta vốn không ham
Ngồi ghế chủ tịch biết làm sao đây?
Bèn bảo thư ký làm thay
Nó toàn sao chép, thật gay cho mình!

CHÉP SỬ VIỆT Ghi lại và Bình luận sự kiện


Giới thiệu  ( http://chepsuviet.com/about/)


Sử Việt hiện đại đã, đang và sẽ bị che đậy, bóp méo ghê gớm vì những mục đích chính trị nguy hiểm.

Cũng một phần vì thế mà nhiều kẻ bạo quyền vẫn còn nhởn nhơ, không sợ bị dân chúng vạch mặt, trừng trị, hậu thế phỉ nhổ muôn đời.

Cũng phần vì thế mà nhiều thế hệ người Việt Nam sẽ bị đánh lừa, nhân tâm phân rẽ, quốc gia suy yếu, lệ thuộc, chủ quyền lãnh thổ ngày càng mất đi.

Những cố gắng nhỏ nhoi ở đây là xuất phát từ nhận thức trên, để đóng góp cho sự thay đổi tích cực.

Tổng Lú: “Sức mạnh của nhân dân là bắt nguồn từ sự lãnh đạo của đảng”

Xin chớ nghĩ gọi ông là “Tổng Lú” hoàn toàn hàm ý miệt thị. 

Cách đây 4 tháng, một bài báo trên tờ Đại biểu nhân dân của Quốc hội đã bàn tới biệt danh “LÚ” của ông. Tuy là khen đấy, nhưng có lẽ bị cho là … “khen đểu”, nên ngay sau đó bài viết đã biến mất, còn Tổng biên tập thì bị kiểm điểm. Đài phương Tây, trên mạng tự do của “các thế lực thù địch” nhanh chóng khai thác theo cách riêng của họ.


Cũng phần nào nghĩ như bài báo trên, ông Tổng Lú có vẻ thanh bạch. Thế nhưng, nếu nhìn ở góc độ khác, thì phải chăng ông thanh bạch vì không đủ “trình” để đầu quân vào “nhóm lợi ích”, hoặc vì thanh bạch nên ông không có điều kiện bồi bổ thể chất để có được đầu óc minh mẫn, hậu quả là ông hay có những phát ngôn rất lạ, dễ bị cho là … lú lẫn. 

Cách đây 11 tháng, phát biểu tại Vĩnh Phúc về sửa đổi Hiến pháp, ông đã gây sốc, bị phản ứng dữ dội về lời cảnh cáo những ý kiến trái chiều là “suy thoái” về nhận thức tư tưởng. Trước nữa, khi còn là Chủ tịch quốc hội, ông cũng có phát ngôn lạ về Biển Đông liền bị phản ứng coi như là một thái độ vô trách nhiệm trước chủ quyền quốc gia. Còn nữa, một câu nói trong bài phát biểu cách đây 3 tháng của ông, là “Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”  v.v.. 
 

Còn hôm qua, trong cuộc trả lời phỏng vấn Đài truyền hình VN nhân đầu năm mới  ông cho là “Sức mạnh của nhân dân là bắt nguồn từ sự lãnh đạo của đảng“.

Có lẽ, ngoài những chuyện tiểu tiết tô điểm thêm, như dáng ngồi, nét mặt, giọng nói – cho một “Thông điệp” đầu năm mới của người được coi là đứng đầu đất nước, thì câu khẳng định trên là thể hiện ngắn gọn, đầy đủ thái độ của giới lãnh đạo cộng sản VN đối với dân, với nước.

Xin mời xem Trọng lú nói tại đây:  http://www.youtube.com/watch?v=-TN1WUQLYc0

 Bình luận của bạn đọc CHÉP SỬ VIỆT
 
 Cong 31/01/2014 lúc 3:50 Chiều
Ý ông Trọng là gì? Đảng có sức mạnh nhiều hơn nhân dân thì mới ban phát cho nhân dân được như vậy chứ phải không? Nếu không thì đảng làm sao có thể cởi cổ nhân dân mấy chục năm nay?

 Khách 31/01/2014 lúc 4:53 Chiều
Hóa ra giờ mới biết, nguồn gốc sức mạnh của toàn dân tộc bắt nguồn từ đâu.
Con bà nó! Vậy không lẽ, dưới thời các triều vua Đinh, Lê,Lý, Trần, … Ông cha ta đã không có được sức mạnh của toàn dân tộc (vì thời ấy không có đảng lãnh đạo) nên biên cương, bờ cõi mới còn nguyên vẹn? Vui thật!!!


 Hà Nguyên SInh 31/01/2014 lúc 5:44 Chiều
tay LÚ này đúng là di căn rùi ! hết . . .. hết. . . . thuốc chữa rùi ! hổng còn chi nữa !
Hỏi lão LÚ nè, 4.000 năm qua, khi chưa có cái tổ chức quái thia, quái đản cộng sản của ông thì sức mạnh nào cho Dân Tộc giữ nước cho đến bây giờ để cho lũ các ông ăn mày qua khứ ??? hả tên Lú !!!


 Phong trần 31/01/2014 lúc 10:53 Chiều
Căn cứ vào tất cả những phát biểu ( dạng nói và viết), mình nghĩ cha nội này là KHÙNG chứ chẳng phải lú gì cả ! Than ôi, đất Việt hết người dân tộc rồi đến người khùng lãnh đạo thì người dân chỉ còn..”lãnh đạn’ thôi !