Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Không thể phớt lờ quyền tự ứng cử của công dân

Thụy My/ RFI


Toàn cảnh QH khóa 13 kỳ họp thứ 8, khai mạc tại Hà Nội ngày 20/10/2014.
Ngày 28/10/2014, một số tổ chức dân sự với vai trò khởi xướng trong đó có Hội Nhà báo Độc lập, đã ra Tuyên bố về quyền tự ứng cử của công dân. Tuyên bố này được đưa ra vào thời điểm đang diễn ra kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa XIII (20/10 đến 28/11/2014), với hai phần ba thời lượng được dành cho việc xây dựng các luật. Được biết đây là kỳ họp có số lượng luật được Quốc hội thông qua và cho ý kiến nhiều nhất từ trước đến nay.


RFI Việt ngữ đã đặt câu hỏi với nhà báo Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập về vấn đề trên.

RFI : Xin chào nhà báo Phạm Chí Dũng. Anh có thể cho biết lý do vì sao bản tuyên bố về quyền tự ứng cử của công dân được nêu ra vào thời điểm này?

Nhà báo Phạm Chí Dũng : Ngay thời điểm này, Quốc hội Việt Nam đang họp kỳ cuối năm 2014 và sẽ bàn về bầu cử đại biểu Quốc hội - một vấn đề mà trong con mắt những người độc tôn đảng trị là hết sức “nhạy cảm”. Nhưng lại đang có những dấu hiệu Ủy ban Thường vụ Quốc hội muốn phủi tay một vấn đề rất thiết thân với quyền đương nhiên của nhân dân là quyền tự ứng cử.

Từ Hiến pháp 1992 đến Hiến pháp 2013 đều quy định: Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng Nhân dân. Thế nhưng trong suốt 68 năm qua, quyền tự ứng cử của công dân vẫn chỉ là một vật trang trí bị rẻ rúng. Lúc cần thì mang ra bài trí cho “dân chủ cơ sở”, nhưng thực chất là bóp nghẹt ngay tức khắc những ai muốn tự mình cất lên tiếng nói.

Một minh chứng rất rõ cho tình trạng bóp nghẹt đó là hình thức ứng cử thông qua tổ chức, cơ quan, đơn vị giới thiệu luôn áp đảo so với việc ứng cử của bất kỳ cá nhân nào. Cứ gần mỗi kỳ bầu cử, các cấp từ quận huyện, tỉnh thành đến trung ương đều ra sức “vận động” và cả đe dọa những người tự ứng cử, kể cả đảng viên, để rút tên.

Chẳng hạn các điều các điều 34, 35, Luật bầu cử đại biểu lại quy định chặt chẽ việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương. Chính lối bầu cử áp đặt theo cơ chế “Đảng cử dân bầu” trên đã tạo ra sự bất bình đẳng sâu sắc và xúc phạm nặng nề đối với việc tự ứng cử của công dân.

Kết quả ba cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội gần đây đã cho ra những con số quá thấp về tự ứng cử.

Chẳng hạn Quốc hội khóa XI cả nước có 67 người tự ứng cử, kết quả chỉ có 2 người trúng cử. Quốc Hội khóa XII cả nước có 238 người tự ứng cử, chỉ duy nhất 1 người trúng cử; còn đến Khóa XIII thì công tác vận động “thành công” đến mức số người tự ứng cử chỉ còn có 15, trúng cử 4 người.

Còn lần này, Quốc hội sẽ bàn về luật bầu cử đại biểu, nhưng hầu như chắc chắn họ sẽ lặp lại lối mòn cũ là áp đặt cơ chế “đảng cử dân bầu”, và sẽ hạn chế đến mức tối thiểu những người tâm huyết muốn tự ứng cử để gánh vác việc nước và giương cao ngọn cờ phản biện.

RFI : Trước đây ông Hồ Chí Minh từng khẳng định: Hễ những ai muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử…

Không chỉ ông Hồ Chí Minh, mà Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966, tại Điều 25 ghi rõ: Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình.

Còn Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc năm 1948 nhấn mạnh: Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực của nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương.

Nói như vậy và vào lúc Nhà nước Việt Nam đã là một thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc, tự ứng cử đã trở thành một trong những quyền chính trị cơ bản và thiêng liêng nhất của một con người cần phải tôn trọng triệt để. Cùng với quyền bầu cử, quyền ứng cử phải được thực hiện như một trong những quyền cơ bản nhất của con người mà thể chế cần bảo đảm. Bầu cử chỉ thực sự tự do và công bằng khi mọi công dân thực thi quyền tự ứng cử mà không bị cản trở trong bất kỳ trường hợp nào.

RFI : Trong Tuyên bố về quyền tự ứng cử của công dân, các hội đoàn dân sự đã nêu những khuyến nghị trọng tâm nào?

Việc đầu tiên là phải xóa bỏ cơ chế “Đảng cử, dân bầu” tồn tại từ nhiều năm qua. Thứ hai là phải minh bạch hóa trong công tác đối với người tự ứng cử. Không kỳ thị trong cách tuyên truyền bầu cử, không phân biệt trong điều kiện vận động bầu cử của các ứng viên, không có hành vi cản trở đối với những người tự ứng cử nhằm thể hiện tính công bằng, khách quan.

Đặc biệt, chúng tôi yêu cầu Quốc hội bổ sung điều luật quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục trong việc thực hiện quyền tự ứng của công dân trong Luật bầu cử Quốc hội. Ủng hộ người dân tự ứng cử để thể hiện thực chất ý chí nhân dân trong bầu cử.

Chúng tôi cũng yêu cầu xóa bỏ những bất công và bất hợp lý trong Quyết định số 244-QĐ/TW về ban hành Quy chế bầu cử trong Đảng.

RFI : Anh có thể cho biết rõ hơn về những bất công trong Quyết định 244 trên đây ?

Có tới “9 không” trong quyết định này. Điều 13 của Quy chế nhấn mạnh đến 6 việc “không được” và 3 việc “không có”. Theo đó, cấp ủy viên cấp triệu tập đại hội không được đề cử nhân sự ngoài danh sách do cấp ủy đề cử; không được ứng cử và nhận đề cử nếu không có tên trong danh sách đề cử của cấp ủy.
Ở các hội nghị của ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ không được đề cử nhân sự ngoài danh sách do ban thường vụ cấp ủy đề cử; không được ứng cử và nhận đề cử nếu không có tên trong danh sách đề cử của ban thường vụ cấp ủy.

Ở các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương, các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư không được đề cử nhân sự ngoài danh sách do Bộ Chính trị đề cử; không được ứng cử và nhận đề cử nếu không có tên trong danh sách đề cử của Bộ Chính trị.

Nói chung là một cơ chế cực kỳ độc đoán và áp đặt!

RFI : Được biết Chính phủ đã có văn bản đề nghị Dự luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân bổ sung quy định theo hướng mở rộng các hình thức bầu cử. Anh nghĩ gì về động thái này?

Tất nhiên chúng tôi có thể đồng thuận với bất kỳ hành động nào của Chính phủ có lợi cho dân chủ và người dân. Chỉ có điều phải xem xét một cách biện chứng xem Chính phủ có thực tâm “vì dân” hay chỉ vì quyền lực và lợi ích riêng của họ.

Thực ra, Chính phủ đã đưa ra khá nhiều hứa hẹn về cải cách thể chế nhưng vẫn chưa có kết quả nào đáng chú ý.

Suốt ba năm qua, kể từ tháng 11/2011 khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra trước Quốc hội đề nghị Luật biểu tình, cho đến giờ tất cả vẫn lặng câm. Những vấn đề khác như Luật lập hội, Luật trưng cầu dân ý và “dễ” nhất là Luật tiếp cận thông tin cho tới nay vẫn chưa thấy tăm hơi đâu. Vào tháng 8/2013, Chính phủ đã đưa ra tuyên bố "quyền phúc quyết thuộc về nhân dân", khiến dư luận và báo chí được một phen thấp thỏm hy vọng. Nhưng từ đó đến nay, tình trạng nhân dân vẫn bị hết nhóm lợi ích kinh tế đến nhóm lợi ích chính trị đè đầu cưỡi cổ đã cho thấy "quyền phúc quyết" thực chất là thế nào.

Lối so sánh biện chứng lịch sử không tránh khỏi như thế đang khiến người dân khó có thể hiểu khác hơn là ngay trước một kỳ họp Quốc hội, giới quan chức chính phủ muốn lặp lại kịch bản "lấy điểm" mà không phải xuất phát từ lòng thành tâm tối thiểu của họ.

RFI : Còn về phía Ủy ban Thường vụ Quốc hội, liệu họ có chấp nhận quyền tự ứng cử của công dân?

Chỉ mới cách đây hơn hai tháng, vào trung tuần tháng 8/2014, Ban soạn thảo dự án luật thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội còn cho rằng "để bảo đảm sự công bằng, khách quan thì không nên bổ sung quy định hình thức người ứng cử tự mình vận động bầu cử", với lý do "thực tiễn cuộc bầu cử vừa qua cho thấy có tình trạng người ứng cử sử dụng vật chất ủng hộ cho cá nhân hoặc địa phương nơi mình ứng cử, tạo sự không công bằng với ứng cử viên khác”.

Một lần nữa trong không biết bao nhiêu lần từ quá nhiều năm qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội lại dính vào tính thủ cựu không làm sao sửa được. Bất cần biết lý do trên có tính thực chứng hay không, cho đến nay vẫn chỉ có hai hình thức vận động "đảng cử dân bầu" là thông qua hội nghị cử tri do Mặt trận Tổ quốc tổ chức và vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thế nhưng người dân Việt Nam lại biết quá rõ trong quá khứ các kỳ vận động bầu cử, đã chỉ có một số ít ỏi ứng viên độc lập dùng tới “lực lượng vật chất” và “lực lượng truyền thông” để tự ứng cử.

Những người này lại thuộc về thành phần doanh nghiệp chứ không phải là các trí thức túng thiếu tiền bạc nhưng luôn thừa thãi lòng tự trọng.

Phần đa còn lại là các ứng viên được “cơ cấu” theo cách không thể nào trượt. Đó là những quan chức mặt trận và chính quyền theo ba cấp phường xã, quận huyện và tỉnh thành. Chính những ứng viên này mới được trang bị đầy đủ bởi ngân sách nhà nước cùng đội hậu bị hùng hậu của báo chí quốc doanh.
Xét theo phương châm bất di bất dịch đó, quan chức nhà nước được coi là “ăn đủ”, còn những người có gan tự ra ứng cử trong quá khứ như các ông Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân… đều rớt sạch. Không những rớt, các ông này sau đó còn đi thẳng vào nhà tù !

Tuy vậy, đó là dĩ vãng. Còn hiện thời, những thông tin sôi trào từ dư luận người dân cho thấy nếu một cuộc bầu cử tự do được chấp thuận, các ứng cử viên tự do và trên hết là người có tinh thần yêu nước sẽ chiến thắng.

Có lẽ quá lo ngại tinh thần yêu nước và “chủ nghĩa tự do vô chính phủ” như thế nên Quốc hội Việt Nam và những người “cương lĩnh Đảng quan trọng hơn Hiến pháp” vẫn âm thầm làm mọi cách để không cho phép bất kỳ nhân vật nào của Xã hội dân sự bén mảng vào chốn nghị trường.

Vì thế, tôi cho là tính thủ cựu và lợi ích nhóm chính trị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ chưa thể chuyển ngay, mà phải kéo dài một thời gian nữa.

RFI : Người dân phản ứng thế nào về tính thủ cựu và lợi ích nhóm như thế?

Nhiều dư luận trong nhân dân Việt Nam đang cho rằng Quốc hội không còn là một cơ quan “của dân, do dân và vì dân” nữa. Nói khác đi, Quốc hội đang là tổ chức của những nhóm lợi ích về kinh tế và nhóm thân hữu về chính sách. Bản Hiến pháp 2013 đầy bất công về “sở hữu đất đai toàn dân” được thông qua với tỉ lệ cực kỳ áp đảo đã cho thấy các nhóm lợi ích và bảo thủ trong Quốc hội ghê gớm như thế nào.

Với các nhóm lợi ích kinh tế, họ chiếm một phần trong Quốc hội với tư cách kiêm nhiệm, còn các nhóm thân hữu chính sách cũng thế. Cho dù đã nhiều đề nghị phải nâng tỉ lệ đại biểu chuyên trách lên 30% hoặc 50%, nhưng cho tới nay số kiêm nhiệm vẫn còn quá nhiều theo cách “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Nhưng nhiều người dân còn cho rằng không chỉ có thế, các nhóm lợi ích đang hành xử theo lối “vừa ăn cướp vừa la làng” ngay trong nghị trường, xóa lấp những tổn hại và di hại mà họ gây ra đối với dân chúng. Ví dụ điển hình nhất chính là dự án sân bay Long Thành mà các nhóm tài phiệt và chính sách “vẽ” đến hàng chục tỉ USD, chủ yếu vay mượn từ nguồn ODA, bất kể tương lai đổ nợ lên đầu con cháu như thế nào.

Đã đến lúc người dân nhận ra là Quốc hội của họ đã “gật” quá nhiều và quá dễ dãi đối với các nhóm lợi ích, khiến cho đất nước rơi vào cảnh tàn mạt về kinh tế và đạo đức xã hội như ngày hôm nay.

Ngay cả một số đại biểu Quốc hội cũng bắt đầu phản ứng với não trạng và cung cách làm việc của bộ phận đầu não trong Quốc hội.

Quốc hội không thể đi ngược với xu thế chung. Quốc hội và Bộ Chính trị đảng không thể lũng đoạn mãi quyền tự ứng cử của công dân. Chắc chắn trong vài năm tới họ sẽ phải tự thay đổi, sẽ phải để cho người dân tự ứng cử, để nhân dân tự cứu mình và cứu vãn đất nước mà không thể trông chờ vào một chế độ điều hành quá yếu kém và đầy rẫy tham nhũng. Nếu không tự thay đổi, Quốc hội sẽ trở thành con số 0 trong mắt cử tri và trước sau cũng bị giải tán theo quá nhiều kinh nghiệm lịch sử ở các nước trên thế giới.

Ít ra, họ phải còn một chút liêm sỉ tối thiểu!

RFI : Xin chân thành cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam đã vui lòng nhận trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ.

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

Trung Quốc triển khai giàn khoan nước sâu thứ hai ở Biển Đông




Giàn khoan dầu Nam Hải 9 của Trung Quốc. Ảnh: Chinanews.

Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) thông báo giàn khoan nửa nổi nửa chìm Nam Hải 9 vừa hoàn thành lần khoan thăm dò nước sâu đầu tiên trên Biển Đông.

China Daily dẫn thông báo từ Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) hôm 5/11 cho biết giếng vừa thăm dò có tên Lingshui 25-1-1 (Lăng Thủy 25-1-1) nằm ở bồn trũng mà Trung Quốc gọi là Qiongdongnan, có độ sâu 3.930 m. Công ty này nói sẽ tiếp tục xác thực nguồn tài nguyên tại đây.

Nam Hải 9 (Nanhai Jiu Hao) là giàn khoan nước sâu thứ hai của Trung Quốc đưa vào sử dụng, sau Hải Dương 981, cho thấy Trung Quốc đã có thiết bị và công nghệ để thực hiện những đợt thăm dò dầu khí quy mô lớn ở những khu vực nước sâu, thông báo cho biết thêm.

Huang Benhui, người làm việc trên Nam Hải 9, mô tả Biển Đông là khu vực có điều kiện làm việc khó khăn nhưng giàn khoan này có nhiều tính năng giúp đối phó với thời tiết xấu. Nam Hải 9 đã khoan thăm dò 6 giếng dầu trên Biển Đông, Huang nói.

Công ty Dịch vụ Dầu mỏ Trung Quốc (COSL), thuộc sở hữu của CNOOC, là đơn vị vận hành Nam Hải 9. Yuan Xiaosong, phó tổng giám đốc phân đoạn khoan của COSL, cho biết công ty quản lý 43 giàn khoan, trong đó hơn 20 giàn khoan hoạt động ở Trung Quốc, số còn lại đang tham gia vào các dự án nước ngoài.

“Nam Hải 9 sẽ giúp tăng cường khả năng thăm dò dầu khí ngoài khơi Trung Quốc bằng cách phối hợp với giàn khoan Hải Dương 981 hoạt động ở những vùng biển khác nhau trong cùng một thời điểm, từ đó cải thiện khả năng khai thác dầu khí cho Trung Quốc”, Yuan nói.

Hải Dương 981 là giàn khoan nước sâu đầu tiên và lớn nhất của Trung Quốc, có thể hoạt động ở độ sâu khoảng 3.000 m nhưng thường được sử dụng ở độ sâu từ 800 đến 1.500m. Hồi tháng 5, Trung Quốc đã đưa trái phép Hải Dương 981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trước khi cho rút về Hải Nam vào trung tuần tháng 7.

Theo Yuan, lựa chọn tốt nhất cho những dự án có độ sâu lớn hơn là Nam Hải 9 bởi chi phí hoạt động của nó ít hơn Hải Dương 981.

Độ sâu hoạt động tối đa của Nam Hải 9 là 1.524 m. Theo CNOOC, giàn khoan này đã được sử dụng ở Na Uy và phía tây châu Phi. Nó có chiều dài 99 m, rộng 88m và cao 116m.

Theo VnExpress


Giàn khoan Nam Hải 09: Trung Quốc khả năng ảo,dã tâm thật

Trung Quốc cho rằng Nam Hải 09 có khả năng chỉ sau Hải Dương 981 và đang lên kế hoạch triển khai ở Biển Đông.

Tờ China Daily dẫn thông báo từ Tập đoàn Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) ngày 5/11cho biết giàn khoan Nam Hải 09 vừa hoàn thành khai thác một giếng dầu ở Lăng Thủy, Hải Nam với khoảng nước sâu là 975m, khoan sâu tới 3.930m.

Với tuyên bố này, giàn khoan Nam Hải 09 trở thành giàn khoan thứ hai của Trung Quốc có khả năng hoạt động ở độ sâu 1.000m, chỉ sau giàn khoan nửa chìm Hải Dương 981.

CNOOC tuyên bố với giàn khoan Nam Hải 09, Trung Quốc hoàn toàn làm chủ khả năng thăm dò, khai thác các giếng dầu khí nước sâu trên khu vực Biển Đông.

Theo thông tin từ Tân Hoa Xã và China Daily, Nam Hải 09 là giàn khoan nửa chìm thế hệ thứ 4 của Trung Quốc, có thể khai thác ở độ nước sâu khoảng 1.500m, khoan sâu tới 7.600m.

Truyền thông Trung Quốc đã hồ hởi tung hô về khả năng khai thác dầu khí của quốc gia này. Đồng thời, họ cũng gửi đi những thông điệp về việc Hải Dương 981 và Nam Hải 09 sẽ là cặp tiên phong trong việc khai thác ở những vùng có độ nước sâu trên Biển Đông để tìm kiếm dầu khí.




Giàn khoan Nam Hải 09 của Trung Quốc

Sau khi báo chí Trung Quốc đưa những thông tin rất đáng lo ngại này, phóng viên báo Đất Việt đã liên hệ với chuyên gia hàng hải Đỗ Thái Bình – người thường xuyên nghiên cứu về kỹ thuật giàn khoan thế giới và quan tâm đến những thông tin liên quan tới Biển Đông.

Ông Đỗ Thái Bình chia sẻ về giàn khoan Nam Hải 09 như sau: “Trước hết phải khẳng định ngay, Nam Hải 09 (Nan Hai Jiu Hao) là một giàn khoan chỉ có khả năng khai thác, không có khả năng thăm dò. Tức là muốn hoạt động ở vùng nước sâu, Trung Quốc chỉ có duy nhất Hải Dương 981 (Haiyang Shiyou 981) để thăm dò, nếu xác định được ở đó có dầu khí mới đến phần việc của Nam Hải 09. Thông tin mà CNOOC đưa ra về việc Nam Hải 09 khoan thăm dò là vô lý.”

Ông Đỗ Thái Bình phân tích thêm: “Yếu tố thứ hai là Nam Hải 09 được Trung Quốc mua của công ty TransOcean, được kéo từ Malaysia về Thâm Quyến vào tháng 8/2013, được hoán cải ở xưởng Hữu Liên. Giàn khoan này được đóng mới từ những năm 80 của thế kỷ trước. Theo quy ước của quốc tế, đây là giàn khoan thuộc thế hệ nửa chìm thứ 2, không hiểu vì sao Trung Quốc có thể nâng đời lên nửa chìm thứ 4? Thực tế thì Nam Hải 09 chỉ như giàn khoan Đại Hùng của ta mà thôi.”

Tuy nhiên, chuyên gia Đỗ Thái Bình nhấn mạnh: “Trung Quốc không chỉ chuẩn bị một cái giàn khoan Nam Hải 09 cho việc khai thác dầu khỉ ở Biển Đông mà còn mua thêm một cái giàn tương tự tên Pride South Seas thuộc Công ty Pride International.

Phải nói rằng họ đang đi từng bước rất bài bản, chế tạo một chiếc Hải Dương 981 để khoan thăm dò, và mua hai cái để khai thác. Và hiện tại, CNOOC của Trung Quốc đang đóng thêm một chiếc Hải Dương 982 và mua thêm (hoặc đóng mới nhiều giàn khoan khai thác khác).”

Ông Bình nhận định: ”Có thể thấy được dã tâm của Trung Quốc là không hề nhỏ. Nó cũng thể hiện cơn khát về năng lượng của quốc gia này cũng lên tới đỉnh điểm. Trung Quốc đang lợi dụng tính chất thương mại của giàn khoan để biện bạch cho mưu đồ bành trướng chủ quyền nhằm hiện thực hóa “đường lưỡi bò” ở Biển Đông.”

Từ trước tới nay, Trung Quốc thường có chiêu bài tung hô sức mạnh của mình, đặc biệt qua những thiết bị quân sự được phục chế, nhái lại của nước ngoài, hoặc đánh cắp thiết kế. Việc tự tung hô này có thể thấy như là truyền thống của Bắc Kinh, nhưng dã tâm của họ là vô cùng nguy hiểm và cần phải đề phòng để Việt Nam tránh rơi vào trường hợp bị động như giàn khoan Hải Dương 981 hồi tháng 5 vừa qua.

Việt Nam đang cần một cuộc cách mạng


Hoàng Dũng

Thông điệp đầu năm 2014, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chuyển tải rằng: "Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân". Đây không phải lời nói hoa mỹ để làm đẹp lòng ai cả (họ không cần phải làm điều đó), mà tôi cho rằng người cộng sản ý thức được rằng phải thay đổi, nhưng họ vướng vào mối bòng bong do chính họ tạo ra, vướng vào nỗi sợ hãi do họ tưởng tượng ra để rồi không dám quyết tâm thực hiện nó. Người cộng sản hoàn toàn hiểu rằng đã đến lúc họ cần phải thay đổi. Thay đổi hay là chết.


Ảnh minh họa

Tiếp sau thông điệp của ông Dũng, là hàng loạt những "trăn trở" của những vị lãnh đạo khác như ông Sinh Hùng, ông Bùi Quang Vinh. Tôi đặc biệt chú ý đến những phát biểu của ông Vinh sau khi một người chị đáng kính cho biết rằng ông Vinh là một cán bộ có tâm. Ở trong chăn, họ thừa biết cái chăn của họ có bao nhiêu con rận và phải làm sao để tiếp tục tồn tại. Bản chất người cộng sản là giấu dốt và nói dối, thế nên cho đến khi họ buộc phải nói ra những trăn trở đó, thì tình hình đã thực sự nguy ngập cho họ rồi.

Còn với người dân, đến những người chăm lo làm ăn nhất, không để ý đến chính trị nhất cũng khó có thể nén được tiếng thở dài mấy năm nay: Cuộc sống khó khăn quá! Họ không hiểu được lý do vì sao bỗng đâu được tặng âm một ngàn đô vào đầu (nợ công) và không hiểu vì sao càng ngày những bất công trong xã hội càng trở nên trầm trọng. Càng không hiểu càng cố gắng rụt đầu vào cổ, gồng mình lên kiếm tiền qua ngày đoạn tháng. Đừng trách họ. Không biết không có tội. Người biết mà không chỉ cho họ, người đó mới là có tội.

Với một số ít có ý thức xã hội, họ khát khao một cuộc cách mạng. Nó không phải là từ hoa mỹ cộng sản như đổi mới thể chế, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân. Nó là sự thay đổi. Change we need! Câu nói của Trần Huỳnh Duy Thức từ những năm 2008 và tương tự cho câu này là Yes, We Can - slogan tranh cử tổng thống của Barack Obama những năm 2008 (không rõ rằng từ này ai dùng trước). Với những người có ý thức xã hội - chưa khi nào cần một cuộc cách mạng (một sự thay đổi) lớn đến như thế - năm nay.

Dường như có một sự nhầm lẫn nào đó hoặc là một sự đổ lỗi nào đó, mà nhiều người cứ nằng nặc cho rằng cuộc cách mạng ấy là lật đổ cộng sản. Họ cho rằng cứ lật đổ cộng sản là mọi thứ tốt đẹp sẽ đến. Hoặc chí ít là cứ lật đổ cộng sản đi rồi tính tiếp. Tôi thường cười khi thấy những suy nghĩ này.

Để chứng minh cho nụ cười của tôi, tôi lấy hai ví dụ. Một là một đám người tay không tấc sắt đối chọi với một chiếc xe bọc thép. Đám người này cho rằng phải tiêu diệt chiếc xe bọc thép này và lần lượt hoặc chỉ 1 vài người lao ra đâm đầu vào chiếc xe. Anh ta sẽ trở thành anh hùng của những người còn lại. Anh có thể được dựng tượng sau đó hoặc được rầm rì bàn tán, khen ngợi hay tiếc thương dấm dúi. Tôi không chắc, nhưng chắc chắn là anh sẽ bị nó nghiền nát chả tốn nửa viên đạn. Hoặc giả ở một cơ may nhỏ nhoi không đáng kể nào đó, anh giành được quyền điều khiển chiếc xe này, có cái gì đảm bảo rằng anh sẽ không quay lại nghiến những kẻ mới đứng cùng anh hôm qua?

Một ví dụ có vẻ dễ hình dung hơn. Đàn cừu và gã chăn. Là cừu, anh hãy ngoan ngoãn gặm cỏ, ị, cung cấp sữa và lông cho gã. Bởi đó là thiên chức của anh. Là gã chăn cừu, hắn toàn quyền chăn theo ý muốn. Có thể cho cừu ăn cỏ ngon, tắm cho cừu bằng sữa tắm Dove, nghe nhạc giao hưởng và cạo lông bằng Gillette có bọt. Đó là gã chăn cừu tốt. Còn không, cừu sẽ bị đánh đập, bỏ đói, vắt sữa liên tục và cạo lông bằng dao cùn, mặc be khản cổ. Một ngày đẹp trời, có một con cừu bỗng dưng bớt ngu. Nó tự hỏi tại sao ta nuôi gã, mà gã lại tàn ác với ta? Nó tìm cách làm cách mạng. Lật đổ gã chăn cừu. Một con cừu có giết được gã chăn cừu không? Có, lại là một tỷ lệ thành công vô cùng nhỏ nhoi. Nhưng ngày thành công ấy, con cừu kia có trở thành gã chăn cừu tốt không? Ai nói tỷ lệ cao nào?

Cách tốt nhất để thực hiện thiên chức của mình là hãy be lên. Be lên như thế nào? Một mình bạn be lên, roi sẽ rơi vào đầu ngay tắp lự. Hãy be theo cách của tôi. Đi tìm những đồng loại của mình, trao cho nhau những kiến thức để cùng khôn lên. Với một đàn cừu khôn, lúc đó đàn cừu sẽ toàn quyền lựa chọn việc yêu cầu gã chăn cừu cho nghe nhạc và cạo lông bằng Gillette. Không thể tùy tiện chăn một đám cừu khôn được! Còn cừu ngu, chăn thế nào là quyền của gã. Đây là một công việc hay nói hoa mỹ hơn là một cuộc cách mạng gian khổ và lâu dài, nhưng chắc chắn sẽ thành công. Nếu không đồng ý với con cừu viết bài này, bạn cứ lao lên mà cắn chết gã chăn. Tôi sẽ chúc bạn may mắn và sẽ nhớ đến bạn với lòng thành kính vào mỗi dịp nào đó.

Tôi chưa bao giờ có ý định lật đổ cộng sản. Dù rằng đúng là họ không xứng đáng để lãnh đạo toàn diện và triệt để đất nước này. Lật đổ cộng sản bây giờ để tìm một gã chăn cừu mới, tôi tin rằng một cộng sản phẩy sẽ tàn ác hơn cộng sản bây giờ rất nhiều. Tôi chỉ muốn làm một cuộc cach mạng về nhận thức. Tôi muốn ngày càng nhiều người bắt đầu làm cách mạng cho chính mình. Đời thay đổi khi ta thay đổi. Bạn không thay đổi mà đòi gã chăn cừu thay đổi thì e rằng không tưởng.

Tôi không thích dùng từ dân chủ. Bởi thú thật rằng tôi hiểu rất ít về nó. Tôi cho rằng dân chủ không đồng nghĩa với việc lật đổ và tiêu diệt cộng sản. Mọi người đều có quyền sống một cách công bằng. Và tất nhiên, để tồn tại được, anh phải phù hợp với xã hội. Hãy yêu cầu cộng sản chấm dứt độc tài, đổi mới thể chế, phát huy quyền làm chủ của dân một cách nghiêm túc, phát huy và ghi nhận mọi ý tưởng sáng tạo của người dân, tôn trọng và thực thi pháp luật một cách nghiêm minh. Làm được như vậy, cộng sản ắt hẳn sẽ tồn tại và là một bộ phận của xã hội. Nếu không, họ sẽ diệt vong, bởi một cuộc cách mạng bạo lực hay ôn hòa.

Làm thế nào để yêu cầu cộng sản thực hiện điều này? Xin đọc lại ví dụ đàn cừu ở trên. Hay nói cách khác, bạn hãy bắt đầu cho mình một cuộc cách mạng. Hãy tự cải thiện mình bằng cách tự trang bị kiến thức cho mình. Đầu tiên là kiến thức về quyền con người - kiến thức sơ đẳng nhất, sau đó là hiến pháp, pháp luật. Dù bạn có chê nó, nhưng bạn cũng cần phải biết về nó. Sẽ thật buồn cười khi bạn nghĩ rằng mình là người đấu tranh nhưng lại không có những kiến thức sơ đẳng này. Nếu bạn thuộc luật giao thông đường bộ và đi đúng luật, bạn sẽ chẳng bao giờ phải mất tiền dấm dúi cho cảnh sát giao thông và rồi sau đó lại về lên facebook chửi csgt ăn chặn tiền của bạn với lý do là thôi bố thí đi cho nhanh, đang vội. Dám làm dám chịu thì mới là người đấu tranh cho bât công chứ!

Làm một cuộc cách mạng về nhận thức không có bất cứ một rủi ro nào cho bạn, không có bất cứ một thiệt hại nào cho bạn, bạn chỉ có lợi. Thế thì tại sao không bắt đầu?

Những ngày xảy ra bạo loạn ở Bình Dương và Đồng Nai vừa rồi, tôi sợ hãi vô cùng. Tôi tưởng rằng một cuộc cách mạng bạo lực đường phố sẽ đến. Ơn Trời nó đã không xảy ra. Tôi biết là nhiều người mong có một cuộc cách mạng như thế, toàn dân xuống đường lật đổ cộng sản. Tôi sợ lắm và mong rằng nó đừng xảy ra, sẽ chẳng có một Hong Kong nào hết với trình độ quan trí, dân trí của mình bây giờ.

Nói thêm một chút về trình độ quan trí và sự thay đổi của xã hội. Tôi cho rằng trình độ quan trí phát triển chậm hơn rất nhiều với tốc độ phát triển của dân trí. Cộng với nỗi sợ hãi của cả hai bên với nhau (rất tiếc rằng nhà cầm quyền và người dân hiện nay lại không cùng tiếng nói, không cùng ước mơ) thành ra thời gian giành ra để đối phó nhau nhiều quá. Chúng ta lãng phí quá nhiều nguồn lực để đối phó nhau, giữa gã chăn cừu và đàn cừu. Khi nào thì đàn cừu nhởn nhơ gặm cỏ bên cạnh gã chăn cừu nằm thả lỏng giữa bãi cỏ xanh ngắt, nhìn trời mây lãng đãng hehe?

Với những người bên kia chiến tuyến: Tôi thật không muốn viết bài này ra, đắn đo mãi cho đến hôm nay. Thôi thì cứ bộc bạch như thế để các anh hiểu tôi hơn. Còn gì nguy hiểm bằng khi bị đối phương hiểu rõ về mình? Dù sao thì tôi cũng muốn các anh thả lỏng mình để đọc bài này và cũng âm thầm thực hiện cho mình một cuộc cách mạng về nhận thức. Thời nào thì cũng cần những gã chăn cừu và đàn cừu cả. Nhưng với sự văn minh và với "dân chủ là xu thế không thể đảo ngược" - lời thủ tướng Dũng thì thời sắp tới sẽ không có chỗ để tồn tại cho những kẻ tàn ác.

Bắt đầu làm cách mạng nào, anh chị em!

Hoàng Dũng

Nội tình cuộc gặp lãnh đạo Trung Quốc-Việt Nam tại Thành Đô



Tác giả: Nguyên Hải dịch
(theo tạp chí Trung Quốc « Đảng sử tung hoành » [3] bản điện tử ngày 26-8-2014.
《党史纵横》

KD: Bất ngờ, anh Nguyên Hải một CTV lâu năm của TVN gửi cho mình bài dịch này. Bài thuộc chủ đề “nhạy cảm” khó đăng trên TVN. Mình xin đăng trên Blog để bạn đọc có nhu cầu đọc, chia sẻ, suy ngẫm về một vấn đề chứa đựng nhiều nhức nhối, có cả đau đớn, nghi kỵ lâu nay.

Nhưng mình tin, sẽ có những cách “hóa giải” trong thời gian sắp tới, ở nhiều vấn đề gai góc.

Rất cảm ơn anh Nguyên Hải :P


———-
Tháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt chính thức thăm Trung Quốc, lãnh đạo hai nước ra Thông cáo chung, tuyên bố thực hiện bình thường hóa mối quan hệ TQ-VN, từ đó kết thúc trạng thái đối lập trong mối quan hệ giữa hai nước kéo dài tới 13 năm.

Cần nói rằng để đạt được mục tiêu ấy, cả hai bên đều đã có những cố gắng lớn, trong đó cuộc gặp Thành Đô tháng 9-1990 giữa người lãnh đạo hai nước có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó đánh dấu điểm ngoặt trong mối quan hệ TQ-VN, không những san bằng con đường bình thường hóa mối quan hệ này mà còn có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài tới sự tiếp tục phát triển mối quan hệ hai nước.
Thay đổi chính quyền, mối quan hệ Trung Quốc -Việt Nam xuất hiện tia sáng ban mai
Năm 1975 sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, những người lãnh đạo Việt Nam hồi đó là Lê Duẩn v.v.. đã không kịp thời hàn gắn các vết thương do chiến tranh mang lại, mà triệt để xa rời đường lối Hồ Chí Minh, đối nội cưỡng chế thi hành cải tạo XHCN quá « tả », đối ngoại dựa vào sự ủng hộ của Liên Xô, ra sức đẩy mạnh chủ nghĩa bá quyền khu vực, điên cuồng chắp nối lắp ghép « Liên bang Đông Dương ». Dưới sự dẫn dắt của đường lối sai lầm đó, Việt Nam một mặt công khai chống Trung Quốc, một mặt ra sức khống chế Lào, thậm chí phát động xâm lược vũ trang Campuchia. Những việc làm của họ đã đưa nền kinh tế Việt Nam tiến gần tới miệng hố sụp đổ, hoàn cảnh quốc tế bị cô lập chưa từng thấy.

Tháng 7-1986, Tổng Bí thư ĐCSVN Lê Duẩn ốm chết. Tháng 12 cùng năm, tại Đại hội VI ĐCSVN, Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Đảng. Trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ những năm 60, Nguyễn Văn Linh là thành viên ban lãnh đạo Cục Miền Nam ĐCSVN, từng nhiều lần bí mật thăm Trung Quốc, có thái độ thành khẩn hữu hảo đối với Trung Quốc, rất được Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai đánh giá cao, cho rằng ông là người lãnh đạo kế tục rất có hy vọng của Việt Nam. Nhưng sau khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc, Nguyễn Văn Linh không tán thành chính sách đối nội đối ngoại sai lầm của người lãnh đạo đương thời, vì thế ông từng mấy lần bị gạt bỏ. Sau khi lên làm Tổng Bí thư ĐCSVN, Nguyễn Văn Linh khẩn trương uốn nắn toàn bộ cách làm sai lầm của người tiền nhiệm, đề xuất khẩu hiệu Việt Nam cần phải « làm bạn với tất cả các nước ». Ông cho rằng lúc đó Việt Nam có hai nhiệm vụ khẩn thiết nhất là rút quân khỏi Campuchia và cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

Thế nhưng Bộ Ngoại giao do Nguyễn Cơ Thạch, – một thân tín của Tổng Bí thư tiền nhiệm, Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nắm giữ – vẫn tiếp tục hành sự theo tư duy của Lê Duẩn, tìm đủ mọi cách can nhiễu và ngăn cản sự bố trí chiến lược của Nguyễn Văn Linh. Là người lãnh đạo mới lên nắm quyền, Nguyễn Văn Linh chưa có cơ sở vững chắc trong tầng lớp quyết sách ở trung ương ; một số ý tưởng của ông cũng chưa được nhiều người lãnh đạo hiểu biết và ủng hộ. Trong tình hình đó, làm thế nào mới có thể thực hiện được mục tiêu nói trên là một vấn đề hóc búa và đau đầu nhưng lại tất phải giải quyết.

Cay-xỏn Phôm-vi-hản thăm Trung Quốc
Ba lần xin gặp Đặng Tiểu Bình thổ lộ điều bí mật
Tháng 10-1989, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng kiêm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản thăm Trung Quốc. Hồi ấy tôi là Trưởng phòng Đông Dương Vụ Châu Á Bộ Ngoại giao có tham gia công tác tiếp đón. Theo kế hoạch đón tiếp được Trung ương duyệt thì Thủ tướng Lý Bằng sẽ chủ trị hội đàm, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân hội kiến và mở tiệc chiêu đãi loại thường (nguyên văn tiện yến). Nhưng phía Lào tha thiết mong muốn đồng chí Đặng Tiểu Bình có thể hội kiến Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Phía Trung Quốc tỏ ý Đặng Tiểu Bình tuổi đã cao, không thể gặp bất cứ khách nước ngoài nào, xin thông cảm. Dù vậy, Cay-xỏn Phôm-vi-hản vẫn kiên trì yêu cầu gặp Đặng Tiểu Bình, tôi nhớ là họ trước sau ba lần đề ra vấn đề này. Trong tình hình đó, qua nhiều lần nghiên cứu, bàn bạc, cuối cùng thỏa thuận mời Đặng Tiểu Bình gặp ngắn gọn có tính nghi lễ. Vì vậy Bộ Ngoại giao cũng không chuẩn bị đề cương chi tiết các điểm chính để tham khảo khi trò chuyện.
Không ngờ hai vị lãnh đạo nói chuyện lâu tới 40 phút, hơn nữa đều nói về những vấn đề có tính thực chất rất quan trọng. Cay-xỏn Phôm-vi-hản thành khẩn thừa nhận trong 10 năm qua mối quan hệ Lào với Trung Quốc ở vào trạng thái không bình thường là do chịu « ảnh hưởng từ bên ngoài », chuyến thăm Trung Quốc lần này sẽ đánh dấu việc hoàn toàn bình thường hóa quan hệ hai nước. Đồng thời Cay-xỏn Phôm-vi-hản còn chuyển lời hỏi thăm thân thiết của Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Văn Linh tới Đặng Tiểu Bình, nói Việt Nam đã có nhận thức mới đối với tình hình Trung Quốc, thái độ đối với Trung Quốc cũng có thay đổi, còn nói Nguyễn Văn Linh hy vọng Trung Quốc có thể mời ông thăm Trung Quốc.
Đặng Tiểu Bình cũng mời Cay-xỏn Phôm-vi-hản chuyển hộ lời hỏi thăm Nguyễn Văn Linh và nói : « Tôi quen đồng chí Nguyễn Văn Linh từ lâu, tôi biết đồng chí ấy tư duy linh hoạt, rất có lý trí, công tác rất đắc lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đồng chí ấy. Tôi mong muốn đồng chí Nguyễn Văn Linh quả quyết giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia. Hiện nay tôi đã già, sắp nghỉ hưu, tôi hy vọng trước khi nghỉ hưu hoặc không lâu sau khi tôi nghỉ hưu, vấn đề Campuchia sẽ có thể được giải quyết, mối quan hệ TQ-VN khôi phục bình thường, như vậy một nỗi băn khoăn (nguyên văn tâm sự) của tôi sẽ được dẹp bỏ. »
Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh Việt Nam phải rút sạch sành sanh quân đội ra khỏi Campuchia. Ông nhờ Cay-xỏn Phôm-vi-hản chuyển những ý kiến đó tới Nguyễn Văn Linh. Ngoài ra Đặng Tiểu Bình còn nói một câu ý vị sâu sắc : « Nguyễn Cơ Thạch, cái người này thích hoạt động lén lút. » Lúc ấy tôi làm công tác ghi chép tại chỗ, cảm thấy câu này dường như buột miệng nói ra, nhưng trọng lượng rất nặng. Theo tôi hiểu, câu nói ấy muốn bảo Nguyễn Văn Linh rằng Trung Quốc đã mất niềm tin với Nguyễn Cơ Thạch, cho dù là giải quyết vấn đề Campuchia hay thực hiện bình thường hóa mối quan hệ TQ-VN đều không thể hy vọng và dựa vào Nguyễn Cơ Thạch.

Nguyễn Văn Linh tiếp Đại sứ Trung Quốc để tỏ ý hữu hảo
Cay-xỏn Phôm-vi-hản trên đường về nước có dừng lại ngắn ngày ở Việt Nam, ông đã kịp thời và toàn diện chuyển tới Nguyễn Văn Linh lời nhắn của Đặng Tiểu Bình. Nghe xong, Nguyễn Văn Linh rất coi trọng, càng có hiểu biết thiết thân về « hoạt động lén lút » của Nguyễn Cơ Thạch. Ông hiểu rằng muốn cải thiện quan hệ VN-TQ trước hết phải giải quyết vấn đề Campuchia, mà giải quyết vấn đề Campuchia như thế nào thì phải bàn với Trung Quốc. Ông còn ý thức được rằng Đặng Tiểu Bình tuy đã gửi lời nhắn nhưng lại không đưa ra lời mời mình thăm Trung Quốc. Trong tình hình đó làm cách nào để thực hiện thăm Trung Quốc là vấn đề ông cần gấp rút giải quyết.
Ngày 5-6-1990, qua sự nỗ lực của nhiều bên, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã hội kiến Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam Trương Đức Duy tại Nhà khách Trung ương ĐCSVN. Trước tiên Nguyễn Văn Linh nhờ Đại sứ Trương chuyển lời hỏi thăm của ông tới các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Lý Bằng. Nguyễn Văn Linh nói, trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, ông từng nhiều lần đi Trung Quốc, đã gặp Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, các đồng chí Đặng Tiểu Bình v.v… Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, đồng chí Đặng Tiểu Bình là người cùng thế hệ với Hồ Chủ tịch ; Nguyễn Văn Linh là học trò của họ. Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến cũng như trong nhà tù của kẻ địch, ông luôn luôn học tập và nghiên cứu các trước tác của Mao Chủ tịch bàn về cách mạng dân tộc dân chủ, được lợi không ít. Trong thời kỳ Việt Nam chống Pháp, chống Mỹ, Trung Quốc đã viện trợ to lớn cho Việt Nam về mọi mặt, cả đến gạo, bánh quy nén, dưa chua, đều do Trung Quốc giúp. Hơn nữa Trung Quốc cũng giúp Việt Nam rất nhiều về chiến lược và tư tưởng chỉ đạo, thí dụ Việt Nam làm chiến tranh nhân dân là học tư tưởng chiến tranh nhân dân của Mao Chủ tịch rồi vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Có thể nói nếu không có sự viện trợ của Trung Quốc thì Việt Nam không thể đánh bại đế quốc Mỹ.
Nguyễn Văn Linh nói, sau khi kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, toàn quốc thống nhất, Việt Nam lẽ ra nên tập trung lực lượng xây dựng kinh tế, nhưng đã xuất hiện tình hình khó khăn và phức tạp không ngờ tới, mười mấy năm nay Việt Nam càng gian khổ hơn thời kỳ chống Mỹ, đời sống ngày càng khó khăn, đặc biệt là mối quan hệ VN-TQ xuất hiện khó khăn. Nên nói rằng Việt Nam đã làm một số việc không tốt với Trung Quốc. Ông luôn chủ trương làm sai thì phải sửa. Mong các đồng chí Trung Quốc thông cảm và bỏ qua những chuyện về mặt này, chuyện đã qua rồi thì để nó qua đi thôi. Việc quan trọng hơn trước mắt là làm tốt mối quan hệ giữa hai nước hiện nay và sau này.
Nguyễn Văn Linh nói tình hình quốc tế đang thay đổi mạnh, tình thế ở Đông Âu diễn biến rất phức tạp, tình thế Liên Xô cũng rất nghiêm trọng. Bọn đế quốc dốc sức can thiệp, ra sức làm diễn biến hòa bình, mơ tưởng một lần tiêu diệt chủ nghĩa xã hội. Trước kia mọi người nói Liên Xô là thành trì của hòa bình thế giới, nhưng hiện nay thành trì này đang lung lay. Trung Quốc là một nước lớn, Đảng Trung Quốc là một đảng lớn, lại kiên định đi con đường XHCN. Trong tình hình hiện nay, Trung Quốc có địa vị và tác dụng đặc biệt quan trọng. Chúng tôi cần Trung Quốc giơ ngọn cờ XHCN. Hai nước VN-TQ là láng giềng XHCN. Việt Nam là nước nhỏ, Đảng Việt Nam là đảng nhỏ, rất cần có sự ủng hộ và giúp đỡ của một nước lớn, đảng lớn như Trung Quốc. Nguyễn Văn Linh nói đây là lời thực lòng của ông.
Nguyễn Văn Linh nói, vấn đề Campuchia dù thế nào cũng phải giải quyết một cách hòa bình, Campuchia trong tương lai không nên thân phương Tây, cũng không được để phương Tây và Liên Hợp Quốc can thiệp quá sâu. Bởi vậy hai phía VN-TQ có thể hợp tác với nhau, từ bên trong thúc đẩy Pol Pot, Iengsary hòa giải với Heng Samrin, Hun Sen, đối ngoại vẫn có thể theo con đường thương lượng giữa các bên hiện nay. Ý tưởng gạt bỏ Khmer Đỏ là không thực tế.
Nguyễn Văn Linh tỏ ý ông rất muốn gặp mặt các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc cao nhất để trao đổi ý kiến một cách thấu triệt, như anh em với nhau, có thể không câu nệ nghi lễ ngoại giao. Ông nói, kinh nghiệm lịch sử cho thấy người lãnh đạo cao nhất hai nước trực tiếp nói chuyện với nhau thì dễ hiểu biết thông cảm lẫn nhau và đạt được nhất trí, cũng có thể giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng. Nguyễn Văn Linh còn nói, ông đã nhiều tuổi, muốn trước khi nghỉ hưu có thể bàn bạc cùng với người lãnh đạo Trung Quốc giải quyết xong dứt điểm vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ VN-TQ.
Khi hội kiến, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng có mặt, nhưng nội dung nói chuyện hoàn toàn khác với luận điệu cũ rích chống Trung Quốc của Nguyễn Cơ Thạch. [Tôi] đoán rằng việc bố trí Nguyễn Cơ Thạch dự hội kiến rất có thể có dụng ý là để ông ta mặt đối mặt nghe xem rốt cuộc Tổng Bí thư nói gì, cũng có thể lúc ấy [Tổng Bí thư] còn có chút hy vọng với ông ta, dành cho ông ta cơ hội thay đổi cách làm việc. Dĩ nhiên cũng chính là do Nguyễn Cơ Thạch có mặt nên Nguyễn Văn Linh chưa nói sâu sắc, thấu triệt hơn.
Sau khi kết thúc cuộc hội kiến, Đại sứ Trương lập tức báo cáo cho bên nhà biết chi tiết nội dung cuộc nói chuyện của Nguyễn Văn Linh và thỉnh thị trong nước có chỉ thị gì. Bên nhà nghiên cứu kỹ rồi nhanh chóng trả lời rằng hãy cứ yêu cầu Việt Nam rút nhanh quân đội ra khỏi Campuchia và giải quyết ổn thỏa vấn đề liên hợp hai bên đối lập ở Campuchia sau khi rút quân, tức chính quyền Phnompenh với ba phái lực lượng chống đối, sau đó sẽ từng bước thu xếp suôn xẻ cuộc gặp cấp cao giữa nhà lãnh đạo hai nước. Trong tình hình đó, làm cách nào để phá vỡ thế bí, thực hiện cuộc gặp với lãnh đạo Trung Quốc là vấn đề đòi hỏi Nguyễn Văn Linh suy nghĩ rất lung.

Một nhân vật bí ẩn xuất hiện ở Sứ quán cho xem mật thư
Sáng ngày 16-8-1990, một cán bộ họ Hoàng của Viện Khoa học xã hội Việt Nam đến trước cổng Đại sứ quán Trung Quốc. Ông nói với nhân viên tiếp đón của Sứ quán là có việc cần gặp Đại sứ Trương. Đại sứ đã tiếp ông này tại phòng khách Sứ quán. Vì Đại sứ Trương thạo tiếng Việt nên hai người nói chuyện không cần phiên dịch. Hoàng nói nhà ông ở gần nhà Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, tối ngày 13/8 Tổng Bí thư cho xe đón ông đến nhà nói chuyện một giờ đồng hồ. Tổng Bí thư nói ông vốn dĩ muốn một lần nữa hẹn gặp Đại sứ Trương nhưng Bộ Ngoại giao ngăn cản, nói là không cần thiết. Vì vậy Tổng Bí thư nhờ Hoàng nhắn miệng tới Đại sứ Trương.
Nói đoạn, Hoàng lấy từ túi áo ra một mảnh giấy viết thư gập lại rất nhỏ và giải thích đây là những điều ông ghi lại lời của Tổng Bí thư, đã được Tổng Bí thư soát lại không có gì sai. Trong đó có đoạn nói : « Tháng 10 năm ngoái, đồng chí Cay-xỏn chuyển tới tôi lời hỏi thăm của đồng chí Đặng Tiểu Bình và lời nhắn miệng nói đồng chí hy vọng trong những năm còn sống được thấy quan hệ TQ-VN bình thường hóa, tôi rất hoan nghênh những điều đó. Cũng vậy, tôi tha thiết mong muốn trong nhiệm kỳ tôi chủ trì Trung ương ĐCSVN khóa VI có thể khôi phục quan hệ VN-TQ để từ Đại hội VII sắp họp sẽ bắt đầu một giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai nước. Làm được việc này tôi mới xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Việt Nam và đảng viên ĐCSVN dành cho tôi. »
« Sở dĩ vấn đề Campuchia – trở ngại ấy cãi nhau mãi chưa thể giải quyết là do Nguyễn Cơ Thạch luôn luôn làm chệch hướng việc này. Tôi cho rằng hiện nay người lãnh đạo hai nước cần phải bàn bạc trực tiếp và đi sâu, nhằm thanh toán hết mọi hiểu lầm và loại bỏ sự can thiệp của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tôi tin rằng những người cộng sản chân chính của hai nước đều xuất phát từ hy vọng tha thiết bảo vệ CNXH và khôi phục tình hữu nghị trong sáng chân thành giữa hai nước để tiến hành gặp gỡ, vấn đề Campuchia nhất định có thể nhanh chóng được giải quyết. Nếu các đồng chí Trung Quốc cũng có quan điểm như vậy thì đề nghị gửi lời mời nội bộ, tôi sẽ lập tức bí mật đi Trung Quốc. »
« Để việc thảo luận tiến hành được chắc chắn tin cậy, để sau khi về nước tôi có thể thuyết phục có hiệu quả tập thể Ban Chấp hành trung ương và Bộ Chính trị ĐCSVN, tốt nhất nên có hai đồng chí Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng cùng tôi đi Trung Quốc. »
« Điểm xuất phát tôi yêu cầu đi thăm Trung Quốc nội bộ là để đích thân thâm nhập nghe ý kiến của các đồng chí Giang Trạch Dân, Đặng Tiểu Bình, Lý Bằng, cũng là để các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc đích thân thâm nhập hiểu rõ cá nhân tôi. Hai bên cùng nhau thành khẩn tìm ra phương án giải quyết tốt nhất một loạt vấn đề, trước hết là vấn đề Campuchia. Trước mắt tôi có khó khăn nhất định nhưng tôi có niềm tin. »
« Nếu được các đồng chí Trung Quốc ủng hộ và giúp đỡ, tôi sẽ đi theo đường lối của Hồ Chủ tịch, thuận lợi tiến chắc tới mục tiêu trên phương diện xây dựng tình hữu nghị Việt-Trung tốt đẹp, bảo vệ CNXH và lợi ích cách mạng chung. »
Đỗ Mười mà Nguyễn Văn Linh nhắc tới là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Việt Nam, Phạm Văn Đồng là cựu Thủ tướng Việt Nam, bấy giờ làm Cố vấn Trung ương Đảng.
Hoàng giải thích, ông hiểu ý của Tổng Bí thư là : do Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ngấm ngầm gây bế tắc, tiến trình VN-TQ giải quyết vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ hai nước bị cản trở, bởi thế Tổng Bí thư muốn đi vòng qua Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao do ông ấy nắm, lãnh đạo cao nhất hai nước trực tiếp gặp nhau, sau khi bàn bạc quyết định vấn đề rồi có thể ra lệnh cho Bộ Ngoại giao quán triệt chấp hành.
Tiễn đưa Hoàng xong, việc đầu tiên Đại sứ Trương vội làm là lập tức báo cáo trong nước biết các ý kiến Nguyễn Văn Linh nhờ Hoàng chuyển giúp. Nhưng đồng thời [Đại sứ] cần xem xét một vấn đề là Đại Sứ quán có nên đề xuất với trong nước quan điểm và kiến nghị của mình hay không. Chỗ khó là bên nhà vừa mới trả lời rõ ràng yêu cầu đi thăm nội bộ Trung Quốc do Nguyễn Văn Linh đề ra hôm mồng 5 tháng 6, tức đòi phía Việt Nam trước tiên phải giải quyết vấn đề rút quân khỏi Campuchia và xúc tiến việc thành lập sự liên hợp hai bên đối lập ở Campuchia, rồi mới thu xếp cuộc gặp người lãnh đạo hai nước. Trong tình hình này, nếu lặp lại ý kiến của bên nhà thì coi như không nêu ra kiến nghị nữa ; nhưng nếu đưa ra kiến nghị khác với ý kiến bên nhà thì liệu có bị hiểu nhầm là chủ trương ngược lại với trong nước chăng ?
Vì việc đó, chiều hôm ấy khi vừa bắt đầu giờ làm việc, Đại sứ Trương gọi tôi và hai Bí thư thứ nhất cùng bàn bạc. Qua thảo luận, Đại sứ Trương và chúng tôi nhất trí cho rằng chức trách của Đại Sứ quán là đứng gác cho trong nước, làm tốt nhiệm vụ tham mưu. Phúc đáp lần trước của trong nước rõ ràng là đúng, nhưng hiện giờ xuất hiện tình hình mới, Nguyễn Văn Linh quyết kế đi vòng qua Nguyễn Cơ Thạch để tiến hành bàn bạc chân thành có tính thực chất với người lãnh đạo nước ta ; vì vậy Đại Sứ quán nên căn cứ tình hình mới, mạnh dạn nêu ra kiến nghị mới. Thế là Sứ quán trịnh trọng kiến nghị bên nhà tích cực xem xét việc Nguyễn Văn Linh một lần nữa nêu yêu cầu thăm Trung Quốc nội bộ.
Đại sứ Trương thi hành diệu kế đến thăm Bộ Quốc phòng
Đêm 19 tháng 8, Sứ quán nhận được trả lời của trong nước. Bên nhà chỉ thị Đại sứ Trương tìm cách tránh Bộ Ngoại giao Việt Nam, gặp người tin cậy ở bên cạnh Nguyễn Văn Linh đề xuất Đại sứ muốn sớm gặp riêng TBT để trực diện tìm hiểu ý đồ thật sự của TBT ; có kết quả gì lập tức báo cáo trong nước. Không còn nghi ngờ gì nữa, đối với Đại sứ, đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu và vượt trên tất cả mọi nhiệm vụ khác, nhưng chẳng nói cũng rõ mức độ khó khăn của công việc này.
8 giờ sáng ngày 20, Đại sứ Trương triệu tập cuộc họp mở rộng Đảng ủy Sứ quán nghiên cứu cách thực hiện chỉ thị của trong nước, nhưng chẳng ai đề ra được kế sách hay nào. Mọi người đều rõ, trong suốt những năm 80, Việt Nam luôn luôn coi Trung Quốc là « kẻ địch trực tiếp nhất, nguy hiểm nhất », các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh truyền hình đều phát đi những nội dung chống Trung Quốc ; trong các buổi chiêu đãi và mọi nghi thức ngoại giao, bất cứ quan chức Việt Nam nào cũng không dám nói chuyện với quan chức ngoại giao Trung Quốc. Trong tình hình như vậy, chưa nói việc chẳng có cách nào tìm gặp được người tin cậy ở bên Nguyễn Văn Linh mà ngay cả chuyện ai là người tin cậy ở bên TBT, cũng không ai biết.
Trong tình hình tìm không ra manh mối nào, mọi người không hẹn mà cùng nhớ tới một chuyện. Đó là ngày 6 tháng 6, tức sau hôm Nguyễn Văn Linh gặp Đại sứ Trương, Đại tướng Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam có gặp riêng và mời cơm Đại sứ Trương. Ngoài việc giải thích thêm tinh thần câu chuyện Nguyễn Văn Linh nói hôm mồng 5 ra, Lê Đức Anh còn nói không ít những lời hữu nghị với Trung Quốc. Thế là Đại sứ Trương quyết định thử dùng kênh thông qua Bộ Quốc phòng và Lê Đức Anh xem sao ; ông chỉ thị Tùy viên quân sự Sứ quán là Thượng tá Triệu Nhuệ lập tức hành động.
Quả nhiên Đại tướng Lê Đức Anh rất vui lòng gặp Đại sứ Trương. 8 giờ sáng ngày 21, Đại sứ Trương đi một chiếc xe con không cắm quốc kỳ đến Bộ Quốc phòng Việt Nam. Lê Đức Anh thân mật bắt tay, ôm vai Đại sứ Trương và nói Đại sứ muốn gặp ông lúc nào ông đều hoan nghênh cả. Đại sứ Trương đi thẳng ngay vào vấn đề, tóm tắt kể lại một lượt việc hôm trước Hoàng Nhật Tân chuyển tới Đại sứ những lời của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, ngỏ ý bản thân Đại sứ rất muốn trực diện nghe ý kiến của Tổng Bí thư, hy vọng Lê Đức Anh liên hệ giúp. Lê tỏ ý sẽ lập tức làm ngay việc này.
Chiều hôm ấy Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam Vũ Xuân Vinh khẩn cấp hẹn gặp Tùy viên quân sự Sứ quán Trung Quốc Triệu Nhuệ và báo cho biết: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ hội kiến Đại sứ Trương vào 7 giờ 30 tối ngày 22 tại Nhà khách Bộ Quốc phòng, hai bên đều không mang theo phiên dịch viên, kiến nghị Đại sứ Trương đi xe khác, không cắm quốc kỳ. Vũ còn nói việc này chỉ có ông và Trưởng phòng Vũ Tần của Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam biết, những người khác đều không biết. Sau khi về Sứ quán, Tùy viên Triệu lập tức báo cáo Đại sứ Trương.
Có những sự việc không hẹn mà gặp nhau. Vợ chồng Đại sứ Trương vốn dĩ đã ấn định 6 giờ 30 tối ngày 22 mời cơm vợ chồng Đại sứ Malaysia, trước đó đã gửi thiếp mời. Để không thất lễ mà lại có thể bảo đảm đúng giờ đi gặp Nguyễn Văn Linh, Đại sứ quyết định giả vờ ốm, để tôi và phu nhân Đại sứ tiếp khách dùng cơm. Tối hôm ấy vợ chồng Đại sứ Malaysia đúng giờ đến Đại Sứ quán. Sau khi vào phòng khách, họ thấy Đại sứ Trương vẻ thiểu não đang ngồi trên ghế được người phiên dịch và nhân viên tiếp tân dìu đứng dậy, mệt nhọc nói : « Xin chào Đại sứ và phu nhân. Rất xin lỗi các ngài là cái bệnh Meniere [1] của tôi lại tái phát, làm cho tôi bị nhức đầu buồn nôn, vì thế tôi chỉ có thể tiếp các ngài được một lúc thôi ạ. Ông Lý, Tham tán Chính trị của Đại Sứ quán và phu nhân của tôi sẽ tiếp ngài Đại sứ và phu nhân dùng cơm. » Nghe nói vậy, Đại sứ Malaysia rất cảm động, ông nói : « Ngài Đại sứ đang đau ốm mà vẫn ra đón khách, chúng tôi thật không phải với ngài. Xin mời Đại sứ về nghỉ ngơi, chúc ngài sớm bình phục. » Nói đoạn, ông thân chinh dìu Đại sứ Trương đứng dậy, hai người bắt tay tạm biệt. Vừa ra khỏi phòng khách, Đại sứ Trương rảo bước đi tới chiếc xe đang chờ sẵn trong sân. Chiếc Toyota màu đen phóng ngay tới Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Nguyễn Văn Linh bí mật gặp Đại sứ Trương
Khi gặp Đại sứ Trương, trước tiên Nguyễn Văn Linh khẳng định ông đã nhờ Hoàng Nhật Tân là con trai Hoàng Văn Hoan chuyển lời nhắn tới Đại sứ Trương, nội dung cũng chính xác không có gì sai cả. Nguyễn Văn Linh nói bản thân ông trước nay đều cho rằng Việt Nam nên giữ quan hệ tốt với Trung Quốc. Năm 1976, tại Đại hội IV ĐCSVN, vì không đồng ý với một số biện pháp làm xấu mối quan hệ VN-TQ của chính quyền hồi ấy mà ông bị lên án là « hữu khuynh ». Năm 1982 tại Đại hội V ĐCSVN lại vì ông chủ trương trong giai đoạn hiện nay Việt Nam nên cho phép đồng thời tồn tại nhiều thành phần kinh tế và không đồng ý với chính sách chống Trung Quốc mà bị chèn ép ra khỏi Bộ Chính trị. Hồi ấy ông rất khó hiểu tại sao lại áp dụng thái độ như vậy với Trung Quốc. Nếu Bác Hồ còn thì nhất định sẽ không xuất hiện những chuyện kỳ quặc như thế. Nguyễn Văn Linh còn nói, chính sách của Việt Nam đối với Hoa kiều và người Hoa cũng sai lầm. Hoa kiều và người Hoa có đóng góp quý giá cho cách mạng Việt Nam, sau khi chiến thắng, Việt Nam lại kỳ thị họ, xua đuổi họ, thật là không có tình có lý.
Nguyễn Văn Linh nói, năm 1986, sau khi nhận nhiệm vụ Tổng Bí thư ĐCSVN ông quyết tâm vượt qua mọi sức cản, từng bước uốn nắn các sai lầm trước đây, khôi phục mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Trước hết là thuyết phục Trung ương ĐCSVN kiến nghị Quốc hội xóa bỏ các nội dung có liên quan chống Trung Quốc viết trong Hiến pháp. Tiếp đó lại làm các công việc trên nhiều mặt, cuối cùng ra được quyết định rút quân khỏi Campuchia. Nguyễn Văn Linh nói, trong tình hình quốc tế hiện nay, đối với Việt Nam, việc xây dựng, phát triển tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với Trung Quốc, trung tâm XHCN kiên cường này, rõ ràng là một nhiệm vụ càng quan trọng và bức thiết. Bởi vậy, ông có một nguyện vọng lớn nhất là thực hiện được việc bình thường hóa mối quan hệ VN-TQ vào trước Đại hội VII ĐCSVN năm 1991. Đây sẽ là một việc lớn chấn phấn lòng người đối với toàn đảng và toàn dân Việt Nam.
Về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh nói ông hiểu rõ tính chất quan trọng và bức thiết của việc giải quyết vấn đề này. Lẽ ra hai bên Việt Nam và Trung Quốc thông qua con đường ngoại giao để bàn bạc giải quyết vấn đề này là tốt nhất và suôn xẻ nhất. Nhưng do Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao do ông ta nắm có ý đồ gây rối, hiện nay con đường này rất khó đi. Vì vậy ông nghĩ bản thân ông phải đi Bắc Kinh trực tiếp hội đàm với Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng, cùng bàn bạc phương án giải quyết tốt nhất. Nguyễn Văn Linh nói, trên vấn đề Campuchia, Nguyễn Cơ Thạch có quan điểm không nhất trí với phần lớn các Ủy viên Bộ Chính trị, ông ta luôn luôn làm sai lệch công việc. Nguyễn Văn Linh còn nói, những cuộc gặp cá nhân như cuộc gặp Đại sứ Trương hôm nay không nên quá nhiều. Nếu Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng mời ông và Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi Trung Quốc thì đề nghị Đại sứ Trương trực tiếp đề xuất với Bộ Ngoại giao Việt Nam ý định đồng thời gặp Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Chủ tịch Nhà nước Võ Chí Công, trực diện chuyển ý kiến của người lãnh đạo Trung Quốc, làm như vậy sẽ ổn thỏa hơn.
Đại sứ Trương cảm ơn Nguyễn Văn Linh đã tiếp và tỏ ý sẽ lập tức báo cáo trong nước biết nội dung cuộc nói chuyện của ông.
Gặp gỡ bí mật Thành Đô
Chiều 28 tháng 8 năm 1990, Sứ quán nhận được chỉ thị của trong nước, đề nghị Đại sứ Trương chuyển lời tới Nguyễn Văn Linh : Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười tiến hành thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9, cũng hoan nghênh Cố vấn Trung ương ĐCSVN Phạm Văn Đồng đồng thời cùng đi. Hiện nay thời cơ giải quyết chính trị vấn đề Campuchia đã chín muồi, hai phía TQ-VN cần cùng nhau cố gắng xúc tiến giải quyết thật nhanh vấn đề này và sớm thực hiện bình thường hóa quan hệ TQ-VN. Do Á Vận Hội sắp sửa tiến hành tại Bắc Kinh, vì để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm sẽ thu xếp tại Thành Đô, Tứ Xuyên.
Đại sứ Trương Đức Duy lập tức họp hội nghị mở rộng Đảng ủy Sứ quán nghiên cứu tìm cách nhanh chóng nhất chuyển thông tin quan trọng của trong nước tới Nguyễn Văn Linh. Nhờ đã có kinh nghiệm lần trước nên lần này mọi người ít nhiều đã có chút vững tâm, quyết định vẫn cứ để Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ liên hệ với Bộ Quốc phòng Việt Nam. Thế là 8 giờ sáng ngày 29, một lần nữa Đại sứ Trương gặp Lê Đức Anh, đề nghị ông giúp đỡ thu xếp để Đại sứ Trương trực tiếp báo cáo Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh biết thông tin quan trọng đến từ Bắc Kinh.
Một tiếng đồng hồ sau, Trưởng phòng Vũ Tần thuộc Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam hẹn gặp Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ, chuyển đạt lời nhắn miệng của Lê Đức Anh nói Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ấn định 4 giờ chiều hôm ấy sẽ cùng Chủ tịch Đỗ Mười tiếp Đại sứ Trương. Để thể hiện cuộc hội kiến này được liên hệ qua kênh chính thức, Tổng Bí thư kiến nghị Đại sứ quán Trung Quốc chính thức nêu yêu cầu với Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN, nói rằng Đại sứ Trương có việc khẩn cấp hy vọng được hội kiến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và các đồng chí lãnh đạo Việt Nam khác trong cùng ngày. Căn cứ theo sự gợi ý của Nguyễn Văn Linh, 1 giờ chiều hôm đó Đại sứ Trương đến gặp Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN Trịnh Ngọc Thái nêu ra yêu cầu nói trên.
Qua sự bố trí của Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN, 4 giờ chiều Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười hội kiến Đại sứ Trương tại Phòng khách Trung ương ĐCSVN. Đại sứ Trương chuyển tới Nguyễn và Đỗ ý kiến của Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng mời hai đồng chí thăm Trung Quốc nội bộ. Nguyễn và Đỗ đều rất vui mừng nhận lời mời, đồng ý với thời gian và địa điểm cuộc gặp do phía Trung Quốc đề xuất và nói sẽ lập tức báo cáo Bộ Chính trị Trung ương ĐCSVN, nhanh chóng xác định danh sách nhân viên đi theo và bắt tay làm công tác chuẩn bị. Nguyễn Văn Linh còn nói, nếu tình thình sức khỏe cho phép thì đồng chí Phạm Văn Đồng cũng sẽ nhất định nhận lời mời cùng đi. Sau khi về Sứ quán, Đại sứ Trương lập tức báo cáo trong nước biết tình hình cuộc gặp chiều nay.
Ngày 30, trong nước thông báo cho Sứ quán biết thu xếp lịch trình đại thể của lần gặp gỡ này, đó là : sáng ngày 3 tháng 9, chuyên cơ Việt Nam rời Hà Nội, 1 giờ trưa đến Thành Đô, buổi chiều lãnh đạo hai bên hội đàm, buổi tối phía Trung Quốc mở tiệc chiêu đãi. Sáng ngày 4 tháng 9 tiếp tục hội đàm, buổi chiều chuyên cơ Việt Nam rời Thành Đô về nước. Sau khi thỉnh thị và được trong nước đồng ý, Đại sứ Trương sẽ cùng đáp chuyến chuyên cơ Việt Nam đi Thành Đô và tham gia hội đàm.
Sáng ngày 3, tôi đi xe của Đại sứ Trương đến sân bay quốc tế Nội Bài Hà Nội, vừa để tiễn Đại sứ Trương vừa cũng là để tiễn đoàn Nguyễn Văn Linh. Phía Việt Nam tất cả có 15 người đi chuyến này, ngoài Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng ra, các nhân viên chủ yếu cùng đi còn có Chánh Văn phòng Trung ương ĐCSVN Hồng Hà (Ủy viên TƯĐ), Trưởng ban Đối ngoại TƯ ĐCSVN Hoàng Bích Sơn (UV TƯĐ), Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm (UV TƯĐ), còn lại là các nhân viên công tác. Khi xe của Đại sứ Trương tới gần sân bay thì thấy một xe con kiểu bình thường màu đen chạy sau xe chúng tôi, ngoảnh lại nhìn, vì xe không treo màn cửa nên có thể thấy rõ người ngồi bên trong là Nguyễn Văn Linh, bên cạnh người lái xe có một cán bộ bảo vệ. Có thể thấy Nguyễn Văn Linh vẫn giữ tác phong giản dị như thế của Hồ Chí Minh. Xe chúng tôi lập tức chạy chậm lại nhường đường cho xe Nguyễn Văn Linh. Tại sân bay không làm bất kỳ nghi lễ tiễn đưa nào, đoàn Nguyễn Văn Linh và Đại sứ Trương lên máy bay xong, chuyên cơ liền cất cánh.
Sau khi từ Thành Đô trở về, Đại sứ Trương cho chúng tôi biết cuộc gặp lãnh đạo hai nước chủ yếu thảo luận cách giải quyết chính trị vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ bình thường TQ-VN. Về vấn đề Campuchia, hai bên chú trọng bàn về thành viên Ủy ban Tối cao cơ quan quyền lực lâm thời Campuchia [SNC], tức phương án phân phối quyền lực sau khi Việt Nam rút quân. Phía Trung Quốc đề xuất Ủy ban này gồm 13 thành viên, ngoài Shihanouk làm Chủ tịch ra, chính quyền Phnompenh cử 6 đại biểu, phía lực lượng chống đối gồm ba phái Campuchia Dân chủ (tức Khmer Đỏ), Ranaridh và Son Sann mỗi phái 2 đại biểu, cộng 6 đại biểu. Nguyễn Văn Linh tỏ ý có thể tiếp thu phương án này của phía Trung Quốc ; Đỗ Mười cho rằng bản thân Shihanouk cũng thuộc lực lượng chống đối, như vậy tỷ lệ hai bên là 6 so với 7, phía lực lượng chống đối nhiều hơn 1 ghế, dự đoán phía chính quyền Phnompenh khó tiếp thu phương án này ; Phạm Văn Đồng thì nói phương án của phía Trung Quốc đã không công bằng lại cũng không hợp lý. Cuối cùng phía Việt Nam đồng ý dựa vào phương án của phía Trung Quốc để làm công tác thuyết phục phía Phnompenh.
Về mối quan hệ TQ-VN, hai bên đều có thái độ nhìn về phía trước, không rà lại các món nợ cũ. Lãnh đạo hai nước đều đồng ý dựa theo tinh thần « Kết thúc quá khứ, mở ra tương lai » viết một chương mới trong mối quan hệ TQ-VN. Khi kết thúc cuộc gặp, lãnh đạo hai nước đã ký kết « Biên bản Hội đàm ». Tổng Bí thư Giang Trạch Dân còn ý vị sâu xa trích dẫn hai câu thơ của Giang Thủy, nhà thơ đời Thanh : « Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương kiến nhất tiếu mẫn ân cừu [tạm dịch : Qua kiếp nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù] » Tối hôm ấy Nguyễn Văn Linh xúc động viết bốn câu thơ : « Huynh đệ chi giao số đại truyền, oán hận khoảnh khắc hóa vân yên, tái tương phùng thời tiếu nhan khai, thiên tải tình nghị hựu trùng kiến. » [2]
Để bảo đảm cuộc gặp thành công, Tỉnh ủy Tứ Xuyên và Văn phòng Đối ngoại đã làm rất nhiều công việc tổ chức và chuẩn bị. Nghe nói họ đã phải đưa đi nơi khác tất cả các khách trọ ở nhà khách Kim Ngưu, để dành nơi này đón các vị khách Việt Nam ở trong hai ngày hội đàm. Đồng thời hai bên TQ-VN thương lượng giữ bí mật về cuộc hội đàm này, không phát bất cứ tin tức nào ra bên ngoài.
16 chữ vàng của mối quan hệ Trung Quốc -Việt Nam
Một năm sau cuộc gặp Thành Đô, tháng 11 năm 1991, tân Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười và tân Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt thăm Trung Quốc. Lãnh đạo hai nước ra Thông cáo chung, tuyên bố thực hiện bình thường hóa quan hệ TQ-VN.
Tháng 2-1999 lãnh đạo TQ-VN ra « Tuyên bố chung » xác định bộ khung phát triển mối quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, nói tóm tắt là 16 chữ « Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện ». Các quan chức và học giả Việt Nam nói đây là « 16 chữ vàng ».
Tháng 7 và tháng 11 năm 2005, lãnh đạo cấp cao hai nước TQ-VN đi thăm lẫn nhau, làm phong phú hơn nữa nội hàm của « 16 chữ », không ngừng nâng cao mối quan hệ láng giềng hữu hảo và hợp tác toàn diện lên mức độ mới, khiến cho hai quốc gia và nhân dân hai nước mãi mãi làm láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đánh dấu mối quan hệ ngoại giao hữu hảo TQ-VN được đẩy lên một chặng đường mới.

————-
Ghi chú của người dịch:
[1] Bệnh Meniere là một rối loạn ở tai trong, gây ra chóng mặt và ù tai.
[2] Chúng tôi đoán ông Nguyễn Văn Linh viết 4 câu này bằng tiếng Việt, đây chỉ là lời dịch của phía Trung Quốc “兄弟之交数代传,怨恨顷刻化云烟,再相逢时笑颜开,千载情谊又重建。” Dịch ngược lại tất nhiên không đúng với nguyên văn tiếng Việt. Tạm dịch ý: Tình anh em truyền bao đời, trong khoảnh khắc mọi oán hận tan thành mây khói, khi gặp nhau nở nụ cười, xây đắp lại tình hữu nghị muôn đời.
[3] Tạp chí “Đảng sử tung hoành” ra đời năm 1988, do Phòng Nghiên cứu lịch sử đảng của Tỉnh ủy Liêu Ninh (TULN), Ban Tổ chức TULN, Cục Lão cán bộ TULN phụ trách ; tạp chí ra hàng tháng, có tính chất tổng hợp và thông tục, được phát hành công khai cho bạn đọc trong và ngoài TQ. Tác giả bài viết này có lẽ là Lý Gia Trung, từng 4 lần làm việc ở ĐSQTQ tại VN, lần cuối cùng làm Đại sứ. Lý học tiếng Pháp tại TQ, tiếng Việt tại ĐHTH HN, là tác giả sách Hồ Chí Minh, một cuộc đời huyền thoại xuất bản năm 2011 ở TQ.

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Tiền nhân đã dạy: “Khôn thì sống, mống thì chết”


Ngọc Quang

31-10-2014


Luật sư Trương Trọng Nghĩa – Đại biểu đoàn TP.HCM. Ảnh: TTBC

(GDVN) – Nếu chúng ta giao quyền, giao tài sản cho những người kém cỏi về năng lực và đạo đức, lại tham lam… thì làm sao tránh khỏi lệ thuộc, thậm chí là mất nước.

Sáng nay, Luật sư Trương Trọng Nghĩa – Đại biểu đoàn TP.HCM đã có một phát biểu làm nóng nghị trường khi đề cập thẳng tới quan hệ kinh tế với Trung Quốc và chuyện hàng nghìn lao động phổ thông Trung Quốc tràn vào Việt Nam.

Đại biểu Nghĩa dẫn ra phát biểu của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành “Kinh tế không thể bay cao vì đôi cánh của nó bị đeo quá nhiều gánh nặng”: Xuất khẩu đứng trong top 10, top 5, thậm chí nhất nhìn thế giới, nhưng suốt hai thập kỷ qua vẫn gia công với lao động giá rẻ, xuất khẩu tài nguyên, nhập khẩu đến 70-80% linh kiện, nguyên phụ liệu, nhập khẩu hàng tiêu dùng rẻ tiền, năng suất lao động thấp… tham nhũng tràn lan, nợ công, nợ xấu trồng chất.

Một trong những nguy cơ mới từ 10 năm qua đó là sự lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc. Tôi dùng chữ lệ thuộc theo nghĩa là muốn dứt ra mà không dứt được. Biết không tốt, không hay, nhưng vẫn phải tiếp tục. Sự lệ thuộc này diễn ra trên nhiều lĩnh vực: Xuất nhập khẩu, nguyên phụ liệu, đấu thầu thi công, năng lượng, viễn thông, khai thác khoáng sản, trang thiết bị công nghệ, nhân công, hàng tiêu dùng… Tại kỳ họp 7 tôi có chất vấn về sự lệ thuộc về tài chính thì được trả lời là không đáng kể, nhưng một số cử tri không đồng ý, cho rằng đã có sự lệ thuộc vào vốn và tài chính đang ẩn dấu.

Tôi không muốn nói đến âm mưu thủ đoạn của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với nền kinh tế Việt Nam. Tôi đang nói đến Trung Quốc như một đối tác trong cộng đồng kinh tế toàn cầu, doanh nghiệp Trung Quốc như là các đối tác Mỹ, Nga, Ấn Độ và các nước ASean.

Có được một nền kinh tế mạnh, núi liền núi, sông liền sông trước hết không phải chỉ là thách thức mà là cơ hội. Chỉ riêng tiết kiệm chi phí vận chuyển đã đem lại cho doanh nghiệp Việt Nam lợi thế cạnh tranh không nhỏ so với các nước khác. Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam không chỉ có yếu kém mà còn có những thế mạnh, vậy thì vì sao lại trở nên lệ thuộc?

Có những bài học từ nhân dân, tiền nhân là tiên trách kỷ hậu trách nhân. Khôn thì sống mống thì chết. Không thách thức khó khăn nào lớn hơn hai cuộc chiến tranh vừa qua, nhưng chúng ta đã biết biến những thách thức khó khăn thành thuận lợi, chuyển bại thành thắng nhờ biết trọng dụng và sử dụng những cán bộ hữu tài và hữu đức.

Nếu chúng ta giao quyền, giao tài sản cho những người kém cỏi về năng lực và đạo đức, lại tham lam, người ta chưa mua thì đã chủ động chào bán, thậm chí buộc người ta phải hối lộ như một điều kiện làm ăn với mình thì làm sao tránh khỏi lệ thuộc, thậm chí là mất nước.

Một nước có tiềm năng nông nghiệp lớn như Việt Nam mà lại phải nhập khẩu nông sản, nguyên liệu thực phẩm lớn từ Trung Quốc, kể cả rau quả và trứng gà. Chúng ta vẫn còn quyền tổ chức đấu thầu và chấm thầu thì tại sao lại để lọt những nhà thầu kém năng lực, có ngành chiếm đến 80-90% số lượng dự án? Tại sao thương nhân Trung Quốc có thể bằng visa du lịch đến tận miền Tây Nam Bộ thu mua nông sản, làm lũng đoạn thị trường? Tại sao buôn lậu, thực phẩm chất lượng kém vẫn ồ ạt tràn qua biên giới theo đường tiểu ngạch?

Tại sao nhà máy của SamSung xuất khẩu 130 triệu điện thoại di động trị giá 23,9 tỷ USD, sử dụng 45 nghìn lao động mà chỉ sử dụng có 70 người Hàn Quốc, trong khi chúng ta lại để 23 nghìn lao động Trung Quốc (chủ yếu là lao động phổ thông) vào làm việc khắp nơi, từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận, Lâm Đồng, TP.Hồ Chí Minh, Trà Vinh.

Dự án Formosa có 4.268 lao động Trung Quốc trên tổng số 5.917 người. Tại sao Formosa không được cho xây miếu thờ mà vẫn cứ xây? Họ thờ ai và sau này có dẹp được không? Tại sao nạn buôn người sang Trung Quốc vẫn trầm trọng?

Không nên đổ thừa cho âm mưu thủ đoạn gì ở đây cả, mà trước hết là do sự yếu kém của chúng ta.

Ông Nghĩa nhận định, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra dư địa để phát triển mạnh hơn, đồng thời bày tỏ: “Con người là yếu tố quyết định của mọi giải pháp, do đó Đại hội Đảng 12 phải làm một cuộc cách mạng về nhân sự, chú trọng những cán bộ lãnh đạo có đủ các tiêu chí sau đây: Một là có tài, hai là có đức, ba là yêu nước, bốn là có tư duy dân chủ và tư duy đổi mới hội nhập. Những người năng lực kém và đầu óc cũ kỹ quá thì không nên giao chức vụ cao”.

Nguồn: Báo GDVN

Giải mã khối tài sản kếch sù tại các tập đoàn 'sân sau' của Nguyễn Sinh Hùng

Cập nhật lúc 05-11-2014 16:06:10 (GMT+1)



Một bài "vu khống" lãnh đạo của các báo "lề trái" - Cô em gái Nguyễn Hồng Phương của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chỉ trong thời gian 11 năm, khởi đầu từ 1 cửa hàng sao chép đĩa lậu đã làm nên khối tài sản nổi khổng lồ 3,400 tỷ với 27 doanh nghiệp, trở thành bà hoàng trong lĩnh vực bất động sản tại TPHCM và nhiều tỉnh thành. Cậu em Hà Văn Thắm cũng từ hai bàn tay trắng, chỉ trong vòng 5 năm đã có 5,000 tỷ với hơn 40 công ty, trở thành ông trùm trong giới mafia tài chính.

Câu hỏi ngỏ về nguồn gốc các khối tải sản của Phương và Thắm đã dần dần sáng tỏ, ngoài sự hỗ trợ tích cực của ông anh Nguyễn Sinh Hùng - UVBCT, khi còn là Phó Thủ tướng thường trực - bằng cách thâu tóm các dự án bất động sản và buộc hệ thống ngân hàng Nhà nước phải cho Phương vay với số lượng tiền lớn, lãi suất thấp, không cần có tài sản thế chấp. Kẻ chủ động thực hiện việc này là Hà Văn Thắm với sự cộng tác tích cực của Nguyễn Xuân Sơn – Phó tổng giám đốc tập đoàn dầu khí (PVN) lúc mới được bổ nhiệm làm Chủ tịch sau khi ông Thực nghỉ hưu. Một thông tin còn khá ít người biết, nguồn vốn chính của nhóm này lại đến từ dầu khí, đó cũng là nguyên nhân mà Phương mở công ty “ma” mang tên Công ty CP Bất động sản Dầu khí – SSG với số vốn 400 tỷ đồng, trong đó Phương chiếm 49% cổ phần nhằm thực hiện nghiệp vụ “luân chuyển” vốn.

Sự việc được tiết lộ, ông Nguyễn Xuân Sơn vốn là Tổng giám đốc Ngân hàng Đại Dương (OCEAN Bank), khi đó Sơn cùng Hà Văn Thắm đã là người thân tín của ông Nguyễn Sinh Hùng. Từ khi làm Bộ trưởng Tài chánh, ông Sinh Hùng đã biết rất rõ các khoản tiền của ngành dầu khí cần phải gửi ngân hàng, nhất là các khoản tiền phí các công ty nước ngoài trả qua thăm dò hoặc dọn dẹp các giếng khoan. Số tiền đó không dưới 1 tỷ USD. Khi ông Đinh La Thăng được điều về làm Tổng giám đốc PVN cũng là lúc ông Nguyễn Sinh Hùng tính toán lợi ích cho mình. Ông đã gợi ý cho ông Vũ Huy Hoàng là Bộ trưởng Bộ Công Thương xui ông Nguyễn Xuân Sơn về PVN và bổ nhiệm làm Phó Tổng giám đốc phụ trách Tài chánh, thực chất là để nắm số lượng tiền nói trên.

Theo chỉ đạo của ông Nguyễn Sinh Hùng, mà trực tiếp là ông Đinh La Thăng, Nguyễn Xuân Sơn đã mang những khoản tiền nói trên gửi vào Ngân hàng Đại Dương (OCEAN Bank), do Hà Văn Thắm nắm giữ. Theo thông tin được biết, số tiền gửi vào cho Hà Văn Thắm khoảng trên 10 ngàn tỷ đồng. Còn có tin ông Nguyễn Xuân Sơn còn gửi ở Ngân hàng Đông Nam Á (SEABank) do bà Nguyễn Thị Nga làm chủ tịch khoảng trên 4 ngàn tỷ đồng. Việc ăn chia tỉ lệ lãi gửi như thế nào đều do ông Sơn bàn với Hà Văn Thắm. Chỉ biết số tiền lãi này Sơn có chia cho ông Nguyễn Sinh Hùng thông qua tay trợ lý Hoàng Văn Chánh. Khi đã có được khoản tiền dầu khí nói trên, Thắm làm nhiệm vụ rút tiền từ Ngân Hàng Đại Dương (OCEAN Bank) gửi cho Nguyễn Hồng Phương theo hình thức cho vay thực hiện các dự án. Phương và Thắm đều tạo ra các công ty ma để thực hiện việc rút tiền, không cần có tài sản thế chấp. Bằng thủ đoạn này, Nguyễn Hồng Phương đã thực hiện hàng loạt các dự án để phất lên nhanh chóng như thông tin mà mọi người đều biết. (Xem chi tiết ở cuối bài)

Ông Nguyễn Sinh Hùng không chỉ lo cho đám đệ tử, đối với người nhà ruột thịt ông cũng tạo điều kiện tối đa. Cũng nhờ cái uy của ông nắm ngành tài chánh, ông đã ép được Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng và lãnh đạo PVN bố trí cho 2 người em ruột của ông nắm giữ các chức vụ chủ chốt, ở những khâu có nhiều tiền nhất. Người thứ nhất là cô em Nguyễn Thị Lan giữ chức Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Khí Việt Nam (PVGAS) từ đầu năm 2011. Người thứ 2 là cậu em Nguyễn Sinh Khang, sau khi yên vị ở vị trí Chủ tịch PVOIL lại tiếp tục được bổ nhiệm làm Phó Tổng giám đốc PVN sau đó không lâu (8/2011).

Chủ tịch PVOIL Nguyễn Sinh Khang (đứng) báo cáo về kế hoạch triển khai dự án xây dựng Tổng kho xăng dầu Vũng Áng

Từ khi nắm PVGAS, bà Nguyễn Thị Lan bằng việc gian lận mua vật tư và nhập nhằng giá Gas, đã chiếm đoạt hàng triệu USD. Đầu năm 2013, bà Lan bị thanh tra phát hiện và được lệnh hạ cánh an toàn bằng cách xin nghỉ việc với lý do chồng bị ung thư rồi hai vợ chồng đi Canada, nay đã định cư ở Úc. Thực chất thì cả hai vợ chồng đều khoẻ mạnh, giờ thì có thánh cũng chẳng làm gì được bà Lan, Tập đoàn Dầu khí thì dĩ nhiên phải ỉm luôn chuyện này (ai đã từng kinh qua vị trí lãnh đạo PVN đều biết). Tại sao vợ chồng bà Nguyễn Thị Lan đi định cư ở nước ngoài dễ dàng như thế? Được biết lúc đầu Úc không chấp nhận cho nhập cảnh, vợ chồng bà Lan phải qua Canada trước. Đến cuối năm 2013, vợ chồng bà Lan đã được chính phủ Úc chấp nhận cho định cư. Dư luận bàn tán nếu Nguyễn Sinh Lan không phải là em ông Sinh Hùng thì vụ việc đã được làm rõ và bà Lan không thể ra nước ngoài định cư dễ dàng như vậy. Một điều đáng nói hơn, trong hồ sơ Đảng của ông Hùng hoàn toàn không nhắc gì đến việc cô em gái Nguyễn Thị Lan trở thành công dân Úc sau khi các sai phạm bị phát hiện và nghỉ hưu non tại PVGAS.

Bà Nguyễn Thị Lan, Chủ tịch PVGas nay đã định cư Úc

Chính vì bảo vệ được những nguồn thu từ Tập đoàn Dầu khí, ông Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đã gây sức ép với ông Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Công Thương, kết hợp với ông Đinh La Thăng phải đưa bằng được Nguyễn Xuân Sơn, Phó tổng giám đốc lên làm Chủ tịch. Hoàng Văn Chánh và Nguyễn Hồng Phương phụ trách ôm tiền gõ nhiều cửa chạy cho Sơn. Kết quả ai cũng biết là ông Sơn đã được bổ nhiệm làm Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí với số phiếu “tín nhiệm” cao hơn người khác. Hiện nay còn mảng lắp ghép cuối cùng cho chức Tổng giám đốc PVN, được biết ông Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã có quyết định giao cho ông Sơn kiêm Tổng giám đốc với ý đồ sau đó sẽ dựng ông Nguyễn Quốc Khanh vào vị trí này. Như thế, ông Chủ tịch Quốc hội mới nắm được Ngành dầu khí. Nếu quả đúng là tình hình diễn ra như vậy, thì ngành Dầu khí nước ta gặp thảm hoạ. Vì cả ông Nguyễn Xuân Sơn và ông Nguyễn Quốc Khánh đều không có chuyên môn về khai thác dầu và lẽ tất yếu là tiền của ngành Dầu khí sẽ bị gia đình ông Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng tiếp tục “thăm dò và khai thác” đến khi cạn kiệt.

Nay Cơ quan Điều tra đã bắt Hà Văn Thắm. Mọi người hãy chờ xem Thắm sẽ khai ra những điều gì của nhóm lợi ích này, nhất là việc ông Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đã chỉ đạo cho Hà Văn Thắm, Nguyễn Hồng Phương thôn tính Ngân hàng Bảo Việt và hành vi khống chế ngành dầu khí nhằm làm “kinh tế gia đình” của ông Hùng sẽ được làm sáng tỏ.

Cháu Nguyễn Sinh Hùng 'hất cẳng' con Nông Đức Mạnh


Ông Nông Quốc Tuấn (con của cựu TBT Nông Đức Mạnh) bị hất cẳng và Trần Sỹ Thanh về thay thế giữ chức Bí Thư Bắc Giang. Có lẽ ít người biết rằng cái cậu ấm Uỷ viên trung ương dự khuyết này là cháu của Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc Hội - đang "thoả hiệp" cùng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng...

Ông Trần Sỹ Thanh - 41 tuổi, Ủy viên dự khuyết Trung ương, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương - đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang thay ông Nông Quốc Tuấn vừa được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.
Ngày 15-6, ông Tô Huy Rứa - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương - thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư công bố các quyết định nhân sự của Trung ương tại Tỉnh ủy Bắc Giang.
Theo Quyết định số 528 và 529-QĐNS/TW ngày 4-6-2012, Bộ Chính trị quyết định ông Nông Quốc Tuấn - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang - thôi tham gia Ban Thường vụ, thôi giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang chuyển công tác về Ủy ban Dân tộc, giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban này.

Tại buổi công bố, ông Tô Huy Rứa cũng công bố quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao ông Trần Sỹ Thanh - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương - thôi tham gia Ủy ban Kiểm tra Trung ương để tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang nhiệm kỳ 2010-2015.

Phát biểu tại buổi công bố các quyết định, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa ghi nhận những đóng góp của ông Nông Quốc Tuấn trong thời gian giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang. Ông Tô Huy Rứa mong ông Trần Sỹ Thanh tiếp tục phát huy khả năng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần xây dựng tỉnh ngày càng phát triển.

Ông Trần Sỹ Thanh, 41 tuổi, quê xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương - tỉnh Nghệ An, là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Những điểm nổi bật của ngành ngoại giao Việt Nam năm 2014


GS Nguyễn Mạnh Hùng trả lời RFA

Năm 2014 sắp kết thúc. Đây là năm mà ngành ngoại giao Việt Nam có thể nói là đã phải đương đầu với những thách thức không nhỏ, đặc biệt là vấn đề về tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, nhưng đây cũng là năm Việt Nam đạt được một số những bước tiến nhất định trong quan hệ hệ với các nước khác. Nhân dịp này, chúng tôi có cuộc phỏng vấn với giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, giảng dạy môn quan hệ quốc tế thuộc trường đại học George Mason, để có một cái nhìn tổng quan về ngoại giao Việt Nam trong năm qua.

Việt Hà: Thưa giáo sư, trước hết xin giáo sư cho biết đâu là những điểm nổi bật đáng chú ý của ngoại giao Việt Nam trong năm vừa qua?

GS. Nguyễn Mạnh Hùng: Nét nổi bật nhất của ngoại giao Việt Nam trong năm qua là việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 thăm dò dầu khí vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, và cách Việt Nam đối phó với hành động lấn lướt ấy.

Lần này, Bộ Chính trị của đảng CSVN đã họp nhiều lần để có thể đoàn kết sau một lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, thể hiện qua lời tuyên bố của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ở Manila (Việt Nam không chấp nhận một nền hòa bình hữu nghị viển vông dựa trên mối quan hệ lệ thuộc).

Học bài học của Phi Luật Tân trong vụ bãi cạn Scarborough năm 2012, Việt Nam chỉ đem lực lượng cảnh sát tuần duyên và tàu dân sự ra gần giàn khoan để sách nhiễu và xác định chủ quyền của mình.

Khác với vụ Scarborough và Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 21 ở Phnom Penh khi Phi không tranh thủ được sự ủng hộ tích cực, dù chỉ bằng miệng của ASEAN, lần này Việt Nam đã đóng được một vai trò tích cực, như mũi nhọn trong việc phối hợp hành động với Phi Luật Tân và Malaysia để phản đối Trung Quốc.

Chính sách đa phương, đa diện hóa các quan hệ đối ngoại và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với các nước lớn đã đem lại những kết quả cụ thể trong việc đối phó với vụ giàn khoan của Trung Quốc. Lần này, trừ Trung Quốc và Nga, các đối tác chiến lược hay toàn diện của Việt Nam, như Nhật, Ấn, và Mỹ không những chỉ lên tiếng ủng hộ Việt Nam, chỉ trích Trung Quốc, mà còn tăng cường quan hệ quốc phòng với Việt Nam và hứa bán võ khí sát thương, cung cấp tầu tuần duyên cho Việt Nam để tăng cường khả năng tự vệ của Việt Nam.

Trong trường hợp Ấn Độ, hai bên còn ký thỏa thuận cộng tác thăm dò và sản xuất dầu khí ở ngay trong vùng tranh chấp ở Biển Đông, bất chấp phản kháng của Trung Quốc. Ngay cả một nước thường có khuynh hướng trung lập như Sri Lanka, Thủ Tướng của nước này cũng ủng hộ Việt Nam và đòi Trung Quốc phải rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyến kinh tế và thềm lục địa của VN.

Việt Hà: thưa giáo sư, vào năm ngoái chúng ta có nói đến những thách thức mà ngoại giao Việt Nam sẽ phải đối mặt trong năm 2014 như vấn đề hiệp định xuyên TBD và nhất là vấn đề căng thẳng với Trung Quốc, vậy trong năm 2014 này, ngoại giao Việt Nam đã làm được gì và những gì còn chưa làm được với những thách thức đó?

GS. Nguyễn Mạnh Hùng: Việt Nam muốn gia nhập hiệp ước thương mại xuyên Thái Binh Dương, Mỹ cũng muốn giúp Việt Nam gia nhập, nhưng cuộc điều đình bị khựng lại vì khác biệt chưa giải quyết được giữa Mỹ và Nhật, và vì Quôc Hội Mỹ chưa chịu biểu quyết cho Tổng Thông Mỹ có quyền rộng rãi trong việc điều đình thương ước (Trade Promotion Authority).

Tiến triển khá nhanh và tốt đến giai đoạn mà Thượng Nghị Sĩ John McCain nói là cần có “những bước nhảy vọt.” Ta có thể kể vài thí dụ như hiệp ước 123 về hợp tác Mỹ Việt trong chương trình hạt nhân dân sự cho Việt Nam, việc Mỹ bãi bỏ một phần cấm vận võ khí sát thương

Thách thức của Trung Quốc qua vụ giàn khoan thì tương đối đã tạm được giải quyết, Việt Nam và Trung Quốc đã trao đổi nhiều phái đoàn và đạt được một số cam kết. Nhưng đó chỉ là bề mặt. Ngày 21/10, tại buổi họp Đại biểu Quốc hội tỉnh Điện Biên, kỳ họp thứ 8 của Quốc hội VN, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cảnh báo: "Âm mưu thực hiện hóa đường lưỡi bò, độc chiếm biển Đông của Trung Quốc không thay đổi. Chỉ có điều nó đang chuyển sang giai đoạn đấu tranh khác, thậm chí quyết liệt hơn, phức tạp hơn" Ông còn nhấn mạnh: “Chúng ta không thể lơ là mất cảnh giác. Các cụ của ta cũng đã nói, nếu không muốn chiến tranh thì phải chuẩn bị thật tốt cho chiến tranh.

Thách thức trong năm tới là làm thế nào để ngăn chặn trước đừng để xảy ra một sự đã rồi như vụ giàn khoan HD 981, hay vùng nhận diện phòng không trong vùng biển Đông Á giữa Nhật và Trung Quốc

Việt Hà: Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ Việt Mỹ trong năm 2014?

Tại Washington, DC, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam có quyền bang giao với bất cứ nước nào trên thế giới mà không ai có quyền cản trở
GS. Nguyễn Mạnh Hùng: Tiến triển khá nhanh và tốt đến giai đoạn mà Thượng Nghị Sĩ John McCain nói là cần có “những bước nhảy vọt.” Ta có thể kể vài thí dụ như hiệp ước 123 về hợp tác Mỹ Việt trong chương trình hạt nhân dân sự cho Việt Nam, việc Mỹ bãi bỏ một phần cấm vận võ khí sát thương, cú diện thoại đầy kịch tính giữa Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh của Việt Nam và Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry,và các chuyến việng thăm tới tấp của các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự của hai bên, kể cả chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên của Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân, Tướng Martin Dempsey, trong giai đoạn có cuộc khủng hoảng giàn khoan.

Nhưng bây giờ, nhưng người có cái nhìn chiến lược ở Việt Nam đã hiễu rẳng quyền lợi chiến lươc của Mỹ đòi hỏi một chính quyền mạnh, ôn cố,và độc lập ở Việt Nam chứ không phải là một khoảng trống chính trị có thể bị điền thế bởi một thế lực thù nghịch với Mỹ

Một chi tiết khác đáng lưu ý là trong tuần này,Bộ Ngoại Giao Mỹ sẽ tổ chức một buồi tiếp tân từ giã Đại sự VN Nguyễn Quốc Cường tại Blair House, nơi trú ngụ dành cho các quốc khách của Tổng Thông Mỹ. Đây là một vinh dự hiếm có dành cho một đại sứ, đồng thời là một cử chỉ biểu tượng nói lên sự đánh giá cao của chính quyền Mỹ đối với quan hệ hai nước.

Việt Hà: Việt Nam mong muốn có một quan hệ đầy đủ hơn với Mỹ nhưng lại luôn lo ngại về cái gọi là diễn tiến hòa bình của phương Tây, đây dường như là một mâu thuẫn gây khó khăn cho ngoại giao Việt Nam, theo ông Việt Nam đã làm gì để hóa giải điều này trong năm qua hay là họ vẫn chưa làm được điều đó?

GS. Nguyễn Mạnh Hùng: Từ nhiều năm, chính quyền Việt Nam nghi ngờ CIA của Mỹ có nhúng tay vào việc làm xụp đổ các chính thể công sản ở Đông Âu và Mỹ muốn dung áp lực nhân quyền để lật đô chế độ cộng sản ở Việt Nam. Nhưng bây giờ, nhưng người có cái nhìn chiến lược ở Việt Nam đã hiễu rẳng quyền lợi chiến lược của Mỹ đòi hỏi một chính quyền mạnh, ổn cố, và độc lập ở Việt Nam chứ không phải là một khoảng trống chính trị có thể bị điền thế bởi một thế lực thù nghịch với Mỹ. Mặt khác, họ cũng biết không thể đi tới một quan hệ chiến lược chặt chẽ và tin cậy lẫn nhau nếu vấn đề nhân quyền không được cải thiện. Cả hai nước phải tím cách xử lý mối dị biệt này.

Năm ngoái khi đọc diễn văn tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Bang Giao Quốc Tế ở Washington, DC, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam có quyền bang giao với bất cứ nước nào trên thế giới mà không ai có quyền cản trở

Cuối tháng 10 vừa qua, hai cuộc họp xảy ra gần như song hành tại Hà Nội – đối thoại về chính sách quốc phòng giữa Tướng Nguyển Chí Vịnh, Thứ Trướng Quốc Phòng Việt Nam, và bà Amy Searight, Phó Trợ lý Bổ trượng Quốc Phòng Mỹ đặc trách Nam Á và Đông Nam Á; và cuộc gặp gỡ giữa Thượng Tướng Tô Lâm, Thứ trưởng Công An Việt Nam, và ông Tom Maninowski, Trợ lý Ngoại trường Mỹ đặc trách Dân Chủ, Nhân Quyển, và Lao Động, cùng lúc với việc thả ông Điếu Cày để ông sang Mỹ-- cho thấy hai bên đang tìm cách giải quyết mối liên hệ ắt có giữa quan hệ quốc phòng Mỹ-Việt với vấn đề nhân quyền, và nhu cầu phối hợp hữu hiệu giữa các bộ và cơ quan của Việt Nam trong viêc thúc đẫy quan hệ mật thiết hơn với Mỹ.

Việt Hà: Mối quan hệ này có ảnh hưởng qua lại ra sao thể hiện trong quan hệ Việt Trung trong năm qua?

GS. Nguyễn Mạnh Hùng: Trung Quốc rất khó chịu, nhưng phải chấp nhận. Nhân dân Nhật Báo của Trung Quốc phàn nàn Việt Nam không thật tâm với Trung Quốc. Ông Phạm Bình Minh đã tuyên bố ở New York, Việt Nam cần mua võ khi để tự vệ, chẳng mua của nước này thì mua của nước khác. Năm ngoái khi đọc diễn văn tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Bang Giao Quốc Tế ở Washington, DC, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam có quyền bang giao với bất cứ nước nào trên thế giới mà không ai có quyền cản trở.

Việt Hà: Xin cảm ơn giáo sư đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Thực trạng kinh tế xã hội và cuộc chiến quyền lực tại Việt Nam

Kinh tế đình đốn, thất nghiệp gia tăng, tệ nạn xã hội ngày càng nhiều, đời sống người dân lao động ngày càng hết sức khó khăn…Đó là thực tế có thể thấy rõ, ngay trên báo chí chính thức trong nước.

Nhưng theo báo cáo mới nhất của Chính phủ Việt Nam ngày 30/10/2014 về nợ công và nợ xấu, thì dự kiến đến cuối năm nay nợ công chiếm khoảng 60,3% GDP, vẫn còn nằm trong giới hạn cho phép. Báo cáo nêu lý do sở dĩ nợ công tăng nhanh vì ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nên kinh tế tăng trưởng chậm, thu ngân sách thấp trong khi mức chi lại tăng mạnh.

Do Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình nên nguồn vốn vay ưu đãi với kỳ hạn dài giảm dần. Chính phủ phải phát hành trái phiếu ngắn hạn, tỉ trọng vay trong nước như vậy đã tăng lên. Một phần số tiền vay được dùng để đảo nợ. Báo cáo khẳng định việc đảo nợ này không làm tăng nợ công, và trên 98% vốn vay được sử dụng cho các dự án hạ tầng.

Về nợ xấu, theo báo cáo thì tỉ lệ hiện nay chỉ còn 5,43% so với mức 17% vào năm 2012, và mức phấn đấu là đến cuối năm 2015 nợ xấu chỉ còn chiếm khoảng 3%.

Tuy nhiên thực tế có đáng lạc quan như thế hay không? Trong kỳ họp Quốc hội đang diễn ra, các đại biểu đã đặt ra nhiều câu hỏi. Có đại biểu nhận định vấn đề nợ xấu, nợ công tăng đã được đề cập nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục tăng, chứng tỏ các giải pháp không có kết quả. Nhiều người cho rằng chưa có cơ sở để khẳng định nợ công là an toàn, kết cấu nợ như thế nào không rõ, và các giải pháp đề ra còn quá chung chung. Đáng lo nhất là số nợ của Việt Nam sắp đạt mức 90 tỉ đô la, có nghĩa là mỗi người dân Việt đang phải gánh khoảng 1.000 đô la nợ công, theo con số chính thức.

Điều đáng chú ý là bên cạnh những báo cáo mang khuynh hướng tô hồng, một làn sóng phản biện đang diễn ra, cùng với sự kiện một số quan chức ngân hàng bị bắt giữ. Phải chăng nền kinh tế Việt Nam đã « đủ xấu », còn về chính trị thì đã « đủ chín muồi »?

Chúng tôi đã đặt ra các câu hỏi trên đây cho tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng, đồng thời là nhà bình luận chính trị ở Saigon.

Ly tâm chính trị

RFI : Xin chào tiến sĩ Phạm Chí Dũng, trước hết xin cảm ơn anh đã nhận lời tham gia chương trình hôm nay. Thưa anh, đánh giá về thực trạng nền kinh tế Việt Nam, trong khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng báo cáo trước Quốc hội là “kinh tế - xã hội chuyển biến tích cực”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lại cho rằng “tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn”, còn Chủ tịch nước Trương Tấn Sang mô tả “nền kinh tế đang ở giai đoạn khó khăn nhất”. Theo anh, tại sao lại có hiện tượng khác biệt về cách đánh giá như thế?

TS Phạm Chí Dũng : Kỳ họp Quốc hội lần này khác hẳn so với những kỳ họp trước - có thể xem là điểm khác biệt rất lộ liễu. Giới quan sát và phân tích cần ghi nhận là ở nhiều kỳ họp Quốc hội trước đây, kể cả kỳ họp gần đây nhất vào tháng 6/2014, cả ông Trương Tấn Sang lẫn ông Nguyễn Sinh Hùng đều ít nhất không phản bác gay gắt quan điểm “kinh tế phát triển” của Chính phủ. Nói cách khác, giữa họ dường như có sự thỏa hiệp ngấm ngầm với nhau. Không khí phản biện và phản bác của đại biểu Quốc hội cũng vì thế khá chìm lắng. Thậm chí vào năm 2013, báo chí thống kê có đến hàng trăm đại biểu không mở miệng trong suốt mấy kỳ họp liên tiếp.

Nếu diễn giải thuần túy theo quy luật kinh tế quyết định chính trị, thì thực trạng kinh tế càng tồi tệ càng dẫn đến hiện tượng ly tâm trong nội tình chính trị, thể hiện ở các luồng ý kiến và quan điểm khác nhau, thậm chí khác hẳn nhau. Tôi cho rằng kinh tế đã đủ xấu để kéo theo hiện tượng như đài RFI vừa đề cập, nghĩa là giữa các chính khách cao cấp không còn giữ được sự đồng thuận dù chỉ tương đối như trước đây, mà đang sinh ra mâu thuẫn, thậm chí xung đột với nhau.

“Kinh tế đủ xấu”

RFI : Có thể hiểu thế nào là “kinh tế đã đủ xấu”?

Một nền kinh tế xấu là khi GDP sụt giảm một nửa so với đỉnh của nó; nợ công quốc gia vượt quá ngưỡng nguy hiểm 65% GDP. Chỉ số tiêu dùng hoặc rơi vào tình trạng lạm phát cao, hoặc thiểu phát; vòng quay vốn chỉ bằng phân nửa so với mức trung bình; hàng tồn kho các ngành chủ chốt tăng 50% hoặc hơn. Hệ thống ngân sách nhà nước bị thâm thủng và kém bảo đảm các nguồn chi thường xuyên; hệ thống ngân hàng bị nợ xấu vượt quá 3% tổng dư nợ, tỉ lệ thất nghiệp vượt quá 10%…

Có thể nói quá bất hạnh là kinh tế Việt Nam đang hội tụ hầu hết những hiện tượng này.

RFI : Trong những báo cáo của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn luôn bảo lưu rằng nợ công quốc gia chưa vượt ngưỡng nguy hiểm?

Nợ công chưa vượt ngưỡng nguy hiểm 65% với điều kiện không cộng nợ của khối doanh nghiệp nhà nước. Nhưng nếu chiếu theo cách tính phổ biến của Liên Hiệp Quốc thì đương nhiên phải tính cả nợ của doanh nghiệp nhà nước, chứ nếu không thì nợ này chạy đi đâu và ai phải trả?

Mà nếu tính nợ doanh nghiệp nhà nước thì như nhiều chuyên gia độc lập đã xác định, tỉ lệ nợ công hiện thời phải đội lên ít nhất là 98% GDP, tức thực sự đang vào vùng nguy hiểm. Thậm chí có chuyên gia còn tính tới 106% GDP. Ngay ở kỳ họp Quốc hội lần này, đại biểu cũng phải thảng thốt vì con số hơn 300.000 tỉ đồng mà các doanh nghiệp Việt Nam phải bỏ ra mỗi năm để trả nợ nước ngoài, tính cho lãi suất chỉ 3-4%/năm. Vậy làm sao có thể tin được lời của Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh cho rằng “nợ nước ngoài chưa đáng ngại”?

Theo tôi, cách trấn an đó chẳng qua là động lực để các tập đoàn lợi ích tiếp tục vay mượn ODA và từ các nguồn khác, bất chấp tương lai đen tối ra sao dành cho thế hệ đời con đời cháu.

RFI : Các báo cáo của Chính phủ vẫn cho rằng GDP giữ được mức tăng 5,7% và có khả năng đạt trên 6% vào năm sau, nghĩa là không giảm đáng kể so với mức 8-9% vào thời điểm năm 2009-2010?

Vậy Chính phủ phải diễn giải thế nào về câu chuyện ngụ ngôn “GDP có chân”? Chứng thực gần đây nhất là vào năm 2013, cũng tại một kỳ họp Quốc hội, chính ông Vương Đình Huệ vừa nhậm chức Trưởng ban Kinh tế Trung ương Đảng, đã phải kêu lên là tại sao các tỉnh thành báo cáo đều có GDP vượt trên 10%, thậm chí đến 15%, nhưng GDP bình quân toàn quốc lại chỉ nhỉnh hơn 5% một chút?

Lời giải cuối cùng thuộc về sai số khủng khiếp của ngành thống kê Việt Nam, mà cho đến tận gần đây chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng buộc phải thừa nhận. Có nghĩa đó là căn bệnh báo cáo lấy thành tích một cách mãn tính và đầy giả dối ở Việt Nam, hoặc còn có cách gọi dân gian là “báo cáo láo”, để hậu quả cuối cùng là kết quả dối trá ấy đã cống hiến cho một cách thể hiện GDP cũng đầy dối trá.

Cũng cần lưu ý rằng ngay tại một đất nước bị coi là độc trị như Trung Quốc, năm 2013 cũng phải thừa nhận nhiều con số thống kê là sai. Chẳng hạn về nợ của các chính quyền địa phương, trong khi năm 2011 thống kê chỉ có 1.450 tỉ USD thì đến cuối năm 2013 đã buộc phải thừa nhận lên đến chẵn 3.000 tỉ USD.

Nhưng ở một chiều cạnh phân tích khác, nếu căn cứ vào tiêu chí vòng quay vốn hiện thời chỉ cỏn khoảng 0,6 - 0,8 so với mức 2 lần đạt được vào giai đoạn năm 2009 - 2010, thì có thể thấy GDP cũng phải giảm tương ứng, nghĩa là chỉ bằng khoảng 1/3 của mức 9% trước đây. Tức GDP Việt Nam thực tế hiện nay chỉ còn khoảng 3-3,5% chứ không thể là 5-6% như Chính phủ tô vẽ.

RFI : Phân tích của anh có bi quan quá không?

Làm sao bi quan một cách thiếu cơ sở và với bất cứ người làm công ăn lương nào ở Việt Nam? Một căn cứ khác có thể dựa vào để tính toán là số lượng và tỉ lệ doanh nghiệp phải phá sản và ngừng hoạt động trên toàn quốc. Tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động vào thời điểm cuối năm 2013 là khoảng 630.000. Trong khi đó, tại một hội nghị của Chính phủ với các “doanh nghiệp tiêu biểu” vào giữa năm 2014 đã phát hiện một bằng chứng tiêu biểu không kém, khi một số doanh nhân đưa ra con số có đến 300.000 doanh nghiệp phải giải thể và ngừng hoạt động, tức chiếm gần 50% số doanh nghiệp đăng ký hoạt động hiện nay.

Tôi muốn nhắc lại là vào đầu năm 2013, chính Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã lần đầu tiên phải công bố chính thức con số 100.000 doanh nghiệp phải phá sản và ngừng hoạt động, tức chiếm khoảng 18% tổng số doanh nghiệp. Sau đó, lại có con số cho biết có đến 200.000 doanh nghiệp không có khả năng đóng thuế, hay nói cách khác là ngừng hoạt động hoặc “biến mất”, chiếm khoảng 35% tổng số doanh nghiệp đăng ký.

Cuối cùng, tính theo cách nào thì số doanh nghiệp còn tồn tại cũng chỉ chiếm khoảng 50%, chưa tính việc trong đó có khá nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn không biết sẽ “đi” vào lúc nào. Vậy làm sao để “quyết tâm giữ vững GDP” như ông Thủ tướng nói được?

RFI : Vậy số liệu tỉ lệ thất nghiệp 1,84% cuối năm 2013 do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội báo cáo có mâu thuẫn gì với tỉ lệ doanh nghiệp phá sản?

Đó là con số mà thề có trời đất chứng giám - không làm sao tin được ! Những quan chức ngành lao động vẫn nổi tiếng là nơi sản xuất ra những con số trên trời và vô cảm đến mức bất nhẫn. Chỉ cần lấy con số doanh nghiệp phá sản và ngừng hoạt động là 100.000 theo công bố của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thì tương ứng tỉ lệ thất nghiệp cũng đã lên tới 18%. Song thực tế còn tệ hơn nhiều vì có đến 70% thanh niên trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, hoặc con số thống kê chưa đầy đủ vào cuối năm 2013 cho biết có đến 72.000 cử nhân ra trường bị thất nghiệp.

Còn nếu quy theo con số 200.000 doanh nghiệp không có khả năng đóng thuế, mà thực tế là phá sản hoặc “biến mất”, thì tỉ lệ thất nghiệp thực tế ở Việt Nam phải lên đến 35-36%, tức còn cao hơn mức thất nghiệp 26% ở Tây Ban Nha và 27% ở Hy Lạp vào thời hai quốc gia này bị lâm vào khủng hoảng.

Vậy mà Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội vẫn báo cáo chỉ có 1,84%, tức còn khả quan hơn cả hai năm trước đó. Chúng ta cần nhớ Việt Nam đã bước vào năm thứ bảy của suy thoái kinh tế và rủi ro đang lan nhanh từ khối sản xuất sang khối hành chính, không có ai thoát nạn cả.

RFI : Một thực trạng đang làm xôn xao khu vực nhà nước là ngân sách không có tiền để tăng lương cho công chức, viên chức. Phải chăng hiện tượng này bắt nguồn từ hậu quả sụt giảm GDP?

Tất nhiên là khi GDP giảm thì tích lũy quốc gia giảm theo và ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, tác động trực tiếp đến quỹ lương. Nhưng GDP không phải là tất cả nguyên nhân. Nhiều đại biểu Quốc hội đã lên tiếng về chuyện bất chấp kinh tế suy thoái và ngân sách khó khăn, bội chi ngân sách và tiêu xài lãng phí vẫn không ngừng xảy ra.

Cần nhắc lại là vào đầu năm 2014, lần đầu tiên trong lịch sử tồn tại của mình, chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng đã phải đề nghị Quốc hội cho nâng trần bội chi từ mức 4,7% lên 5,3%. Về thực chất, đó là sự hợp thức hóa hành vi tiêu xài thiếu điều tiết và lãng phí, bao gồm cả tham nhũng của các nhóm lợi ích. Mặc dù có một số phản ứng, song cuối cùng Quốc hội cũng đành “gật”.

Nhưng từ đó đến nay, tình trạng kềm chế chi vẫn không có gì khả quan, nếu không muốn nói là ở nhiều ngành, đặc biệt là xây dựng cơ bản, tốc độ chi vẫn tăng cao. Rất nhiều cơ quan, trụ sở hành chính cấp tỉnh, quận và cả phường xã vẫn đều đều mọc lên đầy hoành tráng. Nhiều công trình giao thông vẫn thi nhau đội vốn gấp rưỡi, gấp đôi. Cho tới giờ, kế hoạch tăng lương năm 2015 đã bị hoãn lại vô thời hạn, cho dù số tiền cần có để tăng lương là không quá lớn, chỉ khoảng 40.000 tỉ đồng.

Như vậy, có thể thấy rằng Việt Nam đang giống như cái thùng không đáy dành cho tình cảm sâu đục bán trời không văn tự của các nhóm lợi ích và số chính khách tham nhũng. Bất kể đời sống công chức và công nhân khó khăn ra sao, ai tiêu được thì cứu tiêu, đến mức mà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phải thảng thốt “Chi hết thì lấy gì mà tiêu”. Và còn hơn nữa, giống như thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản dã man, kẻ nào ăn được thì cứ thế mà ăn, hệt như lời bà Nguyễn Thị Doan - Phó chủ tịch nước - cảm thán “Ăn của dân không chừa thứ gì”.

RFI : Nhân câu chuyện “ăn của dân không chừa thứ gì”, anh có liên tưởng đến một đề xuất của Thống đốc Nguyễn Văn Bình là dùng tiền ngân sách để xử lý nợ xấu?

Đó chính là nỗi bức bối khốn khổ mà người dân và giới chuyên gia độc lập đã lên tiếng quyết liệt trong những ngày qua. Có người nói thẳng: giới ngân hàng lúc thành công thì “ăn” một mình, “ăn” hết không cho ai miếng nào. Còn bây giờ đổ bể thì lại đòi ngân sách phải đổ ra để trám nợ. Đạo lý ở đâu? Lấy tiền người nghèo chia cho kẻ giàu sao?

Vấn đề là một trong những nhân vật bị xem là “tội đồ kinh tế” là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình gần đây đã “gợi ý” rằng, nhiều quốc gia trên thế giới ít thì dùng 7-10% GDP để xử lý nợ xấu, bình thường cũng dùng tới 20-30% GDP, thậm chí có quốc gia còn dùng tới khoảng 60% GDP… Trong khi Việt Nam thì chưa dùng đến 1% GDP nào.

Lại có một quan chức Quốc hội - ông Phan Trung Lý - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội - dẫn ra bài học từ Hàn Quốc và thời Cách mạng tháng Tám năm 1945 để “gợi ý” tại sao dân Việt Nam không “học tập” mà góp tiền, vàng để xử lý nợ xấu.

Không thể nói khác hơn là nếu ngân sách nhà nước đang kiệt quệ đến mức không còn tiền tăng lương làm theo "sáng kiến" của Nguyễn Văn Bình và Phan Trung Lý, sự thể sẽ tồi tệ đến thế nào khi người dân nghèo bị móc túi đến tận cùng!

Về nợ xấu, tại cuộc họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước kỳ họp Quốc hội lần này, lần đầu tiên Thống đốc Nguyễn Văn Bình phải thừa nhận con số nợ xấu vào khoảng 500.000 tỉ đồng, tức vượt trên 10% tổng dư nợ chứ không phải chỉ có 4-5% như Ngân hàng Nhà nước thường báo cáo. Gần đây nhất vào đầu năm 2014, một hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế là Moody’s đã đánh giá nợ xấu Việt Nam lên đến 13%.

Nên nhớ là trước đó chưa bao giờ người bị tạp chí Global Finance uy tín của quốc tế liệt vào “một trong 20 Thống đốc có thành tích điều hành tệ nhất thế giới” này chịu tiết lộ con số thực về nợ xấu. Con số nợ xấu thực bị giấu biệt suốt từ năm 2011 đến gần đây. Có nghĩa là tới giờ, có lẽ thấy tình thế vô phương cứu chữa nên mới đành kêu cứu. Nhưng lại kêu cứu theo cái cách bắt ngân sách mà thực chất là tiền đóng thuế của dân phải bù đắp, còn những kẻ “ăn của dân không chừa thứ gì” thì chẳng phải bỏ ra một đồng nào.

RFI : Nhưng vừa qua Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh đã yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư "rút đề xuất chi ngân sách để xử lý nợ xấu"?

Không thể nói khác hơn, việc Chính phủ phải chỉ đạo rút lại đề xuất trên là một thắng lợi bước đầu của dư luận người dân và báo chí, dẫn đến tâm thế các đại biểu Quốc hội quen "gật" cũng phải tự biết xấu hổ với chức trách đại diện dân chúng của họ. Nếu không ai lên tiếng, chắc chắn các nhóm lợi ích được đạo diễn bởi những nhà làm chính sách sẽ thông đồng với nhau để rút tiền ngân sách.

Chính trị đủ “chín muồi”

RFI : Nhìn tổng quan, kỳ họp thứ 8 đang diễn ra của Quốc hội Việt Nam có vẻ khác biệt với với những kỳ họp trước đây?

Nếu nói “khác biệt” là chưa đầy đủ. Mà cần suy nghĩ về từ “dị biệt” để mọi thứ đồng điệu hơn.

Khác biệt lớn nhất giữa kỳ họp Quốc hội cuối năm 2014 là thái độ và làn sóng phản biện chủ yếu về vấn đề kinh tế, được khơi mào từ cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngay trước khi Quốc hội khai mạc vào ngày 20/10. Ở trong nước, người ta gọi đó là những quan điểm “đá” nhau.

Và theo thông lệ nặng về tâm lý chính trị ở Việt Nam, một khi cấp trên đã “bật đèn xanh” thì cấp dưới bắt đầu mở miệng. Đó là hiện tượng bắt đầu xuất hiện, và hiện ra ngày càng nhiều đại biểu Quốc hội từ cấp trung ương đến các tỉnh thành lên tiếng “phản biện” về hàng loạt vấn đề bị xem là vấn nạn quốc gia. Chẳng hạn như nợ xấu, nợ công, bội chi ngân sách, không có tiền tăng lương, tham nhũng, bao gồm cả dự án sân bay Long Thành đang đội vốn lên đến gần hai chục tỉ đô la…

Chúng ta có thể hiểu đã có một chuyện gì đó xảy ra mới đây, hoặc xảy ra trong khoảng thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội. Đó là cái gì? Phải chăng đó không chỉ là những điểm khác biệt mà còn mang tính dị biệt khi cả Chủ tịch nước lẫn Chủ tịch Quốc hội đều đồng thanh gián tiếp chỉ trích lối báo cáo quá sức tô hồng và giả tạo của Thủ tướng?

Phải chăng thực chất nền kinh tế và các vấn đề xã hội của Việt Nam đã xấu đến mức mà những thành viên chủ chốt của Bộ Chính trị không thể không lên tiếng? Nhưng ngoài lý do kinh tế, liệu có nguyên do sâu xa nào khác giải thích cho sự cất tiếng có vẻ khá bất thường như thế?

RFI : Nguyên nhân sâu xa đó có thể là gì?

Nên quay trở lại với quy luật kinh tế quyết định chính trị và vòng quay hỗn độn của nó. Kỳ họp Quốc hội lần này khai mạc không chỉ với làn sóng phản biện về kinh tế, mà còn đang nóng lên bởi một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm sắp tới.

Rồi cũng ngay trong những ngày họp đầu tiên, lại nổ ra vụ cơ quan Cảnh sát Điều tra của Bộ Công an khởi tố và bắt giam ông Hà Văn Thắm - là người vừa bị miễn nhiệm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đại Dương, người cũng được coi là một trong những tỉ phú đô la ở Việt Nam và bị nghi có mối quan hệ ẩn giấu nào đó với ông Nguyễn Sinh Hùng là Chủ tịch Quốc hội.

Thật lòng, tôi không quá tin tưởng vào thực tâm của ông Nguyễn Sinh Hùng, khi ông phát lệnh về chiến dịch phản bác báo cáo kinh tế - xã hội của bên chính phủ. Bởi nhiều kỳ họp trước đây, với vai trò là Chủ tịch Quốc hội, ông Hùng đã gần như nhắm mắt cho qua thực trạng kinh tế sa sút từ năm 2011.

Có dư luận cho rằng đang chuẩn bị diễn ra một cuộc chiến quyền lực giữa các lãnh đạo cao cấp, mà cụ thể là giữa ông Nguyễn Sinh Hùng và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thực ra dư luận này cũng có thể có một phần cơ sở, nếu xét đến hai khía cạnh:

Đầu tiên là dự luật “tăng quyền cho Thủ tướng”, tức dự thảo sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ do phía Chính phủ bất ngờ trình ra Quốc hội, trong đó xác định quyền hành của Thủ tướng được bổ nhiệm và cách chức hàng quan đầu ngành và đầu tỉnh thành. Nếu dự luật này được Quốc hội thông qua, quyền hạn của Thủ tướng có thể nói là sẽ bao trùm và chắc chắn vượt trên cả Tổng bí thư.

Khía cạnh thứ hai đáng chú ý không kém là cuộc bỏ phiếu tín nhiệm trong Quốc hội sắp tới. Vào giữa năm 2013, Quốc hội đã lần đầu tiên thực hiện bỏ phiếu tín nhiệm đối với 47 chức danh chủ chốt, với kết quả những người đạt tỉ lệ phiếu tín nhiệm thấp cao nhất đều là bên chính phủ như Thống đốc Nguyễn Văn Bình, Bộ trưởng Giáo dục Phạm Vũ Luận, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng…

Còn vào lần này, một số đại biểu đã bắt đầu đề xuất cơ chế đại biểu “được” từ chức nếu có 2/3 phiếu « tín nhiệm thấp », thậm chí chỉ cần 1/2 phiếu tín nhiệm thấp; còn nếu không từ chức thì vụ việc đại biểu đó sẽ được đưa ra Quốc hội để xử lý. Nếu cơ chế 1/2 phiếu « tín nhiệm thấp » được áp dụng thì đương nhiên Nguyễn Văn Bình là đại biểu có hệ số nguy cơ cao nhất, vì lần trước ông này đã bị đến 42% phiếu « tín nhiệm thấp ». Ngay cả Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lần trước cũng bị đến 32% phiếu « tín nhiệm thấp », và lần này chỉ cần 18% nữa thôi là ông phải đối mặt trực tiếp với khả năng buộc phải từ chức.

Thực ra ở các nước phương Tây nơi có chế độ đa đảng và nghị viện dân chủ, việc điều hành yếu kém của một chính phủ tất yếu phải dẫn đến việc Thủ tướng hoặc toàn bộ chính phủ đó phải từ chức.

Song ở Việt Nam, tình trạng độc đảng và sự xen cài giữa các nhóm quyền lực, nhóm lợi ích khiến cho cơ chế từ chức là khó xảy ra. Tuy nhiên, cuộc chiến quyền lực đang có nhiều dấu hiệu bùng nổ, hơn nữa cũng như giới hạn về thời gian của Hiệp định TPP đối với Nhà nước Việt Nam, thời gian từ đây đến Đại hội 12 của Đảng vào đầu năm 2016 là hoàn toàn không còn nhiều đối với bất kỳ chính khách nào muốn “chạy đua vũ trang”.

RFI : Anh dự đoán diễn biến chính trị sắp tới ra sao?

Tôi cho rằng vụ bắt một loạt ba quan chức cao cấp của Ngân hàng Xây dựng vào cuối tháng 7/2014 là sự mở màn cho chiến dịch “diệt ruồi” ở Việt Nam. Còn vụ bắt Hà Văn Thắm ở Ngân hàng Đại Dương lại là một dấu hiệu tiếp theo, nhưng có lẽ nằm ở một “kênh” khác, có thể báo hiệu cho tính hỗn giao “tay ba” trong cuộc chiến quyền lực ấy.

Vấn đề còn lại là quan điểm xử lý “bình - chuột” của giới chức bên Đảng như thế nào, họ có dám “đập bình diệt chuột” không hay chỉ là “diệt chuột giữ bình” theo cách nói của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Bây giờ ta trở lại với báo cáo kinh tế - xã hội của Chính phủ. Nếu báo cáo này bị đa số trong Quốc hội phủ quyết thì nguy cơ nhận tỉ lệ cao về phiếu « tín nhiệm thấp » của các quan chức chính phủ là cao không kém. Mà nếu tình huống này xảy ra, người ta có thể hiểu là tại sao Hội nghị Trung ương cuối năm 2014 lại diễn ra sau kỳ Quốc hội chứ không phải trước họp Quốc hội như thường thấy trước đây.

Chính kỳ họp Trung ương sau Quốc hội sẽ quyết định nhân sự chủ chốt, thậm chí là nhân sự cấp Ủy viên Bộ Chính trị, thậm chí liên quan đến cả “tứ trụ”, trên cơ sở kết quả bỏ phiếu tín nhiệm trong Quốc hội. Và biết đâu lại chẳng xảy ra một cuộc “thay ngựa giữa dòng” nào đó, hoặc một sự xoay chuyển cục diện nhân sự có lợi cho một bên nào đó để dẫn đến đến kết cục vào đầu năm 2016.

Nói cách điệu một chút, nội bộ chính trị Việt Nam đang dần đủ chín muồi để ngoặt sang một giai đoạn nhanh mạnh và khốc liệt hơn nhiều so với trước đây.

RFI : Xin rất cảm ơn tiến sĩ Phạm Chí Dũng ở Saigon đã vui lòng nhận lời tham gia tạp chí kinh tế

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Trung Quốc: Bạo loạn khủng khiếp ở hai tỉnh Quý Châu và Côn Minh


Theo Kenh 13.info


Suốt từ ngày 11/10 đến nay, ở tỉnh Quý Châu- Trung Quốc nổ ra cuộc biểu tình lớn với hàng chục ngàn người tham gia. Chính quyền Trung Quốc đã điều hàng ngàn cảnh sát đặc biệt với cả máy bay trực thăng và xe bọc thép để dẹp loạn.


Bắn chìm tàu TQ xâm phạm, Nga cảnh cáo: ‘Đừng vuốt râu hùm!’
“Sốt” với dịch vụ uống sữa mẹ trực tiếp từ người bán
Đỏ mặt với cây nấm lạ hình 'cậu nhỏ'
Trai Trung lấy vợ Việt
Hot girl mặt xinh, dáng chuẩn với hình xăm cực độc

Hàng ngàn cảnh sát với may bay, xe bọc thép dẹp loạn ở quý Châu, Trung Quốc



Báo chí chính thông hầu như không đưa tin. Tuy nhiên, trên các mạng xã hội tràn ngập các bình luận cùng video clip và hình ảnh cho thấy cảnh sát đã dùng dùi cui tấn công người biểu tình, bất kể là người già hay thanh niên, nam giới hay phụ nữ. Hàng chục người đã bị thương, phải cấp cứu trong bệnh viện và có tin đã có một sinh viên bị chết tại bệnh viện do vết thương quá nặng. Có rất nhiều người đã bị bắt. Hiện chưa thể có những con số chính xác.

Biến cố bắt đầu khi chính quyền tỉnh hôm 29/9 thông qua nghị quyết sáp nhập ba huyện Zhenyuan, Cengong, Sansui thành một thành phố. Trung tâm hành chính mới sẽ đặt ở Zhenyuan. Nhưng người dân ở huyện Sansui, vốn có đất bị thu hồi với giá rẻ mạt khiến họ giận dữ và xuống đường biểu tình. Họ đòi chính quyền hoặc phải đặt trung tâm hành chính tại Sansui hoặc trả lại đất.



Quý Châu 贵州 giáp với tỉnh Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh ở phía bắc, giáp với tỉnh Vân Nam ở phía tây, giáp với Quảng Tây ở phía nam và giáp với tỉnh Hồ Nam ở phía đông. Về tổng thể, Quý Châu là một tỉnh đồi núi song về chi tiết, ở phía đông tỉnh có địa hình địa hình núi non hơn trong khi ở các bộ phận ở phía đông và phía nam tương đối bằng phẳng. Phần phía tây của tỉnh tạo thành một bộ phận của Cao nguyên Vân-Quý. Địa mạo toàn tỉnh có thể phân thành bốn loại hình cơ bản: cao nguyên, núi, gò đồi và bồn địa, trong đó 92,5% diện tích là núi và gò đồi.

Xem video clip:




Máy bay được điều đến để quan sát diễn biến cuộc biểu tình




Xe bọc thép


Chó nghiệp vụ



























Bạo động lớn vùa xảy ra ở Côn Minh

Hôm nay 14/10, ở thành phố Côn Minh 昆明 – Thủ phủ tỉnh Vân Nam, giáp ranh với tỉnh Lào Cai của Việt Nam, vừa mới xảy ra đụng độ cực kỳ lớn giữa người dân và cảnh sát cũng vì chuyện thu hồi đất đai. Chính quyền cử hàng ngàn cảnh sát đặc biệt tới trấn áp và đầu tiên, một người dân là ông Zhang Sheng bị đánh chết khiến người dân vùng lên dùng gậy gộc và đá tấn công lại cảnh sát. Phía cảnh sát bỏ chạy nhưng có 8 cảnh sát bị bắt, bị đánh đập và sau đó 5 cảnh sát bị đốt cháy đến chết.


Cảnh sát bị dân chúng bắt


Và bị đổ xăng thiêu cháy


Người bị đánh chết









Nguồn: