Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014
Liên minh Việt-Mỹ hay tam giác Trung-Việt-Mỹ?
Trương Minh Vũ & Nguyễn Thành Trung, International Policy Digest
Dịch bởi Yến, CTV Phía Trước
Sau sự kiện Trung Quốc cắm giàn khoan tháng Năm vừa qua, nhiều nhà quan sát thân phương Tây đã có một cảm giác lạc quan về triển vọng tươi sáng của quan hệ Việt-Mỹ. Cơ sở cho quan điểm này là một loạt những cuộc trao đổi thẳng thắn từ hai phía. Vào ngày 21/7, Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị thăm Hoa Kỳ, gặp gỡ với Chủ tịch Lâm thời của Thượng viện Hoa Kỳ Patrick Leary, mặc dù chuyến đi của ông là một sự kiện không nổi bật. Vào ngày 14/8 tướng quân đội Mỹ Martin Dempsey trở thành chủ tịch đầu tiên của tham mưu trưởng liên quân sang thăm Việt Nam trong hơn bốn thập kỷ. Chuyến đi này phản ánh mong muốn tăng cường sự gần gũi trong quan hệ quân sự hai nước.
Một tuần trước chuyến thăm của Tướng Dempsey là chuyến đi của Thượng nghị sĩ John McCain và Sheldon Whitehouse. Tất cả đều ủng hộ việc bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương của Mỹ tại Việt Nam. Ngày 15 tháng 9, Phó Thủ tướng Việt Nam Vũ Văn Ninh đã bắt đầu chuyến thăm kéo dài năm ngày của ông tới Mỹ để thúc đẩy các cuộc đàm phán đối tác xuyên Thái Bình Dương và tăng cường quan hệ kinh tế giữa hai nước. Qua đó, Việt Nam hy vọng cải thiện khả năng cạnh tranh kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc, và góp phần hiện đại hóa. Những bước phát triển quan trọng cuối cùng lên đỉnh điểm khi thỏa thuận đã được thực hiện trong chuyến thăm của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sang Mỹ trong tháng này ( 1-2/10/2014). Khi đó Mỹ đã đồng ý giảm bớt lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh tuần tra trên biển. Những chuyến đi nhịp độ nhanh là dấu hiệu Việt Nam và Mỹ đã bước vào một kỷ nguyên mới trong mối quan hệ kể từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1995 mà nguyên nhân chủ yếu do nhân tố Trung Quốc.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng có những giải pháp tinh tế để làm dịu sự bất mãn của Trung Quốc trước chính sách ngoại giao của mình. Tháng tám vừa qua, Bí thư thường trực Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Hồng Anh thăm Trung Quốc như là một đặc phái viên của Đảng. Phương tiện truyền thông chính thống của Việt Nam cho biết động lực chính của chuyến đi là phục hồi và cải thiện mối quan hệ giữa hai đảng Cộng sản và hai quốc gia. Lê Hồng Anh, xếp hạng thứ năm trong Bộ Chính trị, đã gặp nhiều quan chức cấp cao Trung Quốc, trong đó có Chủ tịch Tập Cận Bình. Các cơ quan báo chí Việt Nam và Trung Quốc thông báo rằng một thỏa thuận ba điểm đã đạt được trong chuyến thăm này: 1 – Lãnh đạo hai đảng cộng sản và hai quốc gia sẽ tiếp tục tăng cường chỉ đạo trực tiếp của họ vào sự phát triển của quan hệ song phương; 2 – Truyền thông nội bộ đảng sẽ được tăng cường; 3 – Với sự đồng thuận giữa hai Đảng, hai nước sẽ tiếp tục duy trì tình hình chung của mối quan hệ Trung-Việt hòa bình, ổn định ở Biển Đông.
