Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Đối đầu với Bắc Kinh tại Biển Nam Trung Hoa

Ngô Bắc dịch và phụ chú
Dana R. Dillion, The Heritage Foundation

Nguồn bất ổn nguy hiểm nhất tại Á Châu là một Trung Quốc đang vươn lên tìm cách tái khẳng định bản thân, và nơi mà Trung Quốc có nhiều xác suất nhất để gây ra một sự xung đột quân sự là Biển Nam Trung Hoa. Trong thập niên thứ nhì của thế kỷ thứ 21, vùng nước ít khi yên tĩnh của Biển Nam Trung Hoa đang sôi sục từ một sự kết hợp của các cuộc thao diễn hải quân cạnh tranh nhau với ngôn từ cực kỳ nóng bỏng. Nhiều học giả, chính trị gia, và các hải quân đô đốc nhìn Biển Nam Trung Hoa như một địa điểm của sự tranh giành tương lai giữa các nước.

Sự dự đoán về các cuộc đụng chạm sắp xảy ra đã khởi đầu tại Diễn Đàn Cấp Vùng của khối ASEAN (Asean Regional Rorum: ARF) khi Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Hillary Clinton đưa ra một bản tuyên bố chậm trễ về các quyền lợi của Mỹ tại Biển Nam Trung Hoa. Clinton xác quyết rằng Hoa Kỳ có một quyền lợi quốc gia trong sự tự do hải hành tại Biển Nam Trung Hoa; rằng Hoa Kỳ ủng hộ một tiến trình cộng tác trong việc giải quyết các sự tranh chấp lãnh thổ tại đó; và rằng Hoa Kỳ ủng hộ Bản Tuyên Bố Chung Giữa Khối ASEAN và Trung Quốc năm 2002 về sự ứng xử của các bên tại Biển Nam Trung Hoa.

Bất kể sự tuyên bố ủng hộ của Clinton dành cho các sự thỏa thuận của chính Trung Quốc với Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á, Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc đã trả lời một cách tiêu cực, tuyên bố rằng sự phát biểu của Ngoại Trưởng Clinton “thực sự là một cuộc tấn công vào Trung Quốc”. Quân đội Trung Quốc đã tuyên bố rằng nó chống lại “việc quốc tế hóa” sự tranh chấp giữa sáu nước và đã khởi sự một cuộc thao diễn hải quân mới và lớn lao khác thường tại Biển Nam Trung Hoa ngay trong tuần lễ kế tiếp.

Sự chạm trán trên biển dồn dập này bị xúi bẩy bởi các sự khẳng quyết chủ quyền của Trung Quốc trên toàn thể Biển Nam Trung Hoa và chủ định được tuyên bố của nó nhằm thi hành chủ quyền đó. Nhưng nguồn gội của sự ngạo mạn của Trung Quốc là quan điểm về sự ủy nhiệm lịch sử của nó để thống trị mọi thứ dưới gầm trời. Nới dài các biên giới của Trung Quốc một nghìn dặm ngang qua Biển Nam Trung Hoa chỉ là một sự thể hiện chính sách của thị kiến này về một trật tự thế giới mới của Trung Quốc. Phù hợp với ý thức hệ tập trung về Trung Quốc của nó, Bắc Kinh tin tưởng thẩm quyền của mình trên các lân bang nhỏ hơn phải được bao gồm trong việc xác định chính sách ngoại giao của họ. Sau khi Clinton thách đố sự tuyên nhận của Trung Quốc đối với toàn thể Biển Nam Trung Hoa, bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc được tường thuật đà trừng mắt nhìn một nhà ngoại giao của Singapore và tuyên bố, “Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là các nước nhỏ, và sự kiện đúng là như thế”. 1 Bộc lộ nhiều hơn ý kiến của Trung Quốc về vị thế của nó giữa các nước, vào hôm Thứ Hai kế đó Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã công bố một sự phát biểu rằng “quan điểm của Trung Quốc đã đại diện cho các quyền lợi của “các nước Á Châu đồng hành””.

Các sự tuyên nhận lãnh thổ tranh giành tại Biển Nam Trung Hoa đã có từ nhiều thập niên, nhưng giờ đây chính phủ Trung Quốc đang tràn ngập cảm giác về sự thành tựu và Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân [Trung Quốc] được tuôn trào với ngân sách quân sự tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Lời tuyên bố của [Ngoại Trưởng] Clinton có thể đã được gợi hứng bởi các lời tuyên bố trước đó bởi đối nhiệm Trung Quốc của Clinton, Dai Bingguo (Đới Bỉnh Quốc), cố vấn quốc gia phụ trách ngoại giao, trực tiếp nói với chính bà Clinton và được lập lại với vài viên chức phụ tá Hoa Kỳ rằng sự thi hành chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Nam Trung Hoa đã là một “quyền lợi cốt lõi” ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng. Trong khi Đới Bỉnh Quốc được cho hay đã không còn sử dụng nhóm từ ngữ “quyền lợi cốt lõi” để mô tả chủ quyền trên biển của Trung Quốc, các nhân vật trong giới quân sự Trung Quốc vẫn còn dùng. Trong Tháng Một năm 2011, trang mạng của từ Nhân Dân Nhật Báo (People’s Daily), cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã thăm dò các độc giả rằng liệu Biển Nam Trung Hoa có phải là “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc hay không; 97 phần trăm trong gần 4,300 người trả lời đã nói có. 2

Ngoài một cuộc chiến tranh nổ súng, việc bảo vệ sự tự do hải hành tại một trong những tuyến đường biển bận rộn nhất của hoàn cầu đòi hỏi một sự giải quyết thân thiện các sự tuyên nhận lãnh thổ tranh giành nhau. Khởi sự một tiến trình để giải quyết hay trung lập hóa vấn đề sẽ đòi hỏi sự lãnh đạo và quyết tâm của Mỹ. Nền ngoại giao vững chắc được hậu thuẫn bởi sức mạnh hải quân có tính thuyết phục và sự lãnh đạo kiên trì có thể tạo ra một sự cân bằng trong vùng để bảo vệ sự tự do hải hành, sự trung thực của luật quốc tế, và sự độc lập và chủ quyền của các nước thuộc Đông Nam Á.

Giải pháp tệ hại nhất cho cuộc tranh chấp Biển Nam Trung Hoa nhìn từ quan điểm của Hoa Kỳ sẽ là việc các lân bang khối ASEAN của Trung Quốc hoàn toàn ưng chịu lập trường của Bắc Kinh và biến toàn thể Biển Nam Trung Hoa thành lãnh thổ thuộc chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ). Lập trường của Bắc Kinh cũng là giải pháp tệ hại nhất cho khối ASEAN và cho mọi quốc gia mậu dịch khác trên hành tinh. Nhưng một giải pháp cũng không kém tệ hại là việc Hoa Kỳ trở nên dính líu vào một sự chạm trán song phương với Trung Quốc mà không có sự ủng hộ và cam kết vững chắc đối với các hành động của Mỹ bởi các quốc gia duyên hải tuyên nhận khác và bởi các đồng minh Á Châu-Thái Bình Dương của Mỹ. Không có sự ủng hộ của các liên minh trong vùng, Hoa Kỳ sẽ bị vướng mắc vào một chiến dịch ở đoạn cuối của tuyến tiếp vận của nó, nhưng lại lọt sâu vào tầm với của một quyền lực to lớn và đang lên.

Giải pháp lý tưởng sẽ là việc các nước khối ASEAN sẽ đứng lên chống lại Trung Quốc và khẳng định về một sự giải quyết đa phương cho các sự tranh chấp dựa trên các điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và bộ luật ứng xử được cụ thể hóa bởi Hiệp Định Thân Hữu và Thương Mại mà Trung Quốc đã ký kết trong năm 2002. Giải pháp này không khả hữu trừ khi khối ASEAN phát triển được các nguồn tài nguyên chính trị, kinh tế và quân sự để thách đố ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong ngắn hạn, sự hậu thuẫn từ Hoa Kỳ và các quyền lực trong vùng khác kể cả Nhật Bản, Ấn Độ và Úc Đại Lợi, có thể là một lồng kính nuôi dường trẻ sinh non trong khi khối ASEAN phát triển một năng lực răn đe bản địa. Trong trường kỳ, khối ASEAN sẽ phải tự đứng vững trên đôi chân của mình.

Khối ASEAN sẽ miễn cưỡng để chấp nhận sự trợ giúp của Mỹ nếu nó được đưa ra như một phần của một chính sách của đại cường, chống lại Trung Quốc về mặt địa chính trị. Trung Quốc không chỉ là một láng giềng của Đông Nam Á, mà còn là đối tác đầu tư và mậu dịch quan trọng nhất của nó, và đôi khi là đồng minh chính trị. Khẳng quyết một sự đe dọa của Trung Quốc và mời gọi các nước khối ASEAN tham gia vào một liên hiệp chống lại Trung Quốc là một phương thức thất bại về chính sách. Thay vào đó, Hoa Kỳ phải trình bày rành mạch một thị kiến giúp cho các nước Á Châu đối phản với sự tái áp đặt quyền bá chủ cổ đại của Trung Quốc. Tưởng kiến đó phải bao gồm các nguyên tắc truyền thống của Tây Phương về thương mại mở ngỏ, độc lập chính trị, và chủ quyền lãnh thổ.

Vấn Đề Biển Nam Trung Hoa

Sáu nước tuyên nhận các hòn đảo của Biển Nam Trung Hoa: Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Brunei. CHNDTQ và Đài Loan (như các chính phủ kình địch của “Trung Hoa”) tuyên nhận Biển Nam Trung Hoa nhờ bởi các chế tạo phẩm văn hóa, các sự ám chỉ văn chương mơ hồ, và sự chiếm đóng trắng trợn. Việt Nam cũng tuyên nhận tất cả các hòn đảo tại Biển Nam Trung Hoa dựa phần lớn trên các tài liệu lịch sử, sự từ bỏ bằng khoán của Nhật Bản thời hậu chiến trên các đảo nhỏ Biển Nam Hải (South Sea [?]), và di sản của các chứng từ thực dân Pháp đối với vài đảo nhỏ then chốt tại Biển Nam Trung Hoa (South China Sea). Phi Luật Tân, Mã Lai, và Brunei tuyên nhận toàn thể hay một phần giải biển phía nam của Biển thuộc Quần Đảo Spratly [Trường Sa trong tiếng Việt, chú của người dịch] dựa phần lớn trên Khu Kinh Tế Độc Quyền (KKTĐQ) và thềm lục địa liên hệ của chúng. Theo Công Ước UNCLOS, một KKTĐQ kéo dài 200 hải lý kể từ mực nước xuống thấp trên bờ biển của một nước. Bản đồ được ấn hành của Trung Quốc về Biển Nam Trung Hoa cho thấy một đường đứt khúc kéo đài mãi tới KKTĐQ của Đảo Natuna của Indonesia, có tiềm năng mở rộng số nước tuyên nhận đụng chạm nhau lên bảy nước.

Vấn đề này không phải là một vấn đề pháp lý bí hiểm, mà là một một đe dọa nguy hiểm và gần cận cho kinh tế hoàn cầu và cho sinh thái trong vùng. Các tuyến giao thông đường biển xuyên qua Biển Nam Trung Hoa nối liền Âu Châu và Á Châu, biến biển này trở thành một trong các hải đạo bận rộn nhất trên thế giới. Gần một nửa trọng tải bằng tàu của thế giới đi ngang qua nó, và từ Trung Đông một phần quan trọng của số dầu hỏa cho vùng đông bắc Á Châu. Biển Nam Trung Hoa cùng giàu chất hydrocarbon (nhiên liệu đốt cháy) dưới nhiều hình thái khác nhau, và sự khai thác trọn vẹn các nguồn tài nguyên này bị ngăn trở bởi các ranh giới không được giải quyết và sự dọa nạt quân sự trắng trợn. Sau cùng, bởi việc đánh cá thái quá, hiện có một sự sụt giảm rõ rệt trong tổng số cá đánh đựoc, dẫn dắt các ngư phủ đến việc sử dụng các kỹ thuật hung bạo hơn. Không có sự thỏa thuận đa phương để điều hòa việc đánh cá tại Biển Nam Trung Hoa, kỹ nghệ đánh cá và sinh thái biển đang mau chóng tiến tới thảm họa.

Sự tuyên nhận của Trung Quốc. Mọi nước yêu sách chứng minh các sự tuyên nhận lãnh thổ liên hệ của họ sử dụng các định nghĩa được giải thích cặn kẽ của các điều khoản thuộc Công Ước UNCLOS. Tuy nhiên, chỉ mình Trung Quốc trưng bày một sự kết hợp các sự tuyên nhận lãnh thổ bao quát; sức mạnh kinh tế, chính trị, và quân sự; một lập trường ngoại giao không thỏa hiệp; và một sự hung hăng lộ liễu trong việc theo đuổi các mục tiêu của nó. Sự kết hợp độc đáo các đường nét này biến Bắc Kinh tức thời trở thành một tác nhân quan trọng nhất trong việc giải quyết các sự tranh chấp lãnh thổ và là trở ngại lớn nhất để giải quyết như thế.

Khi sự thảo luận hướng đến ngoại giao và một giải pháp bằng thương thảo cho sự tranh chấp, Bắc Kinh khăng khăng nhắc nhở tất cả các nước tuyên nhận khác rằng Biển Nam Trung Hoa là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Trung Quốc và từ chối thương thảo trừ khi các bên chấp nhận chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc. Đến nay, chiến thuật của Trung Quốc là chỉ tham gia đàm phán song phương và né tránh sự phân xử khách quan xuyên qua các thủ tục trong Công Ước UNCLOS hay của bất kỳ bên ngoài nào khác. Ngoài ra, Trung Quốc đã đưa ra các lời tuyên bố và nêu lên các định nghĩa nặng tính chất giải thích làm phức tạp quá mức tiến trình giải quyết và đặt Trung Quốc vào một đường hướng đụng độ với phần còn lại của thế giới hải hành.

Các thềm lục địa và tính không thực tiễn của việc vẽ các ranh giới duyên hải cho các nước có bờ biển phức tạp và lõm sâu, như Na Uy, hay cho các quốc gia vòng cung đảo, chẳng hạn như Phi Luật Tân hay Nam Dương, được thừa nhận như trong các điều khoản của Công Ước UNCLOS nơi Điều 7 (“các đường cơ sở thẳng hàng”), Điều 47 (“các đường cơ sở vòng cung đảo”), và các Điều 76 và 77 (“thềm lục địa”). Các điều khoản này cho phép các nước vẽ các đường ranh giới thẳng hàng ngang qua các hòn đảo hay các địa hình duyên hải gần sát nhau hay phức tạp chừng nào chúng không can thiệp vào sự tự do hải hành thông thường. Tuy nhiên, Bắc Kinh mở rộng các định nghĩa của các điều khoản này bằng việc áp dụng chúng cho các hòn đảo và các địa hình duyên hải tuyên nhận của nó. 3

Ủy Ban Thường Vụ của Đại Hội Dân Tộc Toàn Quốc đã chấp nhận “Luật về Lãnh Hải và Các Khu Tiếp Giáp của Chúng” (Luật Lãnh Hải) hôm 25 Tháng Hai, 1992. Đạo luật này không xác định cụ thể sự tuyên nhận lãnh thổ chính xác của Trung Quốc, nhưng có khẳng định chủ quyền trên các Quần Đảo Paracel (Hoàng Sa) và Spratly. Hơn nữa, Trung Quốc đã ấn hành một bản đồ cho thấy toàn thể Biển Nam Trung Hoa từ Đảo Hải Nam cho đến Đảo Natuna của Indonesia trong một vòng bao quanh là lãnh hải. Trong năm 1993, bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc đoan quyết bằng miệng với đối nhiệm Indonesia rằng Đảo Natuna quan trọng về mặt kinh tế và đông dân cư không được tuyên nhận bởi Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh từ đó đà không xác nhận một cách chính thức sự phát biểu không chính thức đó.

Theo Công Ước UNCLOS và tập tục quốc tế, “lãnh hải” kéo dài mười hai hải lý từ mực nước thấp dọc theo bờ biển của một nước. Tuy nhiên, khi Bắc Kinh ký kết Công Ước UNCLOS, nó đã bao gồm các sự tuyên bố nêu ra các định nghĩa về lãnh hải và các quyền hạn của các nước duyên hải khác biệt với những gì được viết ra trong Công Ước UNCLOS. Cùng với nhiều điều khác, Trung Quốc đã tuyên bố rằng:
Chiếu theo các điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Công Hòa Nhân Dân Trung Quốc sẽ thụ hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán trên một khu kinh tế độc quyền rộng 200 hải lý và thềm lục địa.
Công Hòa Nhân Dân Trung Quốc sẽ thi hành, xuyên qua các sự tham khảo, sự phân định ranh giới của quyền tài phán trên biển với các quốc gia có bờ biển đối diện hay kề cận với Trung Quốc, lần lượt, trên căn bản của luật quốc tế và phù hợp với nguyên tắc công bằng.
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền trên tất cả các vòng cung đảo và các hòn đảo được liệt kê nơi Điều 2 Luật của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải và Khu Tiếp Giáp, được ban hành ngày 25 Tháng Hai, 1992.
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái khẳng định rằng các điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển liên can đến sự thông hành vô tư xuyên qua lãnh hải sẽ không làm phương hại đến quyền của một quốc gia duyên hải để đòi hỏi, chiếu theo luật và các quy định của nó, một quốc gia ngoại quốc phải có sự chấp thuận trước từ hay đưa ra sự thông báo trước đến quốc gia duyên hải về sự thông hành của các tàu chiến của nó, ngang qua lãnh hải của quốc gia duyên hải.

Các sự tuyên bố này đã thay đổi đáng kể ý nghĩa của các điều khoản của Công Ước UNCLOS và trái ngược rõ rệt với các luật biển truyền thống. Trung Quốc tuyên nhận KKTĐQ của nó không chỉ là một ranh giới kinh tế mà còn là lãnh thổ chủ quyền, chính từ đó nới dài biên giới trên biển của nó 200 hải lý. Bắc Kinh cũng đang tuyên nhận rằng các hòn đảo và các rạn san hô không người cư trú của Biển Nam Trung Hoa là lãnh thổ của Trung Quốc và, chính vì thế, cũng có KKTĐQ nới dài thêm 200 hải lý từ mỗi hòn đảo hay rạn san hô trong số các đảo, và thềm lục địa nới dài đến mức Bắc Kinh lựa chọn để vạch ra. Sau cùng, các sự tuyên bố đã mở rộng lớn lao các đặc ưu quyền của Trung Quốc như một quốc gia duyên hải qua việc khẳng quyết rằng các tàu chiến đi qua lại vô tư phải trước tiên có sự cho phép của Trung Quốc, một lần nữa vi phạm cả Công Ước UNCLOS lẫn các luật truyền thống về biển.

Lập trường của chính phủ Trung Quốc có các hàm ý trực tiếp đối với các nền kinh tế trong vùng, sự tự do phi hành trên không gian toàn cầu và các hạm đội trên mặt biển, và các lực lượng hải và không quân Mỹ. Nếu Trung Quốc được hưởng quyền thi hành chủ quyền của nó trên Biển Nam Trung Hoa, khi đó các thương thuyền đi ngang qua Biển đó, bất kể mang cờ nước nào, sẽ phải tuân theo luật và các quy định của Trung Quốc và bất kỳ lệ phí, thuế quan hay các sự hạn chế nào khác mà Trung Quốc có thể lựa chọn để áp đặt. Ngoài ra, Trung Quốc sẽ có các quyền khoáng sản và đánh cá độc quyền trên một Biển mà các nước duyên hải khác lệ thuộc để có một phần đáng kể trong lợi tức tài nguyên thiên nhiên của họ. Sau cùng, sự khẳng quyết của Trung Quốc rằng bất kỳ tàu chiến nào đi ngang qua Biển Nam Trung Hoa phải được cho phép trước sẽ vô hiệu hóa các quyền của các tàu chiến ngoại quốc thực hiện sự thông hành vô tư. Hơn nữa, các tàu chiến đi ngang qua lãnh hải có các hạn chế nghiêm ngặt áp dụng cho các hoạt động của chúng.

Các hạn chế này, nếu được áp dụng cho toàn thể Biển Nam Trung Hoa, sẽ giới hạn nghiêm trọng các hoạt động của Hải Quân Hoa Kỳ và cản trở khả năng của nó để bảo vệ hải vận bằng tàu của cả Hoa Kỳ lẫn quốc tế. Hơn nữa, theo lập trường của Trung Quốc, sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về các hoạt động của máy bay thám thính EP-3 gần đảo Hải Nam hồi Tháng Tư năm 2001; các hoạt động quấy rối nhiều lần chống các tàu hải quân Mỹ USNS Impeccable và Victorious trong mùa Xuân năm 2009; sự đụng chạm giữa một tàu ngầm của Trung Quốc với hệ thống đo lường tiếng động (sonar array) được kéo sau tàu USNS John McCain hồi Tháng Sáu năm 2009, và cuộc biểu dương lực lượng gần đây xuyên qua các cuộc thao diễn hải quân tại Hoàng Hải không phải là các biến cố biệt lập, mà đúng hơn các chương mới nhất trong chiến dịch của Trung Quốc để khẳng định chủ quyền của nó trên Biển Nam Trung Hoa và rất có thể là những hiệp đầu tiên trong một trận đấu xô đẩy leo thang giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Sự Tuyên Nhận Của Trung Quốc Mạnh Mẽ Ra Sao? Trong thế kỷ thứ 9, một thuyền buồm Ả Rập (dhow) bị đắm ngoài khơi Đảo Belitung, tại phần giờ đây thuộc hải phận Indonesia, phần vươn xuống phia nam của Biển Nam Trung Hoa. Chiếc thuyền chất đầy 60,000 sản phẩm bằng vàng, bạc, và đồ sứ tuyệt đẹp rõ ràng đi từ đô thị hải cảng miền nam Trung Hoa, Thành Phố Quảng Châu, và được chở đến các thị trường tại Đông Nam Á. Thuyền buồm Ả Râp (dhow) được khám phá trong năm 1998 bởi các ngư phủ Indonesia và giờ đây được xem là một trong các sự khám phá quan trọng nhất trong ngành khảo cổ tại biển.

Xác tàu chìm ở Belitung không phải là một thương thuyền của Trung Hoa (Triều Đại nhà Đường không có một văn hóa đi biển hoạt động), nhưng nó có tính cách biểu tượng cho sự vượt trội tại Đông Á trong ý thức hệ mới quy tập về Trung Hoa của Trung Quốc. Sự tuyên nhận của chính quyền Trung Quốc đối với Biển Nam Trung Hoa được dựa một phần trên các di tích cổ xưa, các đồng tiền, các mảnh gốm vỡ, v.v… rải rác tại các đảo nhỏ của Biển Nam Trung Hoa. Sự kiện rằng các chế tác phẩm này chắc hẳn không phải để lại bởi các thủy thủ Trung Hoa có vẻ không ảnh hưởng gì đến các tuyên nhận kỳ dị của Bắc Kinh.

Bắc Kinh cũng không thể chứng minh rằng đã từng có người dân Trung Quốc cư trú thường trực tại các Quần Đảo Paracel và Spratly, bởi chúng không thể cư trú được. Nhiều đảo nhỏ hoàn toàn hay từng chập chìm dưới mặt nước. Các đảo khô nhất thiếu các nguồn nước ngọt, và các địa hình thấp này thường chịu ảnh hưởng gió mùa theo thời tiết. Ngày nay, dân số duy nhất của các đảo và rạn san hô này là các đội quân đồn trú được duy trì với phí tổn bao la cho chính phủ liên hệ của chúng và với sự rủi ro cá nhân to lớn cho các thành viên của họ. Các đảo này không có cách gì có thể được nói là có “một đời sống kinh tế của riêng chúng” và hậu quả không có năng lực làm phát sinh KKTĐQ của chính chúng chiếu theo Điều 121 của Công Ước UNCLOS.

Trung Quốc cũng trưng dẫn nhiều văn liệu lịch sử lạc đề, đáng ngờ vực, mơ hồ khác nhau có niên đại trở lùi hơn 2,000 năm trong nỗ lực lập chứng cho chủ quyền tuyên nhận của nó tại Biển Nam Trung Hoa. 4 Không có gì để nghi ngờ, các nhà thám hiểm và các ngư phủ Trung Hoa đã lái thuyền tại Biển Nam Trung Hoa trong hai nghìn năm, và một số có ghi chép lại các sự thám hiểm của mình, nhưng điều rõ ràng không kém rằng người Trung Hoa trong truyền thống đã xem đảo Hải Nam là tiền đồn cực nam của nền văn minh của họ, chắc chắn mãi cho đến cuối thế kỷ thứ 19. 5

Các tài liệu Trung Hoa cổ xưa đã không bác bỏ các sự tuyên nhận của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Btunei, hay Indonesia. Khảo cổ học quan trọng cho thấy các giống dân Đông Nam Á ngày nay đã từng sinh sống trên các vòng cung đảo đó từ lâu, trước khi có lịch sử thành văn của Trung Quốc. Vài đợt người định cư đã đến các vòng cung đảo Indonesia và Phi Luật Tân lùi xa đến tận 250,000 năm trước. Các người dân này đã lái hay chèo thuyền trên Biển Nam Trung Hoa để đến nơi các hậu duệ của họ đang sinh sống ngày nay. Mặc dù các Quần Đảo Spratly và Paracel thì quá nhỏ cho sự cư trú thường trực, dân chúng của tất cả các nước duyên hải đã đánh cá và khai thác chúng về mặt kinh tế trước khi Trung Quốc được khai sinh.

Đối với các nước ven bờ Biển Nam Trung Hoa, các sự tuyên nhận của Trung Quốc tương tự như việc một trong các láng giềng của bạn tuyên nhận toàn thể con đường trước mặt nhà bạn là tài sản riêng tư của anh ta. Hơn nữa, anh ta còn tuyên nhận rằng vỉa hè, lối lái xe, và sân trước của bạn, cho tới thềm cửa cũng thuộc về anh ta. Các kẻ phòng vệ vũ trang của anh ta đậu xe trên lối ra vào của bạn, và anh ta hái hoa của vườn nhà bạn. Nếu bạn hay các làng giềng của bạn phản đối, anh ta phủ nhận hiệu lực bằng khoán của bạn và từ chối giải quyết tại tòa án. Nếu một người nào dó khẳng quyết các quyền tài sản của mình, khi đó quân phòng vệ của anh ta sẽ đánh đập người đó.

Các Thị Kiến Cạnh Tranh Nhau

Cộng Đồng Quốc Tế, cầm đầu bởi Hoa Kỳ, đang sẵn theo đuổi một dự kiến về tương lai của Đông Nam Á và sự giải quyết các sự tranh chấp tại Biển Nam Trung Hoa cạnh tranh với thế giới quan của Trung Quốc. Tưởng kiến của thế giới về các quốc gia – dân tộc (nation states) là thị kiến của mô hình Westphalia về các nước độc lập với các lãnh thổ chủ quyền. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển là các sự thể hiện của mô hình đó. Thị kiến của Trung Quốc, mặt khác, là một trật tự thế giới của Trung Quốc, một bộ mặt mới cho hệ thống triều cống cổ đại của Trung Hoa trong đó Trung Quốc là quyền lực trung tâm và Bắc Kinh là đầu cực chính trị toàn cầu.

Các nước Đông Nam Á đã sẵn chấp nhận mô hình Westphalia làm mô hình của chính họ và đã thành lập khối ASEAN như một sự phòng thủ công nhiên cho chủ quyền và nền độc lập của các nước thành viên. Tuy thế, hệ thống triều cống là một phần quen thuộc trong lịch sử Đông Nam Á và với giá độc lập mà nó chấp nhận được, đặc biệt, như một giải pháp thay thế cho sự chạm trán với quyền lực quân sự của Trung Quốc.

Trật Tự Thế Giới Của Trung Quốc. Cơ chế của hệ thống triều cống thường được mô tả là tương đối nhu hòa. Các nước dâng cống phẩm, các vị quốc vương hay các sứ giả của họ thi hành một nghi lễ khấu đầu (kowtow) trước hoàng đế Trung Hoa, thừa nhận quyền bá chủ của ông ta, và đổi lại họ được trao tặng các tặng phẩm đắt giá và cấp cho các đặc nhượng mậu dịch sinh lợi nhuận. Theo các sử gia tán dương quan điểm này về hệ thống triều cống, các hoàng đế Trung Hoa hiếm khi can thiệp vào công việc nội bộ của một nước và đã không thụ tạo về mặt lãnh thổ.

Thực tại rằng các hoàng đề Trung Hoa đã nhìn các vương quốc chư hầu của họ theo cùng cách mà các nhà vua Âu Châu nhìn dến các thuộc địa của mình: Hoàng đế không ngần ngại sử dụng vũ lực quân sự để bảo vệ tài sản của mình. Thí dụ, trong thế kỷ thứ 15, một vị vua triều cống tại đảo Java của Indonesia đã giết chết vài sứ giả của đế triều Trung Hoa được phái đi để thừa nhận sự tấn phong cho một “nhà vua” tự xưng tại một thuộc địa của Trung Hoa ở Palembang, một thuộc địa vốn đã lệ thuộc triều đình Java. Để đáp ứng, hoàng đế [Trung Hoa] đã phái một hạm đội hải quân to lớn đến trao một văn thư nói rằng, “Nhà ngươi phải tức thời gửi 60,000 lạng vàng để chuộc tội của mình, thời nhà nguơi có thể bảo tồn đất nước và dân chúng của nhà nguơi. Nếu không chúng ta không thể ngăn chận các đội quân của chúng ta khỏi việc trừng trị nhà ngươi”. 6

Khi đảng Cộng Sản Trung Quốc soán ngôi của hoàng đế vào năm 1947 [sic] nó tìm cách giành lại sự kiểm soát trên toàn thể lãnh địa cũ của đế quốc. Học giả về Trung Hoa khả kính John K. Fairbanks đã mô tả thế giới quan của Trung Quốc bằng những vòng tròn đồng tâm với một “Khu Vực Trung Hoa: Sinic Zone” bên trong gồm các nước lân cận có văn hóa tương tự, “Khu Vực Nội Á: Inner Asia Zone” gồm các nước triều cống ở ngoại vi của lãnh thổ Trung Quốc, và “Khu Vực Vòng Ngoài: Outer Zone” của các kẻ man rợ. Vương Quốc Kashgar từng có thời là một quốc gia triều cống nằm ở Khu Vực Vòng Ngoài, trái với Triều Tiên, thuộc vào Khu Vực Trung Hoa bên trong. Ngày nay Vương Quốc Kashgar là một phần của một tỉnh của Trung Quộc được cải danh là Tân Cương (Xinjiang). Mặc dù cũng chính thuộc địa này đã từng hai lần tuyên bố độc lập thành Cộng Hòa Đông Turkistan (East Turkistan Republic) (trong năm 1933 và 1944), Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân [Trung Quốc] “đã giải phóng một cách hòa bình” quốc gia độc lập ra khỏi bản thân nó trong năm 1949.

Công Hòa Nhân Dân Trung Quốc không có sức mạnh để mở rộng ảnh hưởng của nó đến tất cả các chư hầu cũ. Triều Tiên thoát khỏi số phận của Kashgar do sự trổi dậy của đế quốc Nhật Bản. Triều Tiên đã trở thành một chiến trường giữa Đế Quốc Trung Quốc và Đế Quốc Nhật Bản, và đã đựoc giành thắng bởi Hoàng Đế Nhật Bản trong năm 1895. Bất kể các hồi ức đau thương về sự chiếm đóng của Nhật Bản, tia sáng hy vọng cho người dân Hàn Quốc ngày nay rằng sự thuộc địa hóa của Nhật Bản và kết cuộc của Thế Chiến II đã ngăn cản Trung Quốc không sáp nhập Triều Tiên như nó đã làm đối với East Turkstan và Tây Tạng.

Luận đề rằng Triều Tiên có thể chia sẻ cùng số phận của các quốc gia chư hầu Trung Hoa trước đây không chỉ là sự ức đoán mà là ý kiến được cứu xét đến của Viện Hàn Lâm về Khoa Học Xã Hội Trung Quốc. Trong năm 2002, chính phủ Trung Quốc đã mở ra một nỗ lực nghiên cứu được gọi là Dự Án Đông Bắc. Trong năm 2004, các nhà nghiên cứu dự án từ Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc có tuyên bố rằng Vương Quốc cổ đại Triều Tiên có tên Koguryo đã không phải là một vương quốc độc lập, mà là một tỉnh của Trung Quốc. Cùng năm, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã gỡ bỏ mọi sự tham chiếu đến Koguryo như một thời kỳ trong lịch sử Triều Tiên ra khỏi trang mạng của nó. Chính phủ Trung Quốc cũng làm chủ các nỗ lực nghiên cứu tương tự được gọi là Dự Án Tây Bắc và Dự Án Tây Nam lần lượt cho Tân Cương và Tây Tạng. Có lẽ chỉ còn là một vấn đề thời gian trước khi Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc phóng ra các dự án nghiên cứu mới về các cựu chư hầu của Trung Hoa tại Đông Nam Á.

Đông Nam Á cũng nợ sự độc lập đương thời của nó nơi sự chiếm đóng của ngoại quốc. Giữa các thế kỷ thứ 17 và 19, các cường quốc Âu Châu đã mở rộng các đế quốc của họ đến nhiều quốc gia triều cống của Trung Hoa khắp miền Nam Á Châu và Đông Nam Á Châu, kể cả Việt Nam và vài vương quốc đã trị vì tại các vùng thuộc Phi Luật Tân và Indonesia ngày nay. Người Nhật và người Âu Châu đã giật các quốc gia này khỏi tay hoàng đế Trung Hoa yếu đuối bằng điều mà Trung Quốc ngày nay chế diễu là “các hiệp ước bất bình đẳng”, và họ đã biến các thuộc địa của Trung Hoa thành các thuộc địa của Âu Châu. Sau khi đế quốc Nhật Bản bị phá hủy trong Thế Chiến II và các đế quốc Âu Châu triệt thoái khỏi Á Châu, di sản quan trọng nhất của sự chiếm đóng của họ là khái niệm sót lại về các quốc gia độc lập và có chủ quyền. Trung Hoa thì quá yếu để tái khẳng định sự kiểm soát trên các quốc gia triều cống cũ chống lại sự phản đối của Âu Châu và Mỹ, và các nước mới xây dựng trên các khuôn mẫu ranh giới của các cựu thuộc địa được giải thoát, ít nhất trong tạm thời, ra khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa.

Trong sự theo đuổi các tham vọng của Bắc Kinh, Trung Quốc bác bỏ “các hiệp ước bất bình đắng đã thương thảo với Nhật Bản và các cường quốc Âu Châu và đặt các sự tuyên nhận lãnh thổ hiện thời của nó trên các mối quan hệ triều cống thời tiền thuộc địa. Thí dụ, giữa các năm 1922 và 2000 Trung Quốc và Việt Nam đã thương thảo các ranh giới trên biển tại Vịnh Bắc Việt của họ. Căn bản cho sự tuyên nhận của Việt Nam tại Vịnh là một hiệp ước năm 1887 giữa Pháp và Trung Hoa đã ấn định các biên giới ngày nay của Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không thừa nhận hiệu lực của bản hiệp ước hay các sự tuyên nhận lịch sử của Việt Nam. 7 Một hiệp định sau rốt đã được đồng ý, nhưng hiển nhiên là quá bất bình đẳng đối với Việt Nam, đến nỗi Hà Nội đã cố giữ kín các điều khoản trong nhiều năm. Sau hết, một số điều khoản đã bị phát lộ, nung đốt các nhiệt tình dân tộc chủ nghĩa và đe dọa sự ổn định của chính phủ Việt Nam.

Bởi mọi nước tại Đông Nam Á đều thu nhận các biên giới hiện nay của nó từ các hiệp định và các thỏa ước thời thực dân (kể cả Thái Lan, vốn chưa hề là một thuộc địa của Âu Châu, nhưng có ký kết các hiệp định biên giới với các đế quốc Âu Châu), kinh nghiệm của Việt Nam có thể được dùng như sự cảnh báo cho bất kỳ nước nào trong khối ASEAN toan tính thương thảo một cách song phương với Trung Quốc. Dù thế, không lâu sau khi Việt Nam ký kết các hiệp định biên giới với Trung Quốc, Tổng Thống Gloria Macapagal Arroyo của Phi Luật Tân đã có một sự thỏa thuận với Trung Quốc, trong năm 2004, về việc thăm dò dầu hỏa. Giống như Việt Nam, bà ta cũng cố giữ các điều khoản trong vòng bí mật, nhưng không thành công. Phụ Lục “A” bí mật trước đây cho thấy rằng các ranh giới được phân định bao gồm cả các khu vực rộng lớn thuộc KKTĐQ của Phi Luật Tân. Trong tổng số gần 150,000 cây số vuông được bao trùm trong thỏa ước, khoảng 24,000 cây số vuông gồm cả phần lãnh thổ trên biển trước đây chỉ được tuyên nhận bởi Phi Luật Tân. Khi các điều khoản của hiệp định bí mật bị phơi bày sau hết, các nhiệt tình dân tộc chủ nghĩa một lần nữa được bùng cháy. Amado Macasaet, nhà xuất bản tạp chí Phi Luật Tân được yêu chuộng và kính trọng, tờ Malaya, đã đi xa đến mức nói rằng Tổng Thống Arroyo phải bị buộc tội phản quốc về việc ký kết các sự thỏa thuận mà ông cho rằng đã được đưa ra để đổi lấy các khoản vay “được cai quản bởi sự hối lộ và tham nhũng”. Ngay cả sau khi bị lật đổ, cựu Tổng Thống Marcos còn được yêu chuộng hơn bà Arroyo.

Đối với các cựu thuộc địa của Trung Quốc, có ít lý do để tin tưởng rằng việc nhượng bộ Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa sẽ thỏa mãn lòng thèm khát lãnh thổ hay quyền bá chủ. Trong trật tự thế giới Trung Quốc, Trung Quốc không phải là một nước trong một cộng đồng mà là nước văn minh cổ xưa nhất giữa các nước đang lên. Chủ quyền của bất kỳ nước nào tối hậu có được là do Trung Quốc và mức độ độc lập tùy thuộc vào sự thẩm định của nó về “các quyền lợi lõi cốt’ của Bắc Kinh. Trong việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” của nó trên Biển Nam Trung Hoa, Bắc Kinh đang đặt các cột mốc của nó như thể để nói, “Chúng tôi có thể giải quyết vấn đề này một cách dễ dàng, hay khó nhọc, nhưng nó sè là lối giải quyết của Trung Quốc”.

Các Nhận Thức Tại Đông Nam Á

Ngoại giao hung hăng của Mỹ tìm cách tập hợp một “liên minh đối cân” chống Trung Quốc chỉ có thể xác định các sự nghi ngờ của Trung Quốc về một chiến lược của Mỹ nhằm ngăn chặn Trung Quốc trong khi, cùng lúc, các hành động của Mỹ đang làm các chính phủ Đông Nam Á xa cách ra. Các thủ đô ASEAN thì lo ngại về Trung Quốc nhiều hơn Hoa Thịnh Đốn, nhưng họ cũng có thể bị xâm hại hơn nhiều trước các áp lực quân sự và kinh tế của Bắc Kinh và từ đó miễn cưỡng khiêu khích sự trả đũa của Trung Quốc. Một cách lý tưởng, khối ASEAN có được Hải Quân Hoa Kỳ chạy đến hoạt động tại Biển Nam Trung Hoa để duy trì hòa bình, trong khi ASEAN lúc đó ậm ừ phản đối từ bên lề và tái doan chắc với Trung Quốc rằng nó không dính dáng gì đến việc đó. Về mặt tinh thần, dĩ nhiên, ASEAN biết rằng nó phải làm tốt hơn điều đó. Hiểu biết về quan điểm của các nước khối ASEAN là bước đầu tiên để phát triển một chính sách quân bình và thích đáng.

Indonesia, Mã Lai, Phi Luật Tân, Singapore, và Thái Lan đã thành lập khối ASEAN trong năm 1967 với mục tiêu được tuyên bố là nhằm tán trợ hòa bình và sự ổn định, nhưng mục đích quan trọng nhất là giành được sự chấp nhận của mọi hội viên nguyên tắc giống như Westphalia về “sự tôn trọng hỗ tương nền độc lập, chủ quyền, sự bình đẳng, sự vẹn toàn lãnh thổ, và căn cước dân tộc của mọi nước”. Trong thời Chiến Tranh Lạnh, khối ASEAN tiếp tục tiến hóa như một công cụ ngoại giao để ngăn chặn sự tranh giành của siêu cường trong vùng. Sau Chiến Tranh Lạnh, ASEASN đã tuyển mộ thêm Brunei, Miến Điện, Căm Bốt, Lào và Việt Nam, và đặt tiêu điểm vào sự phát triển kinh tế. Trong thế kỷ thứ 21, các vấn đề an ninh một lần nữa chiếm ưu tiên trong nghị trình của ASEAN. Trước tiên, chính nạn khủng bố quốc tế và nạn hải tặc trên biển đà gợi hứng cho sự hợp tác an ninh liên ASEAN, và giờ đây sự trổi dậy của Trung Quốc ngày càng đứng đầu nghị trình thảo luận về an ninh.

Trưng dẫn sự gia tăng mạnh mẽ gần đây trong số chi tiêu quân sự tại Đông Nam Á, một số nhà phân tích dự đoán rằng các nước này đang sẵn sàng chuẩn bị cho sự cạnh tranh quân sự với Trung Quốc. Thí dụ, Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế tại Stockholm (Stockholm International Peace Research Institute) có tường thuật rằng các sự nhập cảng vũ khí vào Indonesia, Singapore,và Mã Lai đã gia tăng, một cách lần lượt, 84%, 146%, và 722% trong năm năm qua. Trong cùng thời khoảng, ngân sách quốc phòng của Thái Lan đã tăng gấp đôi. Một số các nhà phân tích lập luận rằng sự gia tăng khổng lồ trong chi tiêu quốc phòng này là một chỉ dấu cho sự quan ngại của Đông Nam Á về sự đe dọa của Trung Quốc. Không may, giống như nhiều hoạt động do chính phủ dẫn đầu tại Đông Nam Á, phần thực chất yếu kém hơn nhiều so với những gì mà các dữ liệu sống làm ta liên tưởng.

Thí dụ, tại Mã Lai, việc mua trị giá hàng tỷ mỹ kim hay được trưng dẫn, các tàu ngầm của Pháp và nhiều hệ thống vũ khí đắt tiền khác có lẽ dính dáng nhiều đến nạn tham nhũng quá mức hơn là với việc hoạch định quốc phòng chiến lược. 8 Trong thực tế, lịch sử của các vụ mua vũ khí tại Mã Lai rõ ràng gánh chịu sự tham nhũng — một cách trang điểm các lực lượng vũ trang của nó bằng các vũ khí đắt tiền, kém tập trung làm phức tạp cho sự tiếp vận mà không làm gia tăng giá trị chiến đấu.

Tại Thái Lan, sự tăng cường quân đội hiện thời chỉ bắt đầu sau khi cuộc đảo chính năm 2006 của Quân Đội Hoàng Gia Thái Lan lập ra một chính phủ lệ thuộc Quân Đội. Hơn nữa, mặc dù các tướng lĩnh tán thành một chính sách quốc phòng thân Mỹ với các viên chức Mỹ sang thăm viếng, các số trang cụ tạo mãi của họ là từ một hỗn hợp khác thường của các công ty không phải Hoa Kỳ. Từ một quan điểm tiếp vận, một sự triển lãm trang bị quân sự thì khó khăn và tốn kém để bảo dưỡng; mặt khác, sử dụng các nhà cung cấp vũ khí nhỏ hơn, không phải Hoa Kỳ, có thể mang lại cho các sĩ quan Thái Lan sự tiếp cận dễ dàng hơn với các khoản hối lộ.

Tại Phi Luật Tân, nước Đông Nam Á thứ nhì chỉ sau Việt Nam trong tình trạng dễ bị xâm kích trước sức mạnh khổng lồ của Trung Quốc, an ninh quốc gia đã phải nhường bước trước chính trị nội bộ. Kể từ biến cố 11 Tháng Chín, Hoa Kỳ đã tham gia vào một nỗ lực bền bỉ để cải thiện các năng lực của Quân Lực Phi Luật Tân. Tổng số viện trợ của Hoa Kỳ đà tăng gấp ba lần từ khoảng $38 triệu trong năm 2001 lên gần tới $120 triệu trong năm 2010. Ngoài ra, không kể đến các khoản tiền trợ giúp lên đến hàng triệu đồng được chi tiêu trong một loạt đang tiến hành các cuộc thao diễn quân sự hùng hậu giữa Hoa Kỳ và Phi Luật tân được thiết kế nhằm cải thiện các năng lực của Quân Lực Phi Luật Tân. Không may, bất kể các nỗ lực thành thật của Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, đã chỉ có các sự cải thiện biên tế trong Quân Lực Phi Luật Tân.

Sự thiêu vắng sự cải thiện này liên quan với ngân sách quốc phòng sụt giảm của Phi Luật Tân. Trong khi viện trợ Hoa Kỳ gia tăng, Quốc Hội Phi Luật Tân lại cắt giảm ngân sách quốc phòng. Ngoài mối đe dọa của Trung Quốc, Phi Luật Tân cũng bị vây hãm bởi nhiều cuộc nổi dậy nội bộ, song phần lớn trang bị của Quân Lực Phi Luật Tân thuộc thời Chiến Tranh Việt Nam và ngân sách quốc phòng hiện nay chỉ vào khoảng một phần trăm của GDP (Tổng Sản Lượng Nội Địa Gộp), hay vào khoảng 1.16 tỷ [mỹ kim] trong năm 2009. Bất kể, hay có lẽ bởi có sự viện trợ không bủn xỉn của Mỹ, nhiều chính trị gia Phi Luật Tân, kể cả vị Tổng Thống mới được bàu cử, Benigno Aquino III, cảm thấy rằng họ còn đáng hưởng nhiều hơn nữa. Phớt lờ sự thông đồng của chính họ trong việc xét cấp không đủ ngân khoản cho các lực lượng an ninh Phi Luật Tân, các chính trị gia này đang kêu gọi một sự tái duyệt Thỏa Ước Các Lực Lượng Thăm Viếng (Visiting Forces Agreement, thỏa ước cho phép sự hiện diện quân sự của Mỳ để giúp huấn luyện Quân Lực Phi Luật Tân). Sự phản đối của họ rằng Hoa Kỳ không làm đủ để hiện đại hóa Quân Lực Phi Luật Tân, và họ tưởng tượng Thỏa Ước Các Lực Lượng Thăm Viếng như một công cụ làm đòn bẩy cho các sự trợ cấp quân sự nhiều hơn bao giờ hết từ Hoa Kỳ.

May mắn, bức tranh an ninh tại Đông Nam Á không chỉ toàn việc mua chuộc và lười biếng. Cả Việt Nam lẫn Indonesia đang thực hiện các vụ tạo mãi vũ khí quan trọng nhằm tăng cường an ninh quốc gia của họ. Hơn nữa, sau các thập niên đầu tư khôn ngoan, quân lực của Singapore có đẳng cấp thế giới và đến nay hùng mạnh nhất trong khối ASEAN.

Trên giấy tờ, tổng số lực lượng không và hải quân của khối ASEAN thì đáng nể. ASEAN phô bày một phi đội gồm 680 máy bay chiến đấu có cánh cố định, 412 tàu chiến đấu trên mặt biển, và 8 tàu ngầm của các hải quân cộng chung lại. 9 Các số lượng này không đủ để đánh bại QĐGPNDTQ hùng mạnh, với 2,300 phi cơ chiến đấu, 65 tàu ngầm, và 256 tàu chiến đấu trên mặt biển, nhưng chúng đủ để tác động như một lực khống chỉ nếu có được bất kỳ ý nghĩa nào về sự phòng thủ chung. Không may, ASEAN không phải là NATO: Không nước nào tại Đông Nam Á lại bị ràng buộc bởi hiệp định để trợ giúp nước khác trong trường hợp có một sự tấn công, và chỉ có it nỗ lực bản địa để phối hợp các hoạt động quân sự.

Indonesia là nước lớn nhất tại Đông Nam Á, chiếm 40% dân số toàn vùng; nó có nền kinh tế lớn nhất và là một nền dân chủ đang phát triển. Các quan điểm của Indonesia về các hoạt động của Trung Quốc phản ảnh thị kiến của Jakarta về chính mình như một kẻ lãnh đạo không chính thức của khối ASEAN. Nói chuyện tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế Học (Center for Strategic and International Studies) tại Washington, D.C., Bộ Trưởng Ngoại Giao của Indonesia, Marty Natalegawa có nói, “Đối với các hội viên của khối ASEAN, điều đáng lo sợ hơn là khả tính rằng Biển Nam Trung Hoa có thể là một diễn trường trung tâm cho sự tranh giành khả dĩ”. Mục đích của Indonesia, và nói chung cũng như bởi khối ASEAN, là đối cân Hoa Kỳ chống lại Trung Quốc hầu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập của họ.

Chính quyền Việt Nam nhận thức Trung Quốc không gì khác hơn một mối đe dọa có thực; một sự lo âu được chứng nhận bởi kinh nghiệm lịch sử. Lịch sử được ghi chép của Việt Nam có niên đại trở lùi 2,700 năm. Trung Quốc đã chiếm đóng xứ sở hơn một nghìn năm trong thời khoảng đó và Hà Nội phải gánh chịu vị thế triều cống nặng nề cho phần lớn phần còn lại trong lịch sử của nó. Bất kể nhiều cuộc chiến tranh khó khăn và lâu dài với Trung Quốc, Hà Nội chỉ được hươ/ng sự độc lập đích thực trong các giai đoạn ngắn ngủi.

Kinh nghiệm của Hà Nội về Trung Quốc thời hậu đế quốc là thái độ bất chấp bền bỉ của Trung Quốc đối với chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam. Trong năm 1979, để trừng phạt Hà Nội vì các chính sách mà Bắc Kinh không ưa thích, Trung Quốc đã tấn công Việt Nam và chiếm đóng ngắn ngủi một phần của xứ sở. Ngoài ra, Hải Quân QĐGPNDTQ trong nhiều dịp đã tấn công và đánh chìm các tàu hải quân Việt Nam hoạt động ngay ngoài khơi miền nam Việt Nam và cách xa bờ biển Trung Quốc hàng trăm hải lý; binh sĩ Trung Quốc đồn trú trên các hòn đảo tí hon và bãi san hô bên trong KKTĐQ của Việt Nam; Hải Quân QĐGPNDTQ thường xuyên quấy rối hay bắt giữ các ngư phủ Việt Nam; và Bắc Kinh can thiệp vào các nỗ lực của Hà Nội để khai thác các tài nguyên khí đốt thiên nhiên nằm sâu trong KKTĐQ của Việt Nam. Dù thế, Việt Nam đã thận trọng không khiêu khích Trung Quốc và tiếp tục tìm cách giao hảo với Bắc Kinh.

Mặc dù Singapore không phải là một bên trong cuộc tranh chấp lãnh thổ trên biển tại Biển Nam Trung Hoa, và 75% dân số của nó là dòng giống Trung Hoa, các quan điểm của Singapore về một Trung Quốc đang trổi dậy chứng minh cho quy luật rằng khối ASEAN ngờ vực về các chủ định của Trung Quốc. Singapore là một nước đa chủng tộc, nhưng số đông trong dân số của nó là hậu duệ của các di dân Trung Hoa, phần lớn là các công nhân được nhập nội dưới thời cai trị của Anh Quốc. Bởi dân số di dân và sự thành công kinh tế của nó, một số nước trong vùng bất mãn với Singapore và thường lên tiếng nghi ngờ về lòng trung thành của họ. Mặc dù Singapore trong nhiều thập niên đã xây dựng các mối liên kết kinh tế mạnh mẽ với Trung Quốc, nó đã chờ đợi cho tới 1990 mới mở các quan hệ chính thức với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc – nước cuối cùng trong khối ASEAN làm như thế. Singapore tiếp tục sự liên kết kinh tế mạnh mẽ đó, nhưng sự hiếu chiến gần đây của Trung Quốc đã buộc Singapore phải tuyên bố chọn phe của nó.

Để trấn an các láng giềng của nó (và thông báo cho Trung Quốc) rằng Singapore không phải là một tỉnh của Trung Quốc, Thủ Tướng Singapore, Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long) trong dịp lề Quốc Khánh Tháng Tám 2010, đã nêu lên một luận điểm để mô tả căn cước văn hóa độc đáo của Singapore, kể cả sự chấp nhận Anh ngữ làm quốc ngữ và nghệ thuật nấu ăn riêng biệt của Singapore. Để nhấn mạnh thông điệp đó, trong mục quan điểm chủ biên ngày 6 Tháng Chín, 2010 của tờ Strait Times, nhật báo toàn quốc và phát ngôn viên của chính phủ Singapore, nhấn mạnh rằng người dân Singapore không phải là Hoa kiều hải ngoại, nói rằng “từ ngữ ‘Hoa Kiều hải ngoại’ làm nhức nhối người dân Singapore thuộc mọi chủng tộc bởi vì nó ám chỉ rằng người Trung Hoa tại Singapore cách nào đó “là các người ở “hải ngoại”, tách biết với “đại lục”. Nó cùng hàm ý một ước muốn có thể “quay trở về” một ngày nào đó. Trong thực tế, phần lớn những người Singapore ở đây không phải là “người hải ngoại”. Họ có gốc rễ tại đây. Trong một bài quan điểm chủ biên khác mùa hè qua, tờ Strait Times đã chấp thuận một cách thận trọng chiều hướng mới của Hoa Thịnh Đốn đối với Biển Nam Trung Hoa và đã cảnh cáo Bắc Kinh rằng “các hành động của nó sẽ được canh chừng chặt chẽ về điều nó nói đến “sự trổi dậy hòa bình” của một cường lực đang vươn lên

Quan tâm lớn nhất của Singapore về chính sách mới của Hoa Kỳ không phải sự nồi lo sợ của việc khiêu khích Trung Quốc mà là ở sự hay thay đổi trong chính sách ngoại giao của Mỹ, một quan điểm phản ảnh lập trường bao quát hơn của khối ASEAN. Từ quan điểm của ASEAN, bất kể các thập niên của các lời tuyên bố đinh tai và các hành động biểu dương quân sự của Trung Quốc, Hoa Kỳ đã “đứng ngoài” cuộc tranh chấp; dường như không hay biết hay không quan tâm đến sự thụ tạo của Bắc Kinh tại Biển Nam Trung Hoa và các hàm ý đối với vùng này và toàn cầu. Thí dụ, khi Phi Luật Tân, một đồng minh theo hiệp định của Mỳ, khám phá ra một cơ sở hải quân Trung Quốc trên Rạn San Hô Mischief Reef, Hoa Thịnh Đốn đã không chia sẻ sự tổn thương của Manila và đã không tỏ lập trường về sự tranh chấp, ngay cả khi Trung Quốc tiếp tục bành trướng và mở rộng sự hiện diện của họ.

Nhưng các nước khối ASEAN thì mâu thuẫn về cả Mỹ và Trung Quốc. Họ yêu cầu sự ủng hộ và hiện diện của Mỹ để đối cân với Trung Quốc. Cùng lúc, nhiều nước khối ASEAN miễn cưỡng chấp thuận cho Hoa Kỳ quá nhiều sự tiếp cận. vì nỗi lo sợ phải thỏa hiệp về chủ quyền. Các nước khối ASEAN lo sợ sức mạnh quân sự và các ý định chính trị của Trung Quốc, nhưng họ lại chào đón sự đầu tư của Trung Quốc và các cơ hội mậu dịch tại thị trường bao la của Trung Quốc.

Sau cùng, các nước khối ASEAN còn lâu mới thống nhất trong quan điểm của họ về Trung Quốc như một mối đe dọa. Bốn nước khối ASEAN, Miến Điện, Căm Bốt, Lào, và Thái Lan, không phải là một bên trong cuộc tranh chấp lành thổ Biển Nam Trung Hoa. Hội đồng quân nhân cầm quyền của Miến Điện, một chế độ cùng đinh quốc tế, xếp hạng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc vào một ít các chính phủ thân thiện với nó và sẽ miễn cưỡng phòng vệ các đối tác trong khối ASEAN của nó chống lại sự xâm lấn của nước bảo trợ cho nó [Từ đầu năm 2011, chế độ quân phiệt Miến Điện đã chuyển trục, không còn dựa độc nhất vào Trung Quốc, và đã hướng sang phía thế giới dân chủ, chú của người dịch]. Thái Lan ở giữa sự phân hóa chính trị sâu xa và nhiều phần không tham gia vào một sự phòng thủ chung. Hơn nữa, giới tinh hoa của Thái Lan lấy làm hãnh diện về chính sách ngoại giao “cây tre” linh động của Thái Lan và nhìn thấy không có lý do để uốn mình theo chiều gió tách ra khỏi Trung Quốc. Các hoàng gia ở cả Thái Lan lẫn Căm Bốt giao hữu tốt đẹp với chính phủ Trung Hoa. Sau cùng, thủ tục quyết định đồng thuận của khối ASEAN có nghĩa rằng Bắc Kinh chỉ cần một phiếu chống đối để né tránh sự chỉ trích của khối ASEAN.

Tiến Về Phía Trước

Các nước Đông Nam Á dùng khối ASEAN để tạo lập một hàng rào ngoại giao quanh vùng. Tuy nhiên, như các biến cố gần đây cho thấy, một Trung Quốc vươn lên đang xô đẩy chống lại ranh giới đó và khối ASEAN giờ đây mong muốn sự hiện diện gia tăng của Hoa Kỳ để đối cân lại sự xâm lấn của Trung Quốc. Thực tế khắc nghiệt là ngay cả các hiệp định an ninh cứng rắn và sự hiện diện của các tàu chiến Mỹ không đủ để bảo vệ các nước Đông Nam Á nếu họ không có ý chí để tự phòng vệ. Các nước khối ASEAN phải hành động, một cách riêng rẽ và tập thể, để tạo lập một sự răn đe có thực lực chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc. Hày trích dẫn nhà thơ Robert Frost, “Các hàng rào tốt tạo ra láng giềng tốt”, và khối ASEAN thiếu mất sức mạnh định chế, sự cấu kết, và sự thống nhất mục đích để xây dựng một hàng rào tốt.

Trung Quốc đặt ra một sự đe dọa quân sự có thực và hiển hiện, nhưng khởi sự sự trợ giúp của Hoa Kỳ với sự củng cố quân sự của khối ASEAN tương tự với việc xây dựng một một ngôi nhà bắt đầu với mái nhà. Ưu tiên hàng đầu phải là việc các nước cá biệt hãy xây dựng nền móng cho ngôi nhà đó bằng việc thu dọn các hệ thống pháp lý của họ và giảm thiểu nạn tham nhũng. Ngoại trừ Singapore, mọi nước trong khối ASEAN đều bị đau nhức bởi các hệ thống pháp lý tham nhũng sâu xa. Tham nhũng tư pháp cực kỳ thất nhân tâm, được biết tại Indonesia như là “băng đảng mafia tư pháp” và sự trợ giúp của Hoa Kỳ trong việc đấu tranh chống lại nạn này sẽ được đón chào. Hoa Kỳ có một số chương trình, đặc biệt tại Bộ Tư Pháp và Nội An, có thể trợ giúp các nỗ lực cải cách tư pháp bản xứ và phải là ưu tiên hàng đầu trong sự trợ giúp cho vùng này.

Ưu tiên thứ nhì cho việc xây dựng ngôi nhà của khối ASEAN là các bức tường và các cộ trụ kinh tế sẽ chống đỡ cho mái nhà. Khối ASEAN đã thực hiện sự tiến bộ trong việc nới lỏng các hạn chế mậu dịch liên-ASEAN, nhưng nó phải tiếp tục mở rộng các nỗ lực đó, và các nước phải cải cách nền kinh tế nội bộ của họ để cho phép sự tăng trưởng kinh tế. Một lần nữa, Hoa Kỳ có nhiều bộ và cơ quan có thể và nên viện trợ phát triển kinh tế tại Đông Nam Á. Đặc biệt, Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ có thể thương thảo một hiệp định mậu dịch nâng cấp giữa Hoa Kỳ và khối ASEAN, có lẽ rập khuôn theo hiệp định mậu dịch Hoa Kỳ – Việt Nam vốn đã đóng góp rất nhiều trong việc trợ giúp các sự cải cách kinh tế của Việt Nam.

Tại Đông Nam Á, Hoa Kỳ trong một giai đoạn có thể cung cấp một cái thuẫn an ninh cho các nước ASEAN, nhưng cam kết đó phải không được trở thành một nghìa vụ không đáy. Các sự trợ cấp an ninh, giống như các khoản trợ cấp an sinh, mậu dịch, hay công nghiệp, có thể trở thành các khoản thụ hưởng đắt giá và sau hết thúc đẩy động thái trái ngược với ý định nguyên thủy của sự trợ cấp.

Một khi có sự cải thiện thực chất trong các hệ thống pháp lý và sự tăng trưởng trong các nền kinh tế, khi đó sức mạnh quân sự gia tăng sẽ tiếp nối một cách tự nhiên. Thoát khỏi gánh nặng của việc mua các hệ thống vũ khí với sự hữu dụng thực tế duy nhất là để làm giàu cho các chính trị gia hay các tướng lĩnh, sẽ làm gia tăng một cách đáng kể năng lực quân sự mà không tốn phí thêm một đồng xu nào. Hơn nữa, với các nền kinh tế quốc gia to lớn hơn và mạnh khỏe hơn, giới quân sự trong vùng sẽ giành được nhiều nguồn tài nguyên hơn cho việc hiện đại hóa mà không làm gia tăng gánh nặng trên các người thọ thuế. Ngũ Giác Đại sẵn có các chương trình viện trợ lành mạnh trong vùng, và các quân đội quốc gia cải thiện sẽ có khả năng tận dụng sự trợ giúp của Mỹ nhiều hơn.

Về mặt ngoại giao, khối ASEAN phải khởi sự các cuộc thương thảo liên-ASEAN về các biên giới nội bộ. Khởi sự tiến trình này có thể buộc Trung Quốc phải xin tham gia vào tiến trình đa phương, cho phép khối ASEAN ấn định các điều kiện của các sự thương thảo. Ngay dù Bắc Kinh sẽ không tham dự, một hiệp dịnh biên giới của khối ASEAN sẽ gây khó khăn cho ngoại giao của Trung Quốc và phá hỏng sự đe dọa song phương của nó.

Về mặt quân sự, khối ASEAN phải khởi sự tiến trình để cải thiện khả năng thực hiện sự phòng thủ quân sự tập thể. Việc xây dựng trên các bước tiến nhỏ đã sẵn bắt đầu – chiến đấu chống nạn khủng bố xuyên quốc gia, trấn áp nạn hải tặc trên biển, và cung cấp sự cứu trợ tai họa – các quân đội thuộc khối ASEAN cần khởi sự tìm kiếm các cơ hội để cải thiện việc thi hành các hoạt động liên hiệp. Các mục đích chính trị và ngoại gia được tuyên bố của khối ASEAN là nhằm bảo vệ chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của các nước hội viên. Xây dựng một khả năng khống chỉ (răn đe) quân sự tập thể để phòng vệ các mục đích đó chống lại mọi đối thủ khả hữu không phải là một hoạt động chống lại Trung Quốc.

Sau cùng, mực địch của bài viết này không phải là để lập luận rằng Bắc Kinh sẽ nhất thiết thi hành các đặc ưu quyền cổ đại của nó, mà đúng hơn rằng ý thức hệ quy tâm về Trung Quốc là căn bản lịch sử từ đó các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ nhìn vào thế giới. Bắc Kinh phải bị thuyết phục để trở thành một kẻ tuân thủ hết lòng mô thức Westphalia. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Robert Zoellick thường nêu ý kiến rằng Trung Quốc cần trở thành một “có đặt tiền cược stakeholder” hơn nừa trong hệ thống quốc tế và rằng mục đích đó cần được giữ như là một mục tiêu chính sách dài hạn của Hoa Kỳ. Trong nửa sau của thế kỷ thứ 20, Trung Quốc đã hưởng lợi lớn lao từ các sự bảo vệ cố hữu của mô hình Westphalia về một quốc gia – dân tộc và hệ thống quốc tế bao quát hơn. Giờ đây bởi Trung Quốc đủ lớn mạnh để ảnh hưởng đến trật tự thế giới, nó không thể được phép để thiết lập một cấu trúc phân chia tầng lớp với Trung Quốc đòi hỏi các quyền lớn hơn các nước khác.

Các nhà lập chính sách tại Washington phải ghi nhớ rằng Trung Quốc hiện thời không phải là một mối đe dọa đến bất kỳ nước nào [vào năm 2011, khi bài viết này được ấn hành. Từ đó đến nay, 2014, Trung Quốc ngày càng có thái độ hung hăng hơn trong việc giành chiếm Biển Nam Trung Hoa và xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và Phi Luật Tân, chú của người dịch]. Mặc dù có một tiềm năng đáng kể cho một sự đụng độ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, nền ngoại giao hữu hiệu và sự trưởng thành chính trị gia tăng tại Bắc Kinh có thể ngăn ngừa bắt kỳ sự chạm trán nào như thế. Cách hay nhất để đạt được mục đích này là gắn chặt Trung Quốc vào các tổ chức đặt căn bản trên quy tắc và sau đó cương quyết đòi Bắc Kinh phải tuân thủ theo các quy tắc đó. Hiệp định về biển toàn cầu quan trọng nhất là Công Ước UNCLOS, nhưng Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn bản hiệp ước và do đó có ít quyền lực để ảnh hưởng dến sự thi hành công ước cho bằng Trung Quốc. Cách thức duy nhất để Hoa Kỳ có được một ghế ngồi tại bàn họp UNCLOS là phê chuẩn Công Ước UNCLOS và tham dự vào các trong ủy hội khác nhau hướng dẫn sự thi hành Công Ước.

Các quyền lợi của Mỳ trong việc duy trì sự tự do hải hành tại Biển Nam Trung Hoa và các hải phận tranh chấp khác phải được phòng vệ bởi ngoại giao được hậu thuẫn bởi sức mạnh quân sự. Hoa Kỳ không được chùn bước hay thỏa hiệp, bởi bất kỳ sự nhượng bộ tạm thời nào trước các đòi hỏi được chứng tỏ là vô lý của Trung Quốc sẽ không mang lại sự biết ơn, mà thay vào đó sẽ trở thành một tiền lệ cho các đòi hỏi tương lai của Trung Quốc. Về mặt ngoại giao và quân sự, Hoa Thịnh Đốn buộc phải tiếp tục bố trí lực lượng đầy đủ để khống chỉ các tham vọng lành thổ không thể biện minh được của Trung Quốc./-

_______

Chú thích:
John Pomfret, “U.S. takes a tougher tone with China,” Washington Post (July 30, 2010).
Edward Wong, “China Hedges Over Whether South China Sea is a ‘Core Interest’ Worth War,” New York Times (March 30, 2011).
Max Herriman, “China’s Territorial Sea Law and International Law of the Sea,” Maritime Studies 15 (1997). Cũng xem sự thảo luận về sự tuyên nhận của Trung Quốc bởi tác giả Xavier Furtado trong bài “International Law and the Dispute over the Spratly Islands: Whither UNCLOS?” Contemporary Southeast Asia 21:3 (December 1, 1999).
Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China, “Jurisprudential Evidence to Support China’s Sovereignty over the Nansha Islands” (2000).
Xem phần giới thiệu sách của tác giả Edward H. Schäfer, Shore of Pearls (University of California Press, 1970).
Giovanni Andornino, “The Nature and Linkages of China’s Tributary System under the Ming and Qing Dynasties,” Global Economic History Network working paper 21 (2006).
Zou Keyuan, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in rhe Gulf of Tonkin,” Ocean Development & International Law 36 (2005).Asian Sentinel có công bố một loạt bài tuyệt hảo về vụ tai tiếng tầu ngầm tại Mã Lai, nhưng một bài cá biệt của John Berrhelsen đã cung cấp một sự tóm lược hữu dụng: John Fierthelsen, “Malaysia’s Submarine Scandal Surfaces in France,” Asian Sentinel (April 16, 2010).
Các con số này dựa chính yếu trên tài liệu được ấn hành bởi Center for Strategic and International Studies trong tài liệu “The Military Balance in Asia: 1990-2010.”

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

Bùi Tín: Tan hỏa mù

“Họ phân công đóng kịch, tung hỏa mù, làm như có một thiểu số trong Bộ Chính trị có quan điểm dân chủ, làm cho dư luận lầm tưởng rằng có phe này phái nọ đối lập nhau, phe thân Tàu, phái thân Mỹ. Do đó có kẻ sang Bắc Kinh nói toàn lời hữu hảo, bị Tàu coi là đứa con hư hãy trở về gia đình vẫn cứ ‘hảo, hảo’, mới đây còn lập đường dây điện thọai nóng giữa 2 Bộ Quốc phòng, rồi cử 13 viên tướng sang chầu Thiên triều. Đồng thời lại cử người sang Washington nở nụ cười tươi, tặng quà độc đáo, dọa kiện TQ ra trước tòa án quốc tế, hứa kết bạn với Philippines, rồi huênh hoang tuyên bố ‘dân chủ và nhà nước pháp quyền là 2 thành quả song sinh của nền chính trị hiện đại’ – nhưng không hề khởi động theo những lời hứa ấy”.

Bùi Tín


27-10-2014

Ít lâu nay, trong giới bình luận thời sự trong và ngoài nước đã có không ít người lạc quan cho rằng trong lãnh đạo đảng CS có một sự phân hóa, bên cạnh xu hướng thân Tàu, dựa vào Tàu, đã có một bộ phận muốn cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ và phương Tây.

Khi ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị được cử sang Hoa Kỳ trong khi Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sẵn sàng khăn gói theo lời mời của Ngoại trưởng Hoa Kỳ vẫn chưa được lệnh xuất phát, có dư luận cho rằng nhóm thân Mỹ trong Bộ Chính trị đã chiếm ưu thế, mở ra triển vọng mới cho vị thế quốc tế của Việt Nam, thoát khỏi sự khống chế của người khổng lồ phương Bắc. Xu hướng lạc quan này xét ra là có lý, thuận theo suy luận lô-gíc của các sự kiện.

Vụ Bắc Kinh ngang nhiên đưa giàn khoan HD-981 vào vùng biển Đông nước ta là một hành động ngạo mạn gây nên sự căm phẫn mạnh mẽ của toàn dân cũng như sự lên án của công luận quốc tế. Bộ Chính trị không thể làm ngơ trước thái độ giận dữ ấy. Thêm nữa, Bộ Chính trị cảm thấy rõ sức ép quốc tế từ Liên Hiệp Quốc, từ Quốc hội Hoa Kỳ, từ Liên Âu … yêu cầu nghiêm cách VN phải tôn trọng nhân quyền, trả tự do cho tù chính trị, tôn giáo, cho phép lập công đoàn tự do, để củng cố thế đứng của VN trong Hội đồng Nhân quyền của LHQ, gia nhập vào khối TPP nhiều lợi lộc.

Cho nên lãnh đạo đảng CS buộc phải tìm cách xoa dịu nỗi căm phẫn của nhân dân đối với hành động hung hăng ngạo mạn của Bắc Kinh, đồng thời họ cũng cố làm động tác chìa bàn tay thân hữu với Hoa Kỳ và phương Tây để hòng trục lợi, những món lợi không nhỏ.

Thế là các tù nhân Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Tiến Trung và một số sỹ quan và viên chức Việt Nam Cộng hòa ở tù lâu năm được trả tự do.

Từ sau tháng 9/1990, với cuộc mật đàm và Thỏa thuận ngầm ở Thành Đô, Bộ Chính trị bị ngấm đòn do roi vọt của Đặng Tiểu Bình, hoảng sợ khi hàng lọat nước CS Đông âu tan vỡ, người anh Cả CS Liên Xô trên bờ vực, liền lao vào bẫy của Bắc Kinh để kiếm chỗ dựa trước khả năng bùng nổ của ngọn triều dân chủ của nhân dân mình như ở Rumani, Bungari.… Họ sẵn sàng chuyển kẻ thù thành người Anh lớn, cùng chung học thuyết, cùng chung chế độ xã hội, chung lý tưởng CS, sống chết có nhau. Họ cho đó là cao kiến, là thượng sách, cứu đảng đặt cao hơn cứu dân.

Đây là cuộc câu kết mang bản chất phản bội nhân dân 2 nước, phản bội tình hữu nghị chân chính giữa 2 dân tộc Việt – Trung, chống lại nhân dân toàn thế giới khi toàn thể lòai người tiến bộ đã kết luận chủ nghĩa CS hiện thực là tội ác gây nên cái chết của hơn 100 triệu nhân mạng, trong đó có hơn 40 triệu dân Trung Quốc và hơn 4 triệu dân VN. Thỏa thuận Thành Đô là văn kiện tuy có thể không có thỏa thuận nào phía VN đồng ý trong 30 năm trở thành khu tự trị của TQ, nhưng chắc chắn nó là văn kiện nhục nhã bất bình đẳng, mở đường cho phía TQ lấn hàng trăm cây số vuông trên bộ, hàng vạn cây số vuông trên biển, chiếm hàng lọat đảo của VN, còn thâm nhập khai thác hàng vạn héc ta rừng biên giới, thâm nhập sâu cả vùng chiến lược Tây Nguyên để khai thác bô-xít, chiếm các gói thầu lớn nhất trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, còn mở đường cho hàng mấy chục vạn người TQ xâm nhập sinh cơ lập nghiệp với những bản làng Trung Hoa trên đất nước ta. Thiệt hại, mất mát đó là vô giá, không thể tính hết.

Mất mát về chủ quyền, về lãnh thổ, về biển đảo, về tài nguyên, về môi trường, về dân sinh, về kinh tế, tài chính, về quốc thể, không sao tính hết.

Có thể khẳng định chưa có một mảy may dấu hiệu nào là lãnh đạo VN tỉnh ngộ, nhận ra sai lầm kinh khủng của Thỏa thuận Thành Đô, công khai nhận sai lầm với toàn dân, toàn quân đội, phủ định những hớ hênh đã cam kết, trả hẳn lại cho phía TQ “4 tốt” và “16 chữ vàng” do chính phía TQ cố tình chà đạp, để khẳng định quyền thay đổi đường lối đối ngọai, quyền ‘ xoay trục’ của mình.

Vậy những chuyện tạo nên ảo vọng, hồi hộp, phán đoán lạc quan vừa qua là gì? Là động tác chiến thuật, là thuộc chiến tranh tâm lý, là thủ đọan thâm hiểm, là tạo nên màn khói giả tạo, thiện chí giả tạo. Bởi vì cả 16 người trong Bộ Chính trị hiện vẫn là một đồng một cốt, tuy có thể có những mâu thuẫn kèn cựa cá nhân, nhưng đều thuộc về phái thân Tàu, coi Tàu là chỗ dựa toàn diện, chỗ dựa chiến lược lâu dài. Họ yêu đảng CS để vụ lợi riêng, bảo vệ đảng để kiếm chác tận trong tim óc, chỉ yêu nước ở đầu lưỡi, chỉ phục vụ nhân dân ở 2 môi.

Họ phân công đóng kịch, tung hỏa mù, làm như có một thiểu số trong Bộ Chính trị có quan điểm dân chủ, làm cho dư luận lầm tưởng rằng có phe này phái nọ đối lập nhau, phe thân Tàu, phái thân Mỹ. Do đó có kẻ sang Bắc Kinh nói toàn lời hữu hảo, bị Tàu coi là đứa con hư hãy trở về gia đình vẫn cứ ‘hảo, hảo’, mới đây còn lập đường dây điện thọai nóng giữa 2 Bộ Quốc phòng, rồi cử 13 viên tướng sang chầu Thiên triều. Đồng thời lại cử người sang Washington nở nụ cười tươi, tặng quà độc đáo, dọa kiện TQ ra trước tòa án quốc tế, hứa kết bạn với Philippines, rồi huênh hoang tuyên bố «dân chủ và nhà nước pháp quyền là 2 thành quả song sinh của nền chính trị hiện đại» – nhưng không hề khởi động theo những lời hứa ấy.

Do đó mà cầm chắc rằng việc gia nhập TPP sẽ còn vời vợi, việc mua vũ khí sát thương của Hoa Kỳ còn khá xa xăm, và hạnh kiểm Nhân quyền của Bộ Chính trị Hà Nội sẽ tiếp tục bị điểm xấu dài dài.

Blogger Điếu Cày: Nhà tù Cà Mau như ‘trại súc vật’



Nam Phương & Thiện Giao

27-10-2014



LTS – Sáu ngày sau khi được đưa thẳng từ nhà tù ở Nghệ An lên máy bay sang thẳng Hoa Kỳ và đặt chân xuống phi trường Los Angeles, ngày 27 tháng 10, blogger Điếu Cày dành cho Người Việt cuộc phỏng vấn qua điện thoại từ chỗ ở tạm của ông. Trong cuộc phỏng vấn này, ông chia sẻ nhiều điều liên quan đến việc được thả trước thời hạn và những trải nghiệm của ông ở trong tù. Cuộc phỏng vấn do Nam Phương và Thiện Giao thực hiện.


Người Việt: Khi được thả ra khỏi nhà tù ở Thanh Chương, Nghệ An, sao người ta không thả anh ở Việt Nam mà lại đi thẳng sang Hoa Kỳ?

Điếu Cày: Trước hết, tôi xin nói rõ: Tôi không xin tha tù, và nhà cầm quyền Cộng Sản cũng không tha tôi. Họ đưa tôi ra khỏi trại giam và áp giải tới sân bay. Bộ Ngoại Giao Việt Nam tuyên bố, Việt Nam đã quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Người Việt: Vậy anh có biết trước việc ra đi? Hay anh có biết là liệu có những cuộc nói chuyện giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Hoa Kỳ?

Điếu Cày: Hai bên chính phủ làm việc với nhau thì chúng tôi hoàn toàn không biết. Chúng tôi ở trong tù. Thông tin rất hạn hẹp.

Người Việt: Có nghĩa là anh bị trục xuất?

Điếu Cày: Cũng không hẳn như vậy. Chính phủ Việt Nam yêu cầu tôi viết đơn xin tha tù và nhập cảnh vào Mỹ để học tập về báo chí. Nhưng họ cũng không đưa ra điều kiện tôi được ra tù và được ở lại Việt Nam. Còn khi tôi gặp đại diện Bộ Ngoại Giao Mỹ, thì họ nói chính phủ Mỹ yêu cầu chính phủ Việt Nam phải thả tôi vô điều kiện dù tôi ở lại Việt Nam hay sang Hoa Kỳ, thì hai bên mới đạt thỏa thuận tôi ra tù sẽ sang Mỹ.

Người Việt: Vào ngày anh lên đường sang Hoa Kỳ, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rằng anh tự quyết định xin sang Mỹ. Như thế có đúng không ạ?

Điếu Cày: Câu hỏi của anh có phải là: Anh không có quyền lựa chọn ở lại Việt Nam và đi sang Mỹ, hay đúng như Bộ Ngoại Giao Mỹ nói anh quyết định sang Mỹ để được thả sớm?

Người Việt: Đúng vậy.

Điếu Cày: Cả hai điều trên đều đúng.

Người Việt: Anh từng qua nhiều nhà tù khác nhau ở Việt Nam. Nơi nào cai tù độc ác nhất với tù nhân? Cách khác, nhà tù Việt Nam có tôn trọng khía cạnh con người của người bị giam cầm không?

Điếu Cày: Tôi đã đi qua 11 nhà tù của Việt Nam, từ Cà Mau ra tới Nghệ An. Trại nào cũng ác. Nhưng trại giam Cái Tàu, Cà Mau, thì đúng là Trại Súc Vật. Năm 2009, nghị định 113 quy định chỗ nằm mỗi người là 2 mét vuông, nhưng thực tế mỗi người khi chia gạch thì chỉ được rộng bằng (nghe không rõ). Cứ 2 người một cái mùng nhỏ, hai đầu có lỗ thủng để xuyên cái võng qua, kẻ nằm trên, người nằm dưới. Các lối đi trong phòng giam cũng kín người nằm, dù người ta đi lại ướt nhẹp và hôi thối. Nước tắm rất ít và yếu. Tù nhân phải ngậm miệng vào đường ống để hút nước ra, hứng từng ca đổ vào thùng để sử dụng. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng đến gần vòi nước được, nếu không muốn bị một cái ca vào đầu. Một phòng, họ nhốt hơn 100 người mà chỉ có 2 chỗ đi cầu. Lại không có nước dội. Hai đống phân như hai cái thúng úp. Mùi nước tiểu và mùi phân nồng nặc, cộng với hơi người hầm hập. Và muỗi thì nhiều vô kể. Những ngày triều cường lên cao, nước trong cống và hố phân không thoát ra được, dâng lên, ngập đầy sân trại, thúi hoắc. Còn cơm với canh thì suốt đời là canh rau muống, mà canh rau muống thì dài nửa mét. Những người bị kỷ luật mới khổ.

Người Việt: Có sự khác biệt nào giữa chính sách đối xử của cai tù với tù chính trị và tù hình sự?

Điếu Cày: Tôi muốn nói về chuyện quản giáo đánh tù ngay giữa sân trại, có hàng ngàn tù nhân chứng kiến. Đó là vụ của đại úy tên là “Phú Ma” đánh tù nhân tên là “Minh Ngọng” người Cà Mau. Lúc đầu thì anh ta quất bằng mã trắc, sau đó bỏ mã trắc sang một bên, lấy gốc tràm đánh tiếp. Rồi lại thay bằng một chân niễng. Minh Ngọng chỉ lấy hai tay ôm lấy đầu, nằm quằn quại giữa sân. Đánh mỏi tay rồi Phú Ma bắt Minh Ngọng bò vào nhà tự quản, như một con vật. Phú Ma là người ở Vinh, quê Nghệ An. Còn rất nhiều vụ nữa mà tôi không tiện kể hết ra đây. Chính tôi đấu tranh hơn 2 tháng trời thì họ mới khoan thêm một cái giếng cho tù nhân ở trại giam Cái Tàu, Cà Mau.

Nếu Viện Kiểm Sát mà muốn điều tra, cứ lấy tổng số tù nhân nam ở trại Cái Tàu, chia cho diện tích số phòng giam vào thời điểm đó thì sẽ biết mỗi người nằm một đoạn gạch là bao nhiêu. Tôi ở đội 28 nhưng mà 2 lần Viện Kiểm Sát vào trại kiểm tra là 2 lần quản giáo đưa cả đội chúng tôi ra ngoài đồng ngồi cho đến khi Viện Kiểm Sát đi về thì mới được cho vào trại. Sống như thế thì làm sao gọi được là người?

Người Việt: Anh đã từng tuyệt thực nhiều lần, trong đó có 2 lần tuyệt thực dài, gần một tháng và hơn một tháng. Nếu lần sau cùng, khi anh ở Thanh Chương, không có anh Nguyễn Xuân Nghĩa tiết lộ chuyện anh tuyệt thực, anh có thể nguy đến tính mạng không?

Điếu Cày: Lần tuyệt thực 28 ngày, đến ngày thứ 28 họ phải đưa cấp cứu tại bệnh viện 30 tháng Tư. Lần thứ hai tại trại giam số 6, tôi tuyệt thực 33 ngày. Tôi không ăn, chỉ uống nước. Ở trại B34, tôi tuyệt thực nhưng không có ai đưa tin ra ngoài. Vì vậy, khi tôi sắp chết họ mới đưa tôi đi cấp cứu. Ở trại giam số 6, nếu không có anh Nguyễn Xuân Nghĩa thì tôi cũng phải đi tới cùng như lần trước thôi. Nhưng lần này may có anh Nghĩa đi ra thăm gặp, anh đã dũng cảm báo cho chị Nga vợ anh ấy vào ngày 17 tháng Bảy, 2013. Khi gia đình tôi biết tin, đi thăm tôi lần thứ hai vào ngày 20 tháng Bảy, mặc dầu tin tôi tuyệt thực đã được cả thế giới biết tới, từ ngày 17 tháng Bảy, đến 20 tháng Bảy, Viện Kiểm Sát mới vào làm việc.

Người Việt: Trở lại việc gần đây. Thấy mấy bức hình liên quan đến kỷ vật anh mang ra bên ngoài, trong đó có bức thư của anh Trương Duy Nhất do anh mang ra. Khi anh đi ra, những bạn tù còn lại gồm những ai, họ ký thác, kỳ vọng điều gì nơi anh? Anh có thể làm gì để giúp họ?

Điếu Cày: Ngoài anh Trương Duy Nhất, còn có anh Trần Anh Kim, anh Nguyễn Kim Nhàn và 3 anh Tây Nguyên nữa. Khi chúng tôi thảo luận với nhau, anh em nhắn gởi và ủy thác cho tôi thay mặt anh em đấu tranh cho quyền lợi của tất cả tù chính trị, vạch trần những văn bản luật rừng. Anh em tin rằng tôi đủ trải nghiệm để thực hiện nghĩa vụ này. Điều đó cũng tác động đến quyết định của cá nhân tôi. Các bạn có thể thấy điều ấy ngay trên lá thư của anh Trương Duy Nhất. Tôi mong được mọi người chung tay giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành những điều mà anh em đã tin tưởng ký thác.

Người Việt: Khi ở nhà tù số 6 Huyện Thanh Chương, anh bị giam chung với tù làm gián điệp với Trung Quốc. Những người đó được sử dụng để theo dõi các anh và báo cáo lại với cai tù? Những người đó có làm phiền các anh nhiều không?

Điếu Cày: Đúng vậy. Trại Nam Hà, hễ có 2 đơn tố cáo là bị giam riêng, không cần biết đơn tố cáo có phải là sự thật không. Trại giam chỉ sử dụng đơn tố cáo của mấy tên gián điệp làm cái cớ để đàn áp anh em tù chính trị mà không cần điều tra, xác minh. Cụ thể nhất là vụ của tôi. Khi họ ngang nhiên và quyết định giam riêng tôi, không hề có một biên bản vi phạm nào, bất chấp tôi phản đối, họ xốc nách tôi, đưa ngay vào trong buồng giam. Khi anh Nghĩa đưa được tin ra ngoài, vào ngày 23 tháng Bảy, trại giam đưa tôi ra, tuyên đọc đơn tố cáo của 2 thằng gián điệp, lập “biên bản nguội” nhằm hợp thức hóa quyết định họ đã ra từ ngày 22 tháng Sáu, 2013, tức là trước đó hơn 1 tháng. Tôi đã ngay lập tức vạch trần âm mưu đê hèn này, và yêu cầu những người ký vào biên bản đó phải ghi đúng ngày tháng rồi mới ký.

Người Việt: Bây giờ đã sang Hoa Kỳ, chỉ mới là những ngày đầu tiên. Con đường dự định đấu tranh sẽ tiếp tục ra sao? Dự định cuộc sống riêng sẽ ra sao?

Điếu Cày: Về cuộc sống riêng, gia đình tôi và gia đình bên vợ hầu hết ở Vancouver và Toronto, Canada. Hiện nay tôi cũng chưa muốn chia sẻ nhiều về cuộc sống riêng.

Về dự tính tranh đấu trong tương lai, tôi muốn nói như thế này: Các chế độ độc tài thường tạo ra một không gian khép kín và bưng bít thông tin. Chúng nắm tất cả mọi phương tiện truyền thông và dùng nó để chi phối dư luận xã hội, phục vụ cho mục đích cầm quyền. Còn người dân trong những đất nước đó thì được nghe, được biết những gì nhà cầm quyền muốn. Người dân không có phương tiện cất lên tiếng nói, thể hiện ý nguyện của mình. Bọn độc tài thì sống phè phỡn trên những vùng tối u mê đó. Cho đến khi bức tường bưng bít thông tin bị phá vỡ bởi người dân đã có trong tay công cụ để chia sẻ để cất lên tiếng nói, để tự do biểu đạt ý nguyện của mình, lúc đó sự dối trá mới bị phơi bày. Người dân sẽ mất niềm tin, và đến một ngày, khi họ rút lại sự tuân phục, quyền lực khi đó chỉ còn là thứ cường quyền. Truyền thông không còn bất cân xứng, tự do nhiều chiều sẽ đem lại sự cảm thông và sự thấu hiểu giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, và góp phần củng cố hòa bình. Chúng tôi đã bắt đầu bằng truyền thông, chúng tôi sẽ tiếp tục đi theo con đường đã chọn. Nếu bạn đồng ý với tôi, hãy chung tay tạo ra càng nhiều kết nối để loan tải thông tin, để cân bằng và để phá vỡ bức tường bưng bít thông tin và định hướng.

Người Việt: Người cùng xử chung vụ với anh, là chị Tạ Phong Tần và blogger Phan Thanh Hải. Anh và anh Hải đã ra tù, còn lại chị Tần. Anh nghĩ gì về trường hợp chị Tạ Phong Tần.

Điếu Cày: Chị Tạ Phong Tần là người đấu tranh rất kiên cường, là một cây bút chủ lực. Trong suốt nhiều năm qua, chúng tôi tuy bị chia cắt ra nhiều nơi, chúng tôi vẫn luôn nhớ về nhau, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh này, Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do đã chịu mất mất rất lớn. Đặc biệt là trong việc mẹ cô Tần tự thiêu để phản đối chế độ hà khắc này. Vì vậy, chúng tôi, dù đã được ra ngoài, vẫn sẽ tìm mọi cách, sẽ đấu tranh bằng mọi giá để kéo Tần ra ngoài, bởi vì Tần không có tội gì cả. Chúng tôi chỉ là những người dân biểu đạt quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận một cách ôn hòa, mà đã bị chính quyền Cộng Sản này đàn áp một cách ghê rợn như vậy.

Người Việt: Xin cám ơn thời gian anh dành cho độc giả của chúng tôi.

Sân golf đuổi sân bay!


Nguyễn Đình Ấm

Khi người cầm quyền cộng sản giành được Sài Gòn, đến đâu cũng sáng mắt lên không thể hình dung nổi, vì đối diện với một thành phố kinh tế thị trường về phương diện nào cũng có quy mô vượt xa cái lèo tèo của một thành phố đã triệt tiêu buôn bán, bị làng thôn hóa đến như Hà Nội. Vì thế, các ông chủ mới đã thi nhau hành xử theo kiểu những bác nhà quê thấy cái gì cũng quá to lớn, quá thừa thãi, “eo ôi, hoài của”, và cứ nơi nào có thể cắt bớt, lấn chiếm được để chia nhau mỗi người một vài miếng là làm tắp lự, không cần biết đến quy hoạch đô thị của những thành phố hiện đại phải có tầm nhìn xa như thế nào. Sân bay Tân Sơn Nhất, theo chúng tôi được biết, vốn được chế độ VNCH chừa nhiều không gian rộng rãi ở cả ngoài phạm vi sân bay, để máy bay lên xuống không bị vướng tầm nhìn, và cũng để dự trữ cho tương lai có thể mở rộng thành một sân bay hiện đại. Thế nhưng quân đội đã được bật đèn xanh biến những khoảng không “eo ôi, hoài của” đó thành đất ở, để rồi từ sau 1975, vô số nhà lúp xúp liên tiếp mọc lên thành những dãy phố chen chúc, đứng hai bên các làn đường chật hẹp, có nơi hẹp hơn con hẻm, hệt theo kiểu mẫu XHCN ở ngoài Bắc vốn được coi là thiên đường. Đường cho ô tô ra vào sân bay đến nay có những đoạn trở nên chật cứng mỗi khi có nhiều chuyến bay cất cánh hạ cánh vào giờ cao điểm, cũng chính vì lẽ đó. Và mỗi khi máy bay lên xuống thì có những người nào đấy kêu lên là “nhà dân suýt tốc mái” cũng chính lẽ đó. Đó mới là lý do của mọi lý do để người ta có cơ hội đưa ra dự án sân bay Long Thành – như những thoi vàng lấp lánh chóa mắt đang vẫy gọi – ngày hôm nay. Vậy thì CNXH là gì? Thấy đâu phá được là phá, rồi sẽ tính sau? Thấy đâu có lợi là viện đủ lý do “chính đáng” “vì những kế hoạch lâu dài cho dân cho nước” để dốc sạch túi dân làm ảnh hưởng đến tận đời con đời cháu? Xin nói với các vị, làm kiểu này các vị và nhóm lợi ích của các vị có thể phút chốc giàu to đấy, nhưng đất nước sẽ mãi mãi vắt mũi không đủ bỏ miệng. Ai cho phép xây sân golf trong một sân bay là cửa ngõ lớn của thủ phủ phía Nam? Và có luật pháp nào cho phép người nắm quyền quyết định những việc lạ kỳ như vậy? Quyết định đó đem lại lợi ích cho ai mà nay phải đánh đổi hơn 18 tỷ đô la là cái gánh lớn hơn một quả núi trên lưng dân chúng, trong khi nền kinh tế nước nhà đang hồi lụn bại, ngân hàng có thể vỡ, nợ xấu, nợ công là mối nguy kề cận, và người cai trị đủ các cấp thì nhởn nhơ bán hết rừng, hết biển, bán cả những địa điểm trọng yếu cho những đối tác không đáng tin cậy như Vũng Áng, nay lại đang bán đường di? Các vị có cảm thấy dưới mông mình đang nhột hay không?

Bauxite Việt Nam






Mặc dù đã có rất nhiều ý kiến phản đối dự án xây dựng sân bay Long Thành thay cho sân bay Tân Sơn Nhất (TSN) trong thời kỳ nền kinh tế đất nước đang rất khó khăn nhưng đến nay dự án tốn kém và vô lý này vẫn đang được xúc tiến. Vô lý vì kêu TSN chật chội nhưng có 157,6 ha được lấy làm sân golf! Tới đây Chính phủ sẽ trình dự án ra Quốc hội và liệu mọi việc có thể sẽ an bài với những lý do “thuyết phục” như: TSN quá tải, chật chội, ô nhiễm môi trường, không an toàn… Vậy những lý do đó thuyết phục đến đâu?





Khu nhà chính đang được thi công trong công trình sân golf tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Bạch Dương (TN)



Về TSN quá tải: Đó là lý do luôn được đưa ra mỗi khi trình bày dự án phải xây Long Thành thay TSN.

Phát ngôn như thế là không chính xác, nếu không nói là bịp bợm. Bởi vì, ở một sân bay, không bao giờ người ta xây ngay từ đầu công suất tối đa mà phải xây cơ sở hạ tầng theo từng giai đoạn thị trường yêu cầu. Hiện tại TSN quá tải trước mắt là sân đỗ và vài năm nữa là nhà ga, đường băng. Những năm gần đây cảng hàng không (HK) TSN, hãng HK quốc gia VNA phải thuê sân đỗ, nhà xưởng bên quân sự để hoạt động. Việc TSN xây dựng thêm các cơ sở này không khó, vì theo đo đạc, thống kê của Cục HKVN năm 2010, quỹ đất vẫn còn 1.150 ha (kể cả sân golf của đại gia quân đội 157 ha) đủ diện tích để xây sân bay có công suất tới 80 triệu khách/năm, ngang với cảng HK Check Lap Kok của Hongkong (Check Lap Kok rộng 1.200 ha nay đang khai thác 45 triệu khách/năm và có thể tăng lên 80-100 triệu).



Hiện nay TSN có hai đường băng nhưng do quá gần nhau nên khi khai thác chỉ tính như một với công suất tối đa 30 lần chuyến/giờ (720 chuyến/ngày - tiêu chuẩn ICAO). Hiện nay mật độ khai thác tối đa TSN mới chỉ khoảng 400 chuyến/ngày. Nếu chỉnh trang đường lăn, tăng sân đỗ, xây thêm nhà ga thì TSN có thể tăng gấp hai lần hiện tại (40 triệu khách/năm).

Sau khi TSN đến sản lượng khách 35-40 triệu khách/năm thì phải làm thêm một đường băng nữa cách đường băng cũ tối thiểu 1.035 m để có công suất 50-80 triệu khách/năm.

Nếu do bị lấn chiếm đất, TSN méo mó, thì với diện tích 1.150 ha, cắt chỗ này, bù chỗ kia cho nhà dân di chuyển thì vẫn có thể làm được hai đường băng đúng tiêu chuẩn ICAO mà không phải bồi thường đất, mà chỉ bồi thường tiền xây nhà nên số tiền sẽ không lớn. Đến đây thì tất nhiên sân golf của đại gia quân đội sẽ phải làm đúng khẩu hiệu “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh…”. Ý kiến của Cục trưởng Cục HKVN Lại Xuân Thanh “Việc xây sân golf hay không xây sân golf đều không giúp nâng công suất của TSN lên” là không khách quan.

Theo các chuyên gia HKVN, khi TSN đã lên 60-70 triệu khách/năm là có thể bão hòa, khó có thể tăng nữa do nhiều chuyến bay nước ngoài sẽ bay thẳng đến các sân bay quốc tế khác ở VN như Cần Thơ, Phú Quốc, Cam Ranh… mà không cần phải transit ở TSN như bây giờ. Hiện nay nhiều sân bay các nước phát triển trước kia đông đúc nay bị giảm khách do máy bay tăng cự ly bay và có thêm nhiều sân bay mới. Mười sân bay nhộn nhịp nhất thế giới ở những nước kinh tế phát triển hàng đầu thế giới có thời gian phát triển hàng trăm năm qua đến nay cũng chưa có sân bay nào đạt 100 triệu khách/năm như người ta gán cho sân bay Long Thành đến năm 2050 (Cảng HKQT nhộn nhịp nhất thế giới Hartsfield-Jackson ở Atlanta - Mỹ là 89,3 triệu khách/năm, thứ hai sân bay Bắc Kinh - TQ là 73,8 triệu khách/năm (nhưng nhiều năm nay hầu như không tăng nữa).

- Về ô nhiễm: Hầu hết hoạt động sân bay là gây ô nhiễm và TSN cũng vậy. Sân bay quốc tế Tokyo (Haneda) bận rộn nhất Nhật Bản, tấp nập thứ tư thế giới “nằm trong nội thành Tokyo” (ai không tin vào Google: “Sân bay Narita” sẽ nói rõ về sân bay Tokyo) và không thiếu gì các sân bay chỉ cách thành phố 10 - 20 km hoặc sát thành phố như TSN, mặc dù cự ly đó là không lý tưởng (là khoảng 30 - 35 km). Nay nếu nói TSN phải dời đi để chống ô nhiễm là không công bằng, bởi vì máy bay quân sự, sân golf còn ô nhiễm, nguy hiểm hơn máy bay dân dụng nhiều lần thì vẫn ở đó! Hơn nữa nếu TSN về Long Thành ta sẽ giảm phần ô nhiễm cho thành phố do máy bay dân dụng nhưng hàng nghìn xe cộ chở khách đi máy bay trên con đường 40 km Long Thành - TP HCM sẽ thải ra lượng ô nhiễm gấp nhiều lần nếu hàng nghìn phương tiện đó từ TSN ra, vào thành phố, tức chi phí đi lại và lượng ô nhiễm chung sẽ tăng lên. Chính một phần vì lý do này, và vì khí thải, tiếng ồn máy bay chở khách hiện nay đã giảm đáng kể, cộng với hiệu quả kinh tế, nên người Nhật mới để tồn tại các sân bay nằm trong nội thành như vậy. Dù thế, không thể phủ nhận nếu khi nước ta đã giàu có, sân bay nằm ở vị trí Long Thành và quỹ đất TSN chuyển làm các công trình phúc lợi công cộng mà TP HCM còn rất thiếu như công viên, quảng trường, sân bay thể thao, cấp cứu HK… (không gây ô nhiễm) là rất lý tưởng. Thế nhưng nếu chuyển TSN đi với cái giá cả gần vài chục tỷ đô trong khi TP vẫn bị máy bay quân sự, sân golf hành hạ về tiếng ồn, ô nhiễm nguồn nước, lượng khí thải khổng lồ từ hàng nghìn xe cộ đi lại từ Long Thành - TP HCM hơn 40 km… là thất sách không thể chấp nhận.

- Vấn đề an toàn: An toàn HK là việc đầu tiên ở bất cứ sân bay nào, ICAO đều có tiêu chuẩn rõ ràng, khi nhà chức trách HK chưa ngăn cấm, hãng HK vẫn hoạt động bình thường… thì khỏi nói. Cuối năm 2013 một số nhà dân kêu tốc mái, TV đến quay, phát tưng bừng ra vẻ máy bay bay sát sạt làm tốc mái nhà… Ai tin máy bay làm tốc mái nhà là mù tịt về HK!

Hôm đi ô tô của hãng Hải Âu từ Hà Nội về Hải Phòng, tôi tình cờ nghe được câu chuyện của hai cán bộ có vẻ là cơ quan đầu tư Hải Phòng lên trung ương họp về:

- À, thế dự án sân bay Tiên Lãng đến đâu rồi, nhiều việc không?

- Tiên với bụt gì, bãi rồi… Ngày ấy giá đất trên trời, các sếp, đại gia định đẩy Cát Bi về Tiên Lãng để lấy đất làm sân golf, khu đô thị… gì đó nên mới “gà” sếp trên duyệt dự án, bây giờ giá đất “đao” (tiếng Anh, nghĩa là xuống) nên “bai, bai”, lại tiếp tục nâng cấp Cát Bi 3.600 tỷ rồi…

Tôi giật mình, thế mà trong mọi cuộc họp bàn đến dự án Tiên Lãng, họ luôn đưa ra lý do Cát Bi quá tải, chật hẹp, ô nhiễm, không an toàn… chẳng khác gì các luận cứ cho dự án Long Thành bây giờ. Hóa ra, anh em nhà Đoàn Văn Vươn gia đình tan tác, gia sản điêu linh, bị ngồi tù, cũng chỉ vì cái giá đất, cái sân golf…



Việc mọi ý kiến nói TSN chật, ô nhiễm trong khi lại làm sân golf 157,6 ha có lẽ chỉ thuyết phục được những nhóm lợi ích sân golf, những quan chức “ngậm miệng ăn an toàn”. Hãy gõ vào chữ Long Thành, màn hình sẽ hiện ra cơ man quảng cáo: Bán đất khu đô thị dịch vụ sân bay Long Thành, Bán đất khu đô thị SBLT đợt 2, 3, Bán đất gần SBLT… Đất gần SBLT nóng lên… Nay nghe câu chuyện hai cán bộ kia tôi có cảm giác mọi chuyện về TSN, Long Thành… đã an bài, không có gì cưỡng lại được! Bởi vì nếu duy trì sân bay TSN thì không còn sân golf, đồng thời nhiều dự án vàng BĐS của đại gia, nhóm lợi ích “ở gần sân bay quốc tế Long Thành” đã duyệt, đầu tư, đã, đang bán rồi. Đặc biệt, TSN, Gia Lâm quá gần nội thành dù giá đất có “đao” thì vẫn cứ 50-60 triệu đ/m2 (Riêng sân golf TSN 157 ha trị giá 78.500 tỷ VND). Như vậy, chỉ có sân golf mới chiếm được những khối vàng 157; 117 ha...

Nói thẳng ra: Sân golf đuổi sân bay!

N.Đ.A.

Vấn đề Chấn hưng dân trí



Dân trí: Cách nào đo? Cách nào nâng?

Nguyễn Ngọc Lanh


Mấy lời phi lộ “Chấn hưng dân trí”

Vũ Cao Đàm

Các anh Nguyễn Trung và Nguyễn Huệ Chi khởi xướng lập chuyên mục “Chấn hưng dân trí” trên trang Bauxite Việt Nam và giao tôi góp mấy lời phi lộ.

Tôi vui vẻ nhận lời, vì thấy việc Bauxite Việt Nam cho ra chuyên mục này thực sự thêm một lần khẳng định ý thức xây dựng của trang báo đại diện tiếng nói của cộng đồng trí thức Việt Nam, quốc nội và hải ngoại, đang ngày ngày nóng lòng vì sự phục hưng Tổ quốc.

Tôi nói phục hưng Tổ quốc của chúng ta với tất cả sự đắn đo, thận trọng và mang đầy tinh thần trách nhiệm. Chúng ta có thể vào mạng bất cứ lúc nào, gõ những từ “nhạy cảm”, như lưu manh, trộm cắp, cướp của, con giết cha, ông hiếp cháu, trò chém thầy, công chức thuê côn đồ đâm chém đồng liêu, ... Trời ơi, những sự kiện đau lòng ấy hiện ra nhan nhản, khiến tim ta đau nhói.

Chúng ta chưa nói đến, những sự kiện bận lòng khác, đáng ra Chính quyền là nơi dân chúng nương tựa, thì nay bị dân chúng quay lưng lại, vì dân chúng không coi họ là của Dân và vì Dân nữa, mà vì quyền lực những “nhóm lợi ích” nào đấy, một cách gọi tế nhị thay cho những thứ đáng ra phải được gọi bằng những tên gọi đúng của nó, là “băng đảng”, là “ma-phia” đang bán rẻ đất, rừng, biển, tài nguyên... và những tài sản tinh thần vô giá của dân tộc, đang phá nát mọi gia phong của các dòng họ, và tệ hơn, là đang lát những con đường vàng rước quân xâm lăng giày xéo mồ mả cha ông.

Nói ra những sự thật ấy mà lòng ta vô hạn xót xa.

Không, dân tộc này không thể chết. Dân tộc này chắc chắn phải trường tồn.

Dân tộc này không thể chết, phải trường tồn, vì nó đã từng bị bức tử suốt mấy ngàn năm bởi một kẻ thù truyền kiếp. Nó đã quật cường, và đang trỗi dậy và đang chứng minh sức sống bất diệt của mình.

Viết đến đây, tôi sực nhớ đến người chí sỹ Phan Châu Trinh, một nhà cách mạng thời Việt Nam cận đại. Mang nặng trong lòng tinh thần "Tự lực khai hóa" và tư tưởng dân quyền, Phan Châu Trinh cùng với các nhà cách mạng khác, như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp Quảng Nam và các vùng lân cận để vận động công cuộc duy tân đất nước. Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” với tinh thần đấu tranh bất bạo động trước mọi thế lực cường quyền.

Hơn lúc nào hết, giờ đây chúng ta ôn lại và cổ xúy tư tưởng bất hủ này của Phan Châu Trinh là một việc làm vô cùng có ý nghĩa trước một nền văn hóa đang tụt dốc, nếu không muốn nói quá một chút, là nó đang tiến dần tới bờ vực của sự suy tàn.

Nói về “Chấn hưng dân trí”, chúng ta đang sưởi lại hơi ấm những tư tưởng sáng ngời của người chí sỹ Phan Châu Trinh.

Chấn hưng dân trí, trước hết để dân trí mở mang, để Trí của Dân ý thức được Dân là Ai, và Dân được quyền Trí cái gì.

Đơn giản chỉ có Trí của Dân, nhưng là một sự nghiệp đầy gian nan. Nhà Chí sỹ Phan Châu Trinh đã dành cả cuộc đời, nhưng đã không thành tựu, và ông đã gửi gắm lại nơi chúng ta, lớp con cháu hậu duệ của ông.

Tôi viết những dòng này, như để nhắn nhủ mình, hãy tiếp nối con đường mà Phan Châu Trinh đã bắt đầu phát quang, để hé lộ một tia le lói, như một đốm lửa đang làm bừng lên những ánh đuốc soi tỏ con đường chúng ta di.

Và xin mở đầu mục “Chấn hưng dân trí” trên BVN bằng bài viết tâm huyết của GS Nguyễn Ngọc Lanh đi vào vấn đề có thể nói là nòng cốt của chuyên mục: lý giải cách hiểu thước đo dân trí, và từ đó gợi ý những biện pháp nâng cao dân trí thế nào cho thực chất.

Hà Nội, Tháng Mười 2014.




Bước sang thế kỷ XXI, dân trí Việt Nam cao hay thấp?

Câu trả lời còn tùy hoàn cảnh. Khi cần nêu thành tựụ (ví dụ, trong Chiến Lược GD 2011-2020) thì dân trí ta rất cao. Nhưng khi cần giải thích về "những hạn chế quyền dân" thì dân trí còn thấp - chưa thể ban phát dân chủ rộng rãi.

Một bài viết trên tạp chí của Mặt trận Tổ quốc (nhan đề Vấn đề Dân trí và Dân chủ) tác giả mở đầu bằng câu: Chúng ta thường nói "dân trí đến đâu dân chủ đến đấy". Tuy chủ ngữ của câu là "chúng ta", nhưng nội dung bài cho thấy tác giả không nằm trong đó. Thật đáng kính nể.

Truy tìm, dường như danh ngôn trên được phát ra lần đầu tiên (2008) – với cả nước, cả thế giới – là từ cụ Lê Doãn Hợp – với tư cách UVTƯ đảng, Bộ trưởng TTTT – khi cụ trả lời trực tuyến trong một lần giao lưu với dân (2008). Lẽ ra, cụ chẳng cần nói "dân trí đến đâu, dân chủ đến đấy", vì nó rất ít hoặc chẳng liên quan gì tới nội dung buổi giao lưu. Hơn nữa, đây là câu quá lộ liễu, về: a) não trạng khinh dân; b) lạm quyền ban phát dân chủ. Cụ Lê Doãn Hợp còn kiêm cả đại biểu Quốc hội (đại diện dân). Chẳng lẽ, một mình cụ đóng vai cả 3 chủ thể vận hành bộ máy chính trị nước ta (đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ)? Kiểu này, tất nhiên tam quyền không phân lập.

Dân làm chủ... 70 năm lận đận

Kể từ năm 1945, từ dân chủ đã là thành tố trong quốc hiệu nước ta. Cụ Hồ đã cắt nghĩa: Dân chủ nghĩa là "dân là chủ"; vậy thì chính phủ là đầy tớ. Khi chính phủ làm hại dân, dân có quyên đuổi chính phủ. Nếu (chỉ là giả sử) có cơ chế thực thi để quyền "đuổi đầy tớ" trở thành thực quyền, lập tức dân trí sẽ tăng, dân chủ sẽ càng thực chất. Chúng sẽ hỗ trợ nhau cùng phát triển.

Khi đất nước thống nhất, cụ Lê Duẩn sáng tạo lý luận mới và ban cho dân quyền "làm chủ tập thể", gồm làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân... nhưng, nghe ra nó cứ mơ hồ thế nào ấy. Cụ Trường Chinh đã cụ thể hóa thành: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trên thực tế, chúng chỉ là những hư quyền, tuy quá đẹp. Thậm chí, ngay những vị kế tục chức vụ cụ Trường Chinh cũng không thèm nhắc lại ý cụ.

Trong dịp du học, tôi rơi vào hoàn cảnh phải dịch cái từ "làm chủ tập thể" (mà chính tôi không hiểu nội hàm) sang tiếng Pháp, Anh... khi mấy thằng tây tò mò tìm hiểu. Quả thật, "bố thằng tây" nào hiểu nổi être maitre collectif và to be collectif boss là cái quái gì.

Năm 2014, nhiều bài viết vĩ mô, ít nhiều vẫn đề cập cần cụ thể hóa cơ chế đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ. Nghĩa là nó vẫn khó "vận dụng". Chỉ xin đơn cử những bài ở vài tờ báo nặng cân nhất. Mời các quí bạn tham khảo:

- Báo điện tử đảng CSVN, ngày 11/10/2014

- Tạp Chí Cộng Sản, ngày 18/6/2014

- Báo QĐND, ngày 26/02/2014

- Tạp chí Tuyên giáo, ngày 29/10/2014

Thật khó hình dung, ông chủ cứ tha hồ "làm chủ", nhưng làm chủ dưới sự lãnh đạo và dưới sự quản lý. Thật thảm hại. Ông chủ nào cũng có đầy tớ. Tai họa là ở VN, đầy tớ lại "quản lý" ông chủ. Hễ cái gì chúng không quản nổi, chúng có quyền... cấm (!).

Chả lẽ đổi thành: Ông chủ lo kiếm sống cho cả nhà, nên giao cho đảng nhiệm vụ tham mưu và giao cho đầy tớ nhiệm vụ quản gia?... Quả thật, khó ai đủ hào hứng bàn tiếp những chuyện viển vông.

Dân trí đo bằng gì?

Nói đơn giản, dân trí là trình độ hiểu biết chung của một cộng đồng. Nhưng đo bằng gì, lại không đơn giản.

- Liệu có thể dựa vào số bằng cấp? Ví dụ, chỉ riêng bằng TS đã có tới 24 ngàn. Khốn, chưa nói về chất lượng, mà tỷ lệ quá cao (2/3) TS thời nay không làm nghiên cứu khoa học, nhiều người còn có mục đích làm quan (như TS thời Nho giáo) đã đủ thấy "hỏng".

- Hay là soạn ra bộ câu hỏi khảo sát sự hiểu biết phổ cập về khoa học, văn nghệ, pháp luật, thể thao, tôn giáo…. Tuy nhiên – tùy hoàn cảnh cá nhân – có người trả lời dễ dàng các câu về internet, luật kinh doanh, nhưng lại lúng túng về nông nghiệp, dân ca...

- Vậy, cần hỏi những gì mà bất cứ ai cũng từng được dạy trước khi trưởng thành – để làm Người và làm Công Dân. Đó là:

1) quyền con người;

2) quyền và nghĩa vụ công dân; và

3) sự vận dụng (đúng và sai) trong các hoàn cảnh.

Nếu một tỷ lệ áp đảo (2/3 hoặc 3/4) những người trong diện khảo sát (18-23 tuổi – nghĩa là đã một lần đi bầu Quốc hội) – mà trả lời được mình có quyền gì, nghĩa vụ gì... đó là dân trí cao. Thành tích giáo dục là rất lớn. Dân sẽ biết ơn đảng và tín nhiệm nhà nước. Ngược lại, là dân trí chưa cao. Dân trí sẽ bị coi là cực thấp, nếu một vị cử nhân không phân biệt nổi quyền con người với quyền công dân. Đây là nói chuyện năm 2014, chứ năm 1992 thì ngay Hiến pháp (trí tuệ) nước ta cũng chưa phân biệt nổi 2 quyền này.





Điều 50 (Hiến pháp 1992):

Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.

Ðiều 51:

Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước...
Nâng dân trí lên bằng gì?

Bằng giác ngộ mọi người về quyền mà họ phải được hưởng. Đừng đợi dân đấu tranh mới "nhả ra" các quyền đó, mà nên chủ động thực thi chúng.

- Thời nay, các thế lực thù địch không dễ sử dụng bạo lực để xâm chiếm nước ta. Một biện pháp hàng đầu của chúng là thực hiện ngu dân. Trước đây, tôi tin vào những mỹ từ hữu nghị; nay, tôi nghi ngờ thế lực thù địch đã tác động vào nhiều chính sách của ta (ví dụ Luật Chống Tham Nhũng đã coi đưa hối lộ và nhận hối lộ đều có tội ngang nhau – nghĩa là đánh đồng thủ phạm với nạn nhân). Bởi vậy, nâng cao dân trí phải được đặt lên hàng đầu.

- Cứ nhấn mạnh (cả trong Hiến pháp) "quyền đi đôi với nghĩa vụ" là cách nói hạ sách, thể hiện tâm thức không tin dân, và nói lên sự lo lắng nào đó. Điều 51 có một mệnh đề, đọc lên cứ như hai bên ký giao kèo với nhau; trong đó Chủ - Tớ cứ lộn tùng phèo. Ngược lại, nếu quan niệm rằng một chế độ thật tâm muốn người dân có mọi quyền (ông chủ), người dân sẽ hết lòng vun đắp và bảo vệ chế độ đó – nó sẽ vững như bàn thạch – vì đây là chế độ thật sự tiên tiến, vì dân, phù hợp với thời đại.

- Người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ, nhà nước sẽ khỏi mất công "cải cách hành chính", "cải cách tư pháp"... đang rối như mớ bòng bong. Tham nhũng sẽ giảm đến tối thiểu. Quốc hội sẽ "ra quốc hội", Chính phủ cũng "ra chính phủ"... Quá trình 40 năm Việt Nam chống đỡ với áp lực quốc tế về nhân quyền cũng sẽ chấm dứt tức khắc. Hòa giải nội bộ dân tộc sẽ xong cái "rụp"... Nước mắt mừng rỡ sẽ tuôn gấp ngàn lần nước mắt đau khổ ngày xưa...

N.N.L

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Phóng sự: “Việt Nam nhìn từ bên trong” của G. Márquez, viết sau chuyến thăm Việt Nam tháng 7-1979


Nhà văn Triệu Xuân: Cách nay bốn năm, khi làm tư liệu để chuẩn bị tái bản một số tiểu thuyết danh tiếng của Gabriel Garcia Marquez, Nobel Văn học 1982, tôi đọc được thông tin sau: "Nhà văn Gabriel Garcia Marquez cùng với vợ và hai người con trai đã đến thăm Việt Nam vào giữa tháng 7/1979. Trong gần một tháng ở Việt Nam, ông đã đi thăm nhiều nơi, gặp gỡ nhiều giới chức và người dân ở các địa phương tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu. Tại Hà Nội ông tiếp xúc với Hội Nhà văn Việt Nam, làm việc với Bộ ngoại giao và được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp và nói chuyện thân tình. Sau chuyến đi ấy, trở về Mexico, nơi ông định cư từ đầu những năm 60 thế kỷ trước, Marquez đã viết thiên phóng sự dài "Việt Nam nhìn từ bên trong" (Vietnam por dentro) đăng trên báo Proceso. Bài phóng sự đó của Marquez viết về tình hình Việt Nam thời kỳ sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là thời gian mà Việt Nam gặp nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội, chuyện về người ra đi bằng thuyền đang là vấn đề nổi cộm trên truyền thông quốc tế lúc đó. Nhưng Marquez, vốn là một nhà báo bậc thầy giàu kinh nghiệm, nên ông có cách tiếp cận và xử lý thông tin một cách khách quan và cân bằng đối với đề tài nhạy cảm ấy. Sau khi thăm miền Nam, trở về Hà Nội, ông đã có buổi gặp gỡ với đại diện Hội Nhà văn Việt Nam và báo Văn nghệ tại Nhà khách Chính phủ ở số 2, phố Lê Thạch. Nhà văn Đào Vũ, Tổng Biên tập báo Văn nghệ và nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú có mặt trong buổi nói chuyện ấy. Tôi đến đó với tư cách phóng viên của Ban biên tập tin Đối ngoại thuộc TTXVN để đưa tin về hoạt động của ông ở Việt Nam.

Vào thời điểm đó, Marquez đã là nhà văn có tên tuổi với những tác phẩm được thế giới biết đến như "Mùa lá rụng" (La hojarasca-1955), "Ngài đại tá chờ thư" (El coronel no tiene quien le escriba-1957), "Giờ xấu" (La mala hora-1961), "Trăm năm cô đơn" (Cien años de soledad-1967), "Mùa Thu của trưởng lão" (El otoño del partriarca-1975). Tuy vậy ở Việt Nam lúc bấy giờ, hình như ngay cả các nhà văn cũng chưa ai đọc và hiểu được tầm vóc của người sẽ nhận giải Nobel văn chương ba năm sau đó (1982)". Đoạn trích trên đây là của nhà báo Phạm Đình Lợi, nguyên phóng viên đối ngoại của TTX Việt Nam.

Chuyến thăm Việt Nam năm 1979 của một nhà văn lớn, thế mà không lưu lại dấu vết nào trên các phương tiện truyền thông đại chúng của Việt Nam? Thậm chí, một nhà báo của TTXVN, thạo tiếng Spanish, được dự buổi làm việc tại Hội Nhà văn, cũng không có máy ảnh để ghi lại vài tấm ảnh lưu niệm. Thật tiếc! Đúng là chuyện buồn không thể tin được... như tên một truyện ngắn của G. Márquez!

Tôi đã đăng trên website chuyên về Văn Chương Nghệ thuật www.trieuxuan.info bài: Đi tìm dấu vết chuyến thăm Việt Nam tháng 7-1979 của G. Marquez; đồng thời, tôi gửi email cho bạn bè đang sống, làm việc ở các nước như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Tâybannha, Hàlan, Bỉ, Đức, Italia… ra sức tìm bài Vietnam por dentro: "Việt Nam nhìn từ bên trong", phóng sự của G. Marquez viết sau khi đi Việt Nam về. Nhưng… vô vọng! Tôi chỉ tìm được đoạn giới thiệu trên báo bằng tiếng Spanish: Vietnam por dentro. La Redacción. 1979-12-22 01:00:00· COMENTARIOS DESACTIVADOS. Edicion Mexico.

Mãi đến khi tôi thực hiện chuyến du khảo Anh Quốc và Scotland tháng 6-2014, tôi mới được Trần Lê Quỳnh ở BBC London cung cấp cho bài báo nói trên in trên tờ Rolling Stone của Anh ngày 29-05-1980 dưới tựa đề: The Vietnam Wars. Bản tiếng Anh dịch từ tiếng Spanish của Gregory Rabassa. Về nước, tôi đã cho dịch ngay bài báo này. Dù chỉ là một phóng sự viết sau một tháng ở Việt Nam, G.Marquéz đã chứng tỏ ông là một nhà văn lớn, tầm cỡ thế giới khi nhận ra bản chất của tình hình Việt Nam sau chiến tranh, đặc biệt là sau cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc tháng 2-1979. Đây là toàn văn phóng sự: Việt Nam nhìn từ bên trong của G.Márquez. Bản dịch của Phạm Mạnh Hào.

Chân thành cám ơn nhà báo, nhạc sỹ Trần Lê Quỳnh đã giúp tôi tìm được thiên phóng sự Việt Nam nhìn từ bên trong của nhà tiểu thuyết lừng danh mà tôi rất yêu thích!

Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, giới thiệu



Việt Nam nhìn từ bên trong


García Márquez

Đấu tranh để giành lại đất nước bị tàn phá, Việt Nam lại phải đối mặt với một Trung Quốc thù địch và sự đe dọa từ kẻ thù ở bên trong.

Loại thuốc đắt nhất ở Việt Nam hồi tháng 8 năm ngoái là thuốc chống say sóng. Các hiệu thuốc bình thường bán hơn 1 USD cho vỉ 12 viên đã hết sạch loại thuốc này và chúng bắt đầu xuất hiện trên thị trường chợ đen với giá 5 USD một vỉ. Mặc dù thế, chúng vẫn không phải là thứ thiết yếu đắt nhất hay khó tìm được nhất để bỏ trốn khỏi Việt Nam trên một chiếc tàu bất hợp pháp. Tại thành phố Hồ Chí Minh – hay Sài Gòn trước đây – bất cứ ai muốn đi vào bất cứ lúc nào chỉ cần có đủ tiền để mua suất và sẵn sàng đối mặt với rủi ro lớn.

Phần dễ nhất trong kế hoạch là liên hệ với những người tổ chức. Trong nhiều ngõ hẻm của khu Chợ Lớn, nơi mà bất cứ thứ gì trên thế giới đều có thể mua bán được bằng tiền, thứ duy nhất miễn phí là thông tin về các thuyền bí mật. Tiền phải được thanh toán ngay, bằng vàng và tỷ lệ quy đổi dựa theo độ tuổi, thời gian và nơi đến. Trẻ em dưới 5 tuổi không phải trả gì cả. Đối với trẻ từ 6 đến 16 tuổi, để bắt đầu chuyến đi, giá là 3,5 ounce vàng. Đối với người từ 19 tuổi đến 99 tuổi, giá là 6 ounce vàng. Ngoài ra họ còn phải hối lộ 5 ounce vàng cho các quan chức cung cấp giấy thông hành giả di chuyển trong nước.

Tình hình ở thành phố Hồ Chí Minh lúc đó, cũng như trên toàn miền Nam sau thống nhất, là hỗn loạn. Số Hoa kiều, con số khoảng trên 1 triệu người, đều trong tâm trạng hoảng sợ bởi vì mối đe dọa về một cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Những người thuộc chế độ cũ và giai cấp tư sản từng mất hết mọi đặc quyền vì thay đổi xã hội chẳng còn muốn gì hơn là trốn đi với bất cứ giá nào. Chỉ những ai có bản lĩnh chính trị vững vàng và số này là không nhiều trong một thành phố đã bị Mỹ chiếm đóng nhiều năm, là ở lại. Còn đa phần sẵn sàng trốn đi ngay cả khi không biết số phận của họ ra sao.

Dĩ nhiên thì một cuộc tháo chạy quy mô như vậy không thể diễn ra nếu không có một tổ chức lớn với những mối liên hệ từ bên ngoài. Và dĩ nhiên, không thiếu sự đồng lõa của nhiều quan chức. Cả hai điều này ở miền Nam là dễ dàng, nơi cánh tay quyền lực của nhân dân chưa thể ngăn chặn thành công những tàn dư từ chế độ cũ. Những người giỏi nhất thì đã bị giết hại trong Chiến dịch Phượng Hoàng và miền Bắc lúc đó chưa đủ điều kiện để bổ sung lượng nhân lực đang rất thiếu này.

Tuyến đường trong các cuộc di tản, càng xa càng tốt, ban đầu được 5 tổ chức chính tiến hành ở những cảng cá phía cực nam và Đồng bằng sông Cửu Long, nơi công an rất khó kiểm soát. Những tay môi giới liên hệ với khách đi trước đó đưa họ lên những bãi biển có tàu neo đâu. Ngoài giấy thông hành giả, nhiều người không mang theo hành lý gì ngoài quần áo đang mặc và ít thuốc chống say sóng. Nhưng phần lớn họ đều đi theo gia đình và tài sản của họ là những thỏi vàng, viên đá quý.

Chuyến đi tới các cảng cá bí mật đều xa và nguy hiểm, đặc biệt cho trẻ em, và chẳng có gì là đảm bảo thành công nếu như họ bị quân đội bắt giữ hoặc tệ hơn cả là những tên cướp đường.

Nhìn chung, tàu di tản đều là những thuyền đánh cá (bằng gỗ) chỉ dài khoảng 24m. Sức chứa tối đa của chúng là 100 người nhưng các thuyền đều có trên 300 người, giống như con cá sardine bị lèn trong hộp. Phần lớn là trẻ em em dưới 12 tuổi. Nhiều người may mắn tránh được lực lượng tuần tra, thời tiết xấu và thậm chí là bão, nhưng không một ai có thể thoát khỏi các vụ tấn công của cướp biển ở biển Đông.

Đó là một thực tế tàn khốc và cấp bách, và nó không chỉ nhận được sự quan tâm của các tổ chức nhân quyền mà còn cả thế giới. Nhưng những vấn đề chính trị do Mỹ tạo ra càng làm vấn đề thêm rối rắm và việc tìm giải pháp cho thuyền nhân Việt Nam lúc đó là không thể.

Làn sóng di tản bắt đầu vào tháng 4 năm 1975 khi Mỹ kết thúc sự hiện diện tại Việt Nam và bỏ mặc đồng minh không còn được che chở - bất chấp lời hứa sẽ đưa đi gần 250.000 người. Quân đội và lực lượng cảnh sát chế độ cũ, những điệp viên và đao phủ, cũng như những kẻ giết người trong chiến dịch Phượng Hoàng, đã chạy khỏi đất nước.

Tuy nhiên, vấn đề nghiêm trọng nhất mà Việt Nam đối mặt sau giải phỏng không phải những tội phạm chiến tranh mà là lực lượng tư sản của miền Nam. Phần lớn lực lượng này là Hoa kiều. Trong số 1,5 triệu người Hoa sinh sống ở Việt Nam trong chiến tranh, hơn 1 triệu người tập trung ở Chợ Lớn. Chợ Lớn có nghĩa là chợ to và vì thế, cái tên này không có gì là ngẫu nhiên cả. Đó là một vùng riêng của chủ nghĩa tư bản giàu có giữa một trong những đất nước nghèo khổ nhất thế giới, với mọi hoạt động tiêu pha chỉ diễn ra về đêm và ở mọi trò giải trí. Tại đây có những sòng bài, ổ thuốc phiện, các nhà thổ - sau giải phóng thì tất cả đều bị cấm.

Nhiều thương nhân giàu có cố thoát đi cùng với số tài sản của họ trong những ngày đầu giải phóng hỗn loạn nhưng đa phần vẫn ở lại Chợ Lớn, làm giàu bằng cách buôn bán những hàng thiết yếu. Tại khu vực này gần như độc quyền về vàng, kim cương và ngoại tệ, và hầu hết những mặt hàng nhập khẩu mà người Mỹ để lại đã biến mất khỏi Chợ Lớn. Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi thu mua toàn bộ lúa thu hoạch. Lương thực về sau xuất hiện trên chợ đen, giá cao như kim cương. Trong khi những người Việt Nam còn lại trải qua tình trạng thiếu lương thực, ở khu vực của người Hoa, mọi người có thể kiếm bất cứ thứ gì cho cuộc sống dễ chịu và biến Sài Gòn giống như một thiên đường nhân tạo trong thời kỳ chiến tranh.

Đến tháng 3 năm 1978, gần như mọi trao đổi vàng và ngoại tệ ở Việt Nam đều nằm ở quận Babylonic -tức vùng Chợ Lớn, và chính phủ cuối cùng quyết định chấm dứt sự vô lý này. Đầu năm 1978, quân đội và công an đã phá hủy một số lượng lớn mạng lưới đầu cơ tích trữ và nhà nước nắm giữ buôn bán lương thực. Không quyết định khởi tố nào được đưa ra nhằm chống lại những kẻ đầu cơ, thay vào đó chính quyền trả tiền cho số hàng của họ.

Mặc dù thế, nhiều người vẫn muốn trốn đi và việc người Hoa bị xem là tư sản, là Trung Quốc, càng dễ tạo điều kiện thuận lợi cho những kẻ thù của Việt Nam xuyên tạc hiểm độc, nguyên nhân là vì vấn đề giai cấp và không cùng giống nòi. Cho đến thời điểm này, con số trung bình các chuyến vượt biên bất hợp pháp là 5000 người mỗi tháng, trong đó có nhiều người Việt Nam và người gốc Trung Quốc. Sau khi cải tạo công thương nghiệp tư doanh, quốc hữu hóa, số người di tản bắt đầu tăng. Cùng thời, số người Hoa trốn đi cũng tăng. Đến cuối năm 1978, 20.000 người đã di tản. Cuối cùng, chiến tranh với Trung Quốc vào tháng 2 năm 1979 nổ ra, sự thôi thúc ra đi đã trở thành cơn hoảng sợ.

Trong mớ hỗn độn đó, số cuộc ra đi trái phép bằng thuyền từ Việt Nam đã đạt tới con số 13.400 người vào tháng 3, 26.600 trong tháng 4, 51.100 người trong tháng 5 và 54.900 người trong tháng 6. Đến tháng 7-1979 thì thuốc chống say sóng hết sạch. Vào thời điểm đó, 164.550 người đã đến những nước láng giềng, chủ yếu Thái Lan, Hong Kong và Indonesia. Có bao nhiêu người chết trên biển không ai biết rõ, một phần vì cũng chẳng ai biết được đã có bao nhiêu người rời Việt Nam.

Trong khoảng thời gian này, chiến dịch truyền thông chống lại Việt Nam đã đạt tới tầm cỡ một scandal thế giới, dựa trên giả thuyết rằng chính phủ đã trục xuất kẻ thù của họ và buộc họ lên những chiếc thuyền đánh cá nguy hiểm. Thực ra, Việt Nam đã đạt được một thỏa thuận với Cao ủy Liên hiệp quốc về những cuộc ra đi có sắp xếp. Một trong những điều kiện của Liên hiệp quốc là yêu cầu visa cư trú ở nước nhập cảnh và đây là một giải pháp quan liêu trong tình thế cấp bách vào lúc đó. Bởi vậy, khi những yêu cầu này là vô vọng, cách tốt nhất để ra đi là ra đi bất hợp pháp.

Tôi đã qua Hong Kong vào cuối tháng 6. Tình hình Biển Đông lúc này đang sôi sục. Chính phủ Malaysia thông báo ý định của họ là sử dụng vũ lực ngăn cản tàu thuyền xâm phạm lãnh hải của nước này. Vùng biển của Singapore cũng được tuần tra gắt gao. Một khách du lịch trên chiếc phà tới Macao chỉ để ngắm nhìn đường phố cho nguôi nỗi nhớ Bồ Đào Nha có đi ngang qua những con đường ở chỗ nước đọng của vịnh và đã nhìn thấy nhiều con tàu đầy người hấp hối mà hải quân Anh lai dắt về Hong Kong. Chính quyền Thái Lan thì tuyên bố nước này tràn ngập làn sóng người di tản từ khắp nơi vượt qua biên giới. Bangkok trở thành trung tâm tin tức của thế giới và hành lang của các khách sạn chật cứng phóng viên cùng máy ảnh và thiết bị truyền hình.

Theo thống kê của Liên hiệp quốc, có 140.297 người di tản ở đó: 116.422 từ Lào, 12.595 từ Campuchia và chỉ có 11.277 từ Việt Nam. Tuy nhiên, báo chí Thái Lan đã đưa tin không chính xác khi cho rằng số người di tản này đều từ Việt Nam và rằng, chính phủ Việt Nam nhận khoản phí chính thức vào khoảng 4.000 USD để người di tản được phép ra đi. Sau tháng 2-1979, khi làn sóng di tản lên đến đỉnh điểm, báo giới đưa tin Hoa kiều bị ngược đãi tồi tệ nhằm trả đũa cho sự xâm lược của Trung Quốc. Những bức ảnh kinh hoàng được công bố; những người bị đắm tàu trôi dạt vào bờ giống như những người di tản từ một trại tập trung. Chúng đều thật: sau nhiều tuần trôi dạt, đói khát, bị cướp biển cướp bóc, những triệu phú của Chợ Lớn đã trở nên nghèo đói như bất cứ người Trung Quốc nào.

Tôi đến Việt Nam chỉ với mục đích là mắt thấy tai nghe, ngay cả vậy thì bản thân tôi cũng thấy rằng, sự thật nằm giữa những thông tin trái ngược nhau. Tuy nhiên thì câu chuyện của người di tản, gần gũi đến thế và thương tâm đến thế, đã trở thành mối quan tâm thứ hai bởi mối quan tâm hàng đầu của tôi là thực tế đáng sợ của đất nước này.

Điều làm tôi ấn tượng nhất ngay từ đầu là sự tàn phá vẫn còn hiện hữu dù cuộc chiến tranh chống Mỹ đã kết thúc cách đó 4 năm. Người Việt Nam không có cả thời gian để quét nhà của họ. Những sân bay dân dụng ngập đầy xác máy bay ném bom và trực thăng. Tất cả những cỗ máy chết người đó đều bị bỏ lại trong cuộc tháo chạy cuối cùng. Từ những con đường cao tốc vắng lặng, người ta có thể nhìn thấy tro tàn của các thị trấn bị bom napalm tàn phá và vùng đất không một bóng người trước đây từng là một cánh rừng, giờ đã trở nên cằn cỗi vì chất độc hóa học. Những con kênh tưới tiêu đan xen tạo nên hình ảnh của một chiếc bàn cờ nhìn từ trên cao giờ không còn tác dụng nữa. Những con sông hiền hòa, bao la mà từ tháng 7 đã đón nhiều cơn mưa lớn giờ chỉ có thể băng qua bằng cầu phà hay những thân cây lớn ghép lại khi toàn bộ các cây cầu lịch sử từ thời Pháp bị phá hủy. Có lẽ, cầu Long Biên là chứng tích duy nhất còn sót lại. Nó đã hứng chịu một số trận bom và được tu sửa lại ngay vì là con đường duy nhất tới Hà Nội từ cửa ngõ phía bắc. Cầu làm bằng thép nên có thể phục hồi và sửa chữa, mang lại cho người ta cảm giác đây là tháp Eiffel nằm bắc ngang qua dòng sông Hồng.

Một cách nào đó thì chiến tranh chưa chấm dứt. Hàng tấn mìn và bom không nổ vẫn còn nằm rải rác khắp đất nước. Không lời cảnh báo, một quả mìn sau bốn năm nằm lại sẽ để lại nhiều hậu quả thương tâm cho những người phụ nữ đang làm đồng khi nước ngập đến hông họ. Trong một trường học, một quả bom dưới lòng đất có thể mang đến cái chết cho nhiều trẻ em ở giờ ra chơi. Một con trâu chạy lung tung và động vào bãi bom, bãi mìn có thể tạo ra những vụ nổ thổi bay cả một ngôi làng. Chỉ tính trong một tỉnh đã có hàng nghìn người thiệt mạng theo cách này sau khi chiến tranh kết thúc.

Người Việt Nam ước tính Mỹ đã thả xuống 14,5 triệu tấn bom trên đất nước của họ, một con số cao gấp nhiều lần số bom thả xuống trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đó là đòn trừng phạt tàn bạo nhất mà một đất nước phải chịu đựng trong lịch sử loài người. Để ngăn chặn quân du kích Việt Nam trốn trong rừng sâu, máy bay Mỹ đã thả xuống hàng nghìn tấn chất độc da cam và bom cháy khiến 3,33 triệu ha đất cằn cỗi, có lẽ là mãi mãi, và phá hủy hoặc làm hỏng hàng nghìn ngôi làng. Mạng lưới đường sắt quốc gia bị phá hủy, hệ thống tưới tiêu và thoát nước vô hiệu, 1,5 triệu con bò và trâu bị giết, hàng trăm nghìn ha đất nông nghiệp bị tàn phá. Không ngôi trường và bệnh viện nào còn nguyên vẹn.

Không bao lâu sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam còn phải nhận thêm hai tai họa khác: nạn hạn hán năm 1977 khiến mùa màng mất mùa, sau đó là lũ lụt và bão. Nói một cách văn chương thì Chúa đã hoàn tất cơn hủy diệt mà người Mỹ chưa hoàn thành. Hậu quả khiến đất nước kiệt quệ và 53 triệu người sống trong cảnh nghèo khổ.

Nhìn bề ngoài thì ai cũng có thể thấy được biến động lớn đó. Tuy vậy thì những thiệt hại về vật chất không lớn hay không thể khắc phục được lại là sự rối loạn về tinh thần. Có lẽ đây là khác biệt lớn nhất giữa các tỉnh thành phía bắc, theo chủ nghĩa xã hội hơn 20 năm và miền nam mới được giải phóng được một vài năm. Mặc dù thống nhất nhưng thực tế miền bắc và miền nam giống như hai quốc gia hoàn toàn khác nhau.

Hà Nội dường như chẳng thay đổi gì nhiều kể từ thời Pháp thuộc. Trong tháng 7 oi bức khi tôi còn ở đây, thủ đô của Việt Nam là một thành phố hòa bình và khiến tất cả có cảm giác thời gian luôn dừng ở con số bốn giờ chiều. Mặc dù độ ẩm và không khí ngột ngạt, người ta không cảm thấy họ ở một đất nước nhiệt đới. Ngồi bên những hồ nước thơ mộng, dưới những hàng cây cổ thụ, cuộc sống tại Hà Nội trôi qua lặng lẽ như cuộc sống ở một vùng nông thôn của Pháp. Từ sáng sớm, một nửa trong số gần 2 triệu người dân ra đường bằng xe đạp, vội vã theo một trật tự tự nhiên và không gian chỉ bị khuấy động bởi những chiếc ô tô khiến tất cả phải chú ý mang biển ngoại giao. Xe công vụ có rất ít và quan chức chính phủ, thậm chí một số bộ trưởng, cũng phải đi trên những chiếc xe đạp với một sự khiêm tốn và cảm giác về bình đẳng xã hội khó mà tưởng tượng được.

Sau 6 giờ chiều, thành phố sẽ chìm vào một không gian yên tĩnh. Các gia đình đi ngủ sau những ô cửa tối tăm, một số bởi vì họ đã chạy trốn khỏi đất nước vì lo sợ một cuộc chiến tranh với Trung Quốc và không có nhà, số khác bởi vì họ không thể chịu được cái nóng bên trong những ngôi nhà chật ních người. Truyền hình bắt đầu vào lúc 7 giờ: 4 giờ cho các chương trình chính thức, phim tài liệu yêu nước và phim truyện từ các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy thì chỉ có những trận đấu bóng đá mới thay đổi được tính thản nhiên của người Việt Nam và khuấy động đam mê ở họ.

Vào lúc 8 giờ, trong sự im lặng hoàn toàn, người ta có thể nghe thấy tiếng đàn tranh xa xôi đầy bồi hồi. Chỉ có những địa điểm còn mở cửa là các khách sạn cũ từ thời Pháp và một số cửa hàng ăn uống kê được bốn cái bàn nhỏ xíu, nơi chủ quán ngồi chồm chỗm chuẩn bị một ly café lạ với muối và vài quả trứng luộc.

Cách 1126km về phía nam, thành phố Hồ Chí Minh không ngủ cả đêm, giống như sấm rền liên tục. Đó là một thành phố lớn, năng động và nguy hiểm, với gần 4 triệu dân, những người lang thang trên phố nhiều giờ liền bởi vì họ chẳng có gì để làm. Trái với Hà Nội, đây là một cảng miền nam, nơi cuộc sống luôn trong tình trạng hốt hoảng vì người đi xe đạp vô ý trên phố, tiếng động cơ xe máy không thể chịu nổi và tiếng còi ô tô đang cố len lỏi trên con đường đầy người. Chính cảm giác này đã khiến nhà văn Graham Greene tự hỏi Chúa ở đâu trong thành phố quỷ quái này, còn tôi tự hỏi chính phủ có vai trò gì. Thị trường chợ đen bùng phát khắp mọi nơi. Thuốc lá Mỹ, sôcôla Anh và nước hoa Pháp được bày bán đầy trên những chiếc bàn nhỏ khập khiễng ven đường.

Vào chiều tối, thanh niên Sài Gòn tập trung ở quảng trường, ăn mặc theo phong cách Mỹ, nghe nhạc rock và mơ về một thời quá khứ đã trôi qua mãi mãi. Không như các cô gái miền bắc giản dị, nhiều cô gái miền nam biết làm đẹp cho mình bằng phong cách châu Âu. Họ thích nước da sáng, ngay cả khi ăn vận theo phương Đông, và họ biết tán tỉnh là như thế nào. Dưới thời Mỹ chiếm đóng, thành phố không còn giữ được bản sắc văn hóa của mình, trở thành một thiên đường nhân tạo được bao bọc bởi quân đội và sự trợ giúp của Mỹ, của hàng tấn đồ tiếp tế. Người dân cuối cùng tin rằng đây là cuộc sống. Vì thế, chiến tranh kết thúc khiến họ trở nên lạc lõng và xa rời thực tế, để rồi 4 năm sau khi người Mỹ cuối cùng rút đi, họ không thể gượng dậy được.

Cái giá cho sự cuồng nhiệt này là hết sức kinh ngạc: 360.000 người tàn tật, 1 triệu quả phụ, 500.000 gái điếm, 500.000 con nghiện ma túy, 1 triệu người mắc bệnh lao và hơn 1 triệu lính thuộc chế độ cũ, tất cả đều không thể phục hồi trong xã hội mới. Khoảng 10% dân số thành phố Hồ Chí Minh bị mắc bệnh hoa liễu nặng khi chiến tranh kết thúc và có 4 triệu người mù chữ khắp miền nam.

Vì thế, không có gì lạ nếu tìm thấy trên những con phố nhiều trẻ em lang thang phạm tội. Chúng tự gọi chúng là Hạt bụi cuộc đời (Bụi đời), và xăm những biểu tượng khó hiểu trên cánh tay, ngực và bàn tay: MAMA IS SUFFERING A LOT FOR ME, PAPA COME HOME, THE ONES WHO LOVE ME CAN'T FIND ME (Mẹ đang chịu nhiều khổ đau vì con, bố về nhà, những người yêu con không thể tìm thấy con).

Và cũng không lạ nếu thấy giữa một nhóm người phương Đông xuất hiện những trẻ em với mái tóc nâu vàng, mắt xanh, mũi lõ, da đen, những đứa trẻ sinh ra từ chiến tranh.

Những nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh của Việt Nam bắt đầu ngay sau ngày giải phóng. Ngay khi đất nước thống nhất, việc cải cách hành chính, chính trị và xã hội miền nam bắt đầu được tiến hành. Hệ thống nông nghiệp và giao thông được xây dựng lại nhanh nhất có thể, và nỗ lực cao nhất nhằm đưa miền nam ổn định trật tự.

Một hệ thống trường cấp tốc được thành lập. Y tế xã hội hóa phòng bệnh được tổ chức và quá trình giáo dục gái mại dâm hoàn lương (phục hồi nhân phẩm), trẻ mồ côi và người nghiện bắt đầu diễn ra. Những tội phạm chiến tranh được thử thách và nhiều người đã bị tử hình. Số khác được đưa vào trại cải tạo hoặc ngồi tù. Không có cuộc tắm máu nào cả như phía Mỹ dự đoán. Trái lại, Việt Nam đã nỗ lực giúp quân nhân chế độ cũ và giới tư sản không kinh doanh hòa nhập với xã hội mới. Nhiều việc làm mới được tạo ra để giải quyết công việc cho hơn 3 triệu người thất nghiệp.

Mặc dù thế, nhiều khó khăn lớn và cấp bách vẫn tồn tại với người Việt Nam, bất chấp mọi nỗ lực, sự kiên nhẫn và hy sinh của họ. Sự thật là đất nước thiếu nguồn lực để có thể giải quyết một thảm họa lớn và nhiều vấn đề như vậy. Chiến dịch Phượng Hoàng đã lấy đi của miền nam nhiều nhân tài và thay thế bằng một bộ máy tham nhũng của chế độ cũ. Hơn nữa, tổng thống lúc đó, Gerald Ford, đã không thực hiện lời hứa của nước Mỹ đưa ra trong các thỏa thuận Paris năm 1973 là bồi thường chiến tranh cho Việt Nam hơn 3 tỷ USD trong vòng hơn 5 năm. Chưa kể chính quyền Carter cản trở những nỗ lực của Việt Nam nhằm nhận được cứu trợ của quốc tế.

Đó là thực tế thường ngày mà Việt Nam phải đối mặt vào tháng 8 năm 1979, trong khi báo chí phương Tây kêu ca về số phận của người di tản. Mặc dù thế, ấn tượng tôi có được sau một chuyến đi chu đáo và cẩn thận trong gần một tháng trong nước về nỗi lo lớn nhất của người Việt Nam không phải là các vấn đề về kinh tế và xã hội mà là nguy cơ một cuộc chiến tranh mới với Trung Quốc. Đó là nỗi ám ảnh quốc gia, đến mức thấm nhiễm vào cuộc sống hằng ngày của người dân. Tại sân bay ở Hà Nội, nhiều chuyến bay thường lệ đã bị hoãn lại vài giờ vì bầu trời tràn ngập máy bay MIG diễn tập. Xe đạp và trâu phải nhường đường cho xe tăng. Ở những khu vui chơi vào ngày chủ nhật, giữa đám trẻ con, chim sơn ca và mùi hương hoa, một thế hệ thanh niên đã cảm nhận được tình trạng báo động chiến tranh khẩn cấp. Còn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nông dân đi ngủ với vũ khí để bên cạnh người.

Ở biên giới, tình hình còn căng thẳng hơn. Người Việt Nam cho rằng 160.000 người Trung Quốc sống tại đây đã băng qua biên giới trước cuộc xâm lăng và rằng nhiều người đã xâm nhập trở lại Việt Nam nhằm lấy tin tức. Lo sợ mỗi người Hoa là một gián điệp, người Việt Nam đẩy họ ra xa mình. Khi cuộc chiến kết thúc, họ buộc họ phải quyết định giữa việc chọn Việt Nam, sống xa biên giới hoặc rời đất nước.

Nguy cơ về một cuộc chiến tranh với Trung Quốc đã ăn sâu vào nhận thức xã hội của người Việt Nam đến mức như thể những năm kháng chiến đã tạo nên cho họ một thứ văn hóa chiến tranh. Nó có thể được thấy ở mọi khía cạnh của cuộc sống thường ngày, thậm chí trong nghệ thuật và tình yêu. Ở những trại trẻ mồ côi tại miền nam, trẻ em chào đón khách đến thăm bằng những kiểu chào quân đội, hát những bài ca yêu nước…. Trong các viện bảo tàng, nhiều tác phẩm ra đời từ nguồn cảm hứng chiến tranh, ca ngợi sự dũng cảm và hy sinh. Trong những lễ hội văn hóa, các cô gái xinh đẹp chơi đàn tranh hát những bài hát nói về người lính hy sinh cho tự do. Tiểu thuyết và thơ cũng được viết ra từ những người đã từng đi qua chiến tranh.

Mặc dù vậy, điều làm tôi ngạc nhiên nhất ở người Việt Nam là sự bình thản. Họ luôn có vẻ hạnh phúc, lạc quan và hài hước. "Chúng tôi là những người Latin của châu Á”, một quan chức đã nói như vậy với tôi. Có một lần, một người phiên dịch dịch một câu chuyện kinh sợ cho tôi, trong khi khuôn mặt người đàn ông kể chuyện luôn hiện lên một nụ cười. Tôi phản đối người phiên dịch: "Không thể có chuyện anh ấy nói ra những điều kinh khủng như thế với một khuôn mặt hạnh phúc được”. Thực tế là như vậy và thực tế đã xảy ra như thế. Thậm chí mối quan hệ với Trung Quốc cũng không làm thay đổi được sự bình thản của người Việt Nam. Nhưng sự thực thì họ cũng chẳng nghĩ về một điều gì khác.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng căng thẳng xã hội có một lý lẽ lịch sử. Nhà lãnh đạo già, thật khó tin là ở tuổi 74 ông vẫn mạnh khỏe và minh mẫn như vậy, tiếp đón tôi và gia đình tôi vào lúc 6 giờ sáng, một cái giờ mà phần lớn các nguyên thủ đều chưa dậy. Đó là một cuộc trò chuyện dài, theo phong cách Việt Nam, vừa khiêm tốn, vừa trang trọng và rồi cuối cùng chúng tôi bàn về chủ đề một cuộc chiến tranh mới với Trung Quốc. Tôi hỏi thủ tướng một cách thành thật liệu căng thẳng khó cưỡng lại về một cuộc chiến sắp xảy ra đã được chính phủ phát động nhằm giữ vững tinh thần dân tộc ở trong trạng thái đề cao lâu dài hay liệu nguy cơ về một cuộc xâm lược khác của Trung Quốc thực sự đã tồn tại. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trả lời tôi: "Đấy là một mối lo đã tồn tại từ hàng nghìn năm”. Và ông kết thúc bằng một câu tiếng Pháp uy nghiêm: "C'est un rêve imperial fou”. - "Đó là một giấc mơ đế quốc điên rồ”.

Xuân Thủy, chủ tịch ủy ban các vấn đề đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam nói rõ hơn về khía cạnh lịch sử. Trong căn nhà của ông ở Hà Nội vào một buổi chiều mưa gió, ông giải thích cho tôi rằng, Trung Quốc đã xâm chiếm Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước và mâu thuẫn mới nảy sinh trong thập niên 60. Trong giai đoạn đó, Xuân Thủy nói với tôi, "Trung Quốc có đề nghị Việt Nam về một cuộc họp với các đảng Cộng sản khác nhằm tạo ra một liên minh chống Liên Xô”. Xuân Thủy cho rằng, lời từ chối khi đấy của Việt Nam là mâu thuẫn nghiêm trọng đầu tiên trong mối quan hệ hiện tại giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Tôi hỏi Xuân Thủy giải thích tại sao Trung Quốc lại giúp Việt Nam chống Mỹ. "Trung Quốc đã giúp đỡ chúng tôi”, ông nói, "bởi vì đó là cách bảo vệ biên giới của họ cũng đang bị Mỹ đe dọa. Nhưng ngay khi hai nước này (Trung – Mỹ) đạt được một thỏa thuận, thái độ của Trung Quốc với Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn”.

Sau chuyến thăm của Nixon tới Bắc Kinh vào tháng 2 năm 1972, Hà Nội trở thành mục tiêu của những đợt ném bom tàn khốc. Xuân Thủy tin rằng chiến dịch ném bom này là kết quả của một thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc.

Thậm chí hành động quân sự của Việt Nam tại Campuchia chỉ là một phần trong chiến tranh ngàn xưa. Xuân Thủy cho là quân đội Trung Quốc đã chiếm giữ một số tỉnh của Campuchia với sự cho phép của chính quyền Pol Pot nhằm tấn công Việt Nam ở bên sườn. "Họ sẽ không từ bỏ tham vọng cho đến khi họ đánh được chúng tôi”, ông nói. "Nếu ông không tin, hãy ra biên giới và ông sẽ thấy họ có thể làm được gì”.

Một ngày trước, tôi lên Lạng Sơn, cách biên giới Trung Quốc vài kilômet. Thành phố bị phá hủy hoàn toàn, không phải từ các cuộc giao tranh mà bằng thuốc nổ. Người Trung Quốc được thành phố trong một ngày và phá hủy tất cả một cách có hệ thống. Họ cho nổ tung các trụ sở, thư viện, trạm y tế, các trung tâm công nghiệp. Quanh chợ, nơi người dân tập trung buôn bán, tất cả đã bị san phẳng.

Tất cả những người Việt Nam mà tôi nói chuyện đều đồng ý rằng, một cuộc tấn công khác là không thể tránh khỏi. "Chúng tôi chờ họ”, Phạm Văn Đồng nói với tôi. "Lần này họ sẽ thấy chúng tôi chuẩn bị tốt hơn”, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nói với tôi. "Họ sẽ tấn công chúng tôi thêm hai lần nữa”, Xuân Thủy nói, như thể một nhà tiên tri dự báo. Và ông kết luận cùng với nụ cười không thể bị khuất phục: "Chỉ khi chúng tôi đánh bại họ ba lần, họ sẽ hiểu được họ không thể đánh thắng chúng tôi và có thể họ sẽ quyết định đi tới một hiệp ước hòa bình lâu dài”.

Chuyến thăm Việt Nam của tôi kết thúc vào buổi chiều hôm đó, mặc dù tôi đã phải chờ 3 ngày cho cơn bão đi qua.

Một ủy ban từ Thượng nghị viện Mỹ xuất hiện ở khách sạn của chúng tôi. Sứ mệnh của họ là gặp gỡ các quan chức chính phủ để bàn về vấn đề người di tản và họ đã được đón tiếp trang trọng. Nhưng họ cũng đến để chuẩn bị cho một hành trình tìm kiếm Tarzan. Họ mang theo những thùng nhựa đựng đầy nước uống, soda và bia với đủ loại nhãn hiệu, đồ hộp, rau quả, một tủ rượu có thể di chuyển và một bệnh viện dã chiến với một đơn vị đặc biệt dành cho điều trị rắn cắn. Họ mang theo tất cả các loại thuốc trừ sâu bọ và chất tiệt trùng cùng một bộ thiết bị dập lửa. Tất cả được cất trong những hòm thép có đóng dấu của Mỹ, và cùng với thiết bị truyền hình, tất cả chất đầy hành lang của khách sạn.

Một trong những thành viên của đoàn tỏ ra bất ngờ khi thấy một nhà văn phương Tây ở Việt Nam. "Giờ thì mọi người đều chống lại họ”, ông ta nói. Thực tế, những nghệ sĩ và giới trí thức ở Mỹ và châu Âu từng ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh giờ quay sang ủng hộ cho những người di tản. Vì thế, kết luận của cá nhân tôi là họ dường như không hiểu rõ thực chất vấn đề.

Việt Nam đã hơn một lần là nạn nhân của những mưu đồ quốc tế thâm độc. Chính phủ Việt Nam không trục xuất ai cả, mặc dù có thể ở thời điểm dó, người ta hiểu khác đi. Nhưng tôi biết rằng trong cuộc tháo chạy hỗn loạn, nhiều kỹ sư, giáo sư giỏi mà đất nước rất cần cho công cuộc xây dựng đã ra đi.

Chính phủ Việt Nam đã phạm phải những sai lầm không thể sửa chữa được. Trước tiên là việc đánh giá sai hoặc không thấy trước được sự ủng hộ của quốc tế với người di tản. Thứ hai là việc họ tin tưởng mù quáng sự đoàn kết của thế giới và rồi nhận ra thực tế đã bị bóp méo.

Họ không được giúp gì. Sau rất nhiều thế kỷ chiến tranh, Việt Nam đã thất bại trong một trận chiến lớn của một cuộc chiến ít được biết đến nhưng có sức tàn phá như những gì họ phải chịu. Chiến tranh thông tin.

G. Marquez

Phạm Mạnh Hào dịch từ: The Vietnam Wars. Translated from the Spanish by Gregory Rabassa By Gabriel García Márquez. This story is from the May 29th, 1980 issue of Rolling Stone.

http://www.rollingstone.com/culture/news/the-vietnam-wars-19800529#ixzz35EFuzfD9



Triệu Xuân gửi cho viet-studies ngày 22-10-14

Nguồn: http://www.viet-studies.info/TrieuXuan_Marquez.htm