Chuyến đi của ông Lê Hồng Anh không phải là lần đầu tiên Hà Nội thể hiện một cử chỉ tôn kính. Trong tháng 10 năm 2011, Tổng Bí thư Đảng cộng sản Nguyễn Phú Trọng của Việt Nam cũng đã đến thăm Trung Quốc để hạ nhiệt những căng thẳng đã bùng lên khoảng năm tháng trước đó. Trong tháng 5 và tháng 6 năm 2011, tàu Trung Quốc hai lần cắt cáp địa chấn của tàu Dầu khí Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo Công ước Luật Biển UNCLOS 1982. Những sự việc này đã khơi dậy các cuộc biểu tình tại Việt Nam. Trung Quốc và Việt Nam đều cáo buộc lẫn nhau đã vi phạm lãnh hải. Chuyến công du của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam sang Trung Quốc được coi là một cử chỉ hòa dịu và chào đón, kêu gọi Trung Quốc thiết lập một đường dây nóng để giải tỏa tình trạng khẩn cấp giữa hai nước. Ông đã không gặt hái được bất kỳ giải pháp lâu dài cho các tranh chấp, nhưng ít nhất giảm bớt sự sự bế tắc đang diễn ra tại thời điểm đó. Chuyến đi của Lê Hồng Anh cũng được coi là một tín hiệu từ Việt Nam cho thấy họ không muốn đối đầu với Trung Quốc trong bối cảnh Martin Dempsey – Chủ tịch Tham mưu Liên quân đầu tiên của Mỹ từ năm 1971 viếng thăm Việt Nam. Điều này được coi là một thành công ngoại giao của Bắc Kinh trong việc bảo đảm rằng Việt Nam vẫn thực hiện theo cơ chế giải quyết tranh chấp song phương. Trong buổi nói chuyện với Tập Cận Bình, Lê Hồng Anh khẳng định rằng Việt Nam sẽ làm hết sức mình để tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, và củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc.
Các tín hiệu không nhất quán trên chứng minh sự đa dạng của ý kiến trong “cuộc tranh cãi liên minh” xảy ra ở Việt Nam hiện nay. Mục đích chính là để đặt các chính sách quốc phòng quốc gia “ba không” ở trung tâm của những lời chỉ trích. Chính sách này từ lâu đã khẳng định trên ba nguyên tắc được coi là không thể thay đổi: không liên minh quân sự, không hưởng trợ cấp để cho phép bất kỳ quốc gia nào thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, và không phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào để được giúp đỡ trong cuộc chiến chống các nước khác. Trong nội bộ Việt Nam, có rất nhiều lời chỉ trích rằng chính sách này không đủ để bảo vệ quyền lợi và chủ quyền của quốc gia, đặc biệt là sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan dầu US-981 trong đặc khu kinh tế EEZ của Việt Nam. Dù khác nhau về phương thức tiếp cận và trình độ, những người này đều cố gắng đẩy Việt Nam gần hơn với Hoa Kỳ. Theo họ, chỉ Hoa Kỳ mới có khả năng làm thay đổi tính toán của Trung Quốc đối với Biển Đông, theo những cách thức không cho phép Trung Quốc sử dụng vũ lực quân sự hoặc cưỡng chế để giải quyết tranh chấp. Trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, Việt Nam có thể dựa vào Hoa Kỳ như là một nguồn đảm bảo an ninh.
Mức độ vai trò đảm bảo an ninh của Hoa Kỳ phụ thuộc vào nội dung của hiệp ước. Trong khi đó, sự hậu thuẫn của một cường quốc quân sự sẽ đem đến thay đổi trong cán cân quyền lực (đặc biệt là về sức mạnh quân sự trong tranh chấp Biển Đông). Không giống như Philippines, Việt Nam đang trong cuộc xung đột với Trung Quốc ở cả hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong khi quần đảo Trường Sa liên quan đến nhiều quốc gia Đông Nam Á khác và trực tiếp ảnh hưởng đến tự do hàng hải trong khu vực, tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa vẫn chỉ là một vấn đề song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sau sự kiện dàn khoan dầu HD-981, các chiến lược gia Việt Nam đã nhận ra rằng rất khó để gắn liền các cuộc xung đột lãnh thổ đối với tự do hàng hải, nhưng sau cùng đã đạt được mối quan tâm rõ ràng từ Hoa Kỳ. Vì vậy, với một liên minh không phải và cũng không hỗ trợ quân sự, Việt Nam sẽ bị phương hại trong cuộc đối đầu với Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa.
Vào tháng Tư năm 2014, hai tàu hải quân Mỹ đã có đợt tập thường niên thứ 5, kéo dài sáu ngày, với hải quân Việt Nam, tượng trưng cho một hợp tác quốc phòng chặt chẽ hơn giữa hai kẻ thù cũ. Các bài tập cơ sở để xây dựng lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Ví dụ, trong chuyến đi tới Việt Nam cuối tháng mười hai, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry thông báo rằng Cảnh sát biển Việt Nam sẽ nhận được 18 triệu USD viện trợ với năm tàu tuần tra nhanh nâng cao năng lực cảnh sát biển.
Gần đây, đã có nhiều tiếng nói ủng hộ hơn từ các dân biểu Hoa Kỳ cho việc dỡ bỏ lệnh cấm của Mỹ về việc bán vũ khí sát thương cho Hà Nội. Tướng Dempsey cũng nói rằng Lầu Năm Góc có thể bán cho Việt Nam những thiết bị tốt hơn để giám sát hàng hải, bao gồm radar và máy bay giám sát. Khả năng giám sát và bảo vệ hàng hải Việt Nam có thể được tăng cường nhờ mua những hệ thống vũ khí của Mỹ như máy bay trinh sát P-3 Orion. Với khả năng chống tàu ngầm của nó, P-3 Orion là thiết bị đặc biệt quan trọng để phát hiện sớm tàu ngầm ở Biển Đông cũng như phát triển khả năng phòng thủ. Các bước cụ thể là điềm lành cho việc xây dựng một liên minh tương lai. Tuy nhiên, Việt Nam và Mỹ vẫn có ý định riêng về những mục đích khác. Washington sẽ phải đánh giá tư duy của các nhà lãnh đạo Việt Nam một cách cẩn trọng nếu tiếp tục kỳ vọng lạc quan rằng Hà Nội sẽ hội nhập vào hệ thống liên minh của mình.
Thứ nhất, Việt Nam không muốn đổi quan hệ với Trung Quốc lấy sự cải thiện trong quan hệ với Hoa Kỳ. Trong tư duy chiến lược của Việt Nam, sự gần gũi về địa chính trị luôn đóng một vai trò rất quan trọng. Hà Nội sẽ không mạo hiểm làm hỏng mối quan hệ của họ với Trung Quốc để liên minh với Hoa Kỳ. Việt Nam và Trung Quốc đã thành lập một cơ chế để củng cố mối quan hệ song phương với những cuộc viếng thăm chính thức thường niên và các cuộc thảo luận thường xuyên về các vấn đề biên giới, an ninh hàng hải, hợp tác quốc phòng, lãnh hải, và các hoạt động khai thác chung. Mặc dù Trung Quốc đang ngày càng hung hăng trong tranh chấp Biển Đông, Việt Nam vẫn tiếp tục nhắc lại tầm quan trọng của một mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc. Các nhà hoạch định chính sách Việt Nam không muốn củng cố mối quan hệ với Mỹ một cách không cân đối để xé bỏ quan hệ Việt-Trung trong một trò chơi được ăn cả, ngã về không.
Sẽ tốt hơn cho Việt Nam nếu họ dùng liên minh Việt-Mỹ như một yếu tố gây mất ổn định trong tam giác Washington – Hà Nội – Bắc Kinh. Việt Nam tin rằng đu dây giữa hai bên là một phương án tốt để vừa giữ được quan hệ với cả hai siêu cường, vừa đạt được một thế cân bằng tinh tế. Bên cạnh đó, chiến thuật này không vi phạm nguyên tắc không liên minh của họ. Tính toán thực dụng này đã xác định chính sách đối ngoại của Việt Nam: tăng cường quan hệ quốc phòng và kinh tế với Hoa Kỳ, trong khi vẫn giữ một mối quan hệ tốt với tên không lồ phương Bắc.
Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam dễ chịu tác động xấu từ một cuộc đối đầu với Trung Quốc. Năm 1991, thương mại song phương chỉ có 32 triệu USD. Ngày nay, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với tổng giá trị lên đến 50.21 tỷ USD năm 2013, trong khi thương mại song phương với Hoa Kỳ vào năm 2013 là 30 tỷ USD. Thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam được dự kiến sẽ đạt 60 tỷ USD, tăng hàng năm hai con số. Các nhà lãnh đạo bảo thủ Việt Nam có thể học được một bài học từ châu Âu khi nền kinh tế Ukraine gần như suy sụp vì bị Nga giáng đòn trừng phạt. Một báo cáo của Việt Nam nói rằng tác động của việc triển khai đơn phương của một giàn khoan dầu Trung Quốc ngoài khơi của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam có chi phí kinh tế lên tới 1,0-1,5 tỷ USD. Con số này có thể là lớn hơn nếu Trung Quốc không thu hồi các giàn khoan sớm hơn dự kiến. Việt Nam có thâm hụt thương mại lớn nhất với Trung Quốc. Cán cân thương mại nghiêng về phía Trung Quốc đã lớn hơn trong những năm qua. Đáng chú ý là những nguyên liệu chưa qua chế biến, chẳng hạn như dầu thô và than đá, chiếm một tỷ lệ đáng kể trong giỏ hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc.
Một vấn đề lớn của ngành công nghiệp sản xuất Việt Nam là ngay cả những doanh nghiệp xuất khẩu trọng tâm cũng đang trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc. Hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam bao gồm các vật liệu cần thiết khác nhau để sản xuất hàng xuất khẩu, bao gồm cả nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, sắt thép, hóa chất, dầu và các loại vải. Lê Đăng Doanh, một nhà kinh tế Việt Nam, đã thường xuyên bày tỏ sự thất vọng của mình về sự mất cân bằng thương mại và sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Ông nói: “Việt Nam xuất khẩu than và sau đó nhập khẩu điện, xuất khẩu cao su và nhập khẩu lốp xe”. Cụ thể hơn, Việt Nam đang nhập khẩu gần 50% sợi và vải cần thiết cho ngành công nghiệp dệt may từ Trung Quốc. Nếu Trung Quốc làm gián đoạn việc cung cấp sợi, họ sẽ bóp chết ngành công nghiệp dệt may Việt Nam gây ra tình trạng thất nghiệp hàng loạt trong ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động này.
Thứ ba, quyền con người được coi là vấn đề hóc búa nhất, gây tranh cãi trong mối quan hệ song phương. Vấn đề này có thể kìm hãm tiềm năng của mối quan hệ để đạt được sự phát triển đầy đủ, nhưng nó không có nghĩa là mối quan hệ khác sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. Mỹ hy vọng rằng mối quan hệ sâu sắc trong các lĩnh vực khác sẽ khuyến khích Hà Nội nhượng bộ về nhân quyền. Một số chính trị gia Mỹ cho rằng Washington có thể sử dụng lệnh cấm vận vũ khí và các cuộc đàm phán TPP như một đòn bẩy chính trị để gây áp lực buộc Hà Nội thả những người bất đồng chính kiến và thúc đẩy cải cách dân chủ. Một số người khác lại cho rằng những điều kiện này sẽ chỉ tạo ra một vòng luẩn quẩn. Để đạt được mục đích của mình, Việt Nam có thể tùy tiện thắt chặt hoặc thả lỏng vấn đề nhân quyền. Trợ lý Ngoại trưởng đặc trách dân chủ, nhân quyền và lao động, Tom P. Milnowski, nhận xét rằng những thay đổi “tích cực” của Việt Nam về nhân quyền trong nửa năm vừa rồi sẽ tác động tới quyết định cuối cùng trong việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí. Họ không chắc chắn Việt Nam sẵn sàng hy sinh bao nhiêu để tham gia vào quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương. TPP yêu cầu các thành viên chấp nhận các quy định mạnh mẽ về lao động, bao gồm cả tự do lập hội, trợ cấp thương lượng tập thể, và Việt Nam cần phải thay đổi để tuân thủ các quy tắc này. Một trong những điểm đáng chú ý nhất là việc thành lập công đoàn độc lập.
Thứ tư, bài học lịch sử cũ có thể lặp lại, chính nó vẫn còn khắc sâu trong tâm trí của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Những ký ức của các nhà lãnh đạo hiện thời vẫn không dễ dàng phai nhạt. Năm 1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế do Liên Xô dẫn đầu, và sau đó đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô. Do sự rạn nứt Xô-Trung ngày càng lớn, Trung Quốc ngay lập tức giải thích điều ước quốc tế này như là một liên minh quân sự chống lại Trung Quốc. Rõ ràng, sự thân mật gần gũi của Hà Nội với Moscow đã khiến Đặng Tiểu Bình tức giận. Sau này, ông Đặng đã gọi Việt Nam là “một tên du côn”, và thậm chí tệ hơn, Trung Quốc đã không dừng lại ở lời nói. Bắc Kinh đã quyết định dạy “Cuba vô ơn của phương Đông” một bài học, dẫn đến bốn tuần tấn công bất ngờ và đẫm máu vào lãnh thổ của Việt Nam trong tháng Hai năm 1979. Những bài học có giá trị đã được rút ra ở cả hai bên. Đối với Việt Nam, sự thất bại của Liên Xô trong việc bảo vệ Việt Nam trước cuộc tấn công của Trung Quốc đã có tác động hai mặt. Trước tiên là bài học trong câu thành ngữ “bán an hem xa, mua láng giềng gần”. Những mối đe dọa tại biên giới luôn lớn hơn nhiều so với lời hứa hẹn bố thí từ những người bạn xa lắc. Thứ hai, những thế lực chính trị lớn chỉ cho phép các quốc gia nhỏ có rất ít lựa chọn. Xía vào cuộc tranh chấp giữa các cường quốc không phải là một động thái thông minh. Do đó, lãnh đạo Việt Nam chọn không tham gia cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Liên Xô khoảng bốn mươi năm trước đây. Hiểu sâu sắc sức mạnh của Trung Quốc, những nhà hoạch định chính sách Việt Nam hiện nay không tìm thấy bất cứ lợi ích rõ ràng nào từ việc liên minh với Hoa Kỳ.
Những hậu quả từ một mối quan hệ thiếu thân thiên với người láng giềng khổng lồ phương Bắc là không xa lạ gì với người Việt Nam. Bốn mươi năm trước, trong chiến tranh Việt Nam, ông Nguyễn Văn Thiệu. Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, cũng đã có kinh nghiệm buồn với Mỹ. Ông cáo buộc rằng Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã lừa ông ký Hiệp ước Paris bằng cách hứa hẹn viện trợ quân sự nhiều hơn, nhưng hóa ra đó chỉ là những lời hứa hão. Ông Thiệu cho rằng đồng minh Mỹ của ông đã phản bội ông ta bằng cách “chơi bài Tàu” để giải quyết cuộc chiến tranh mà không hề có sự chấp thuận của ông, dẫn đến sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Những nhà lãnh đạo Việt Nam đương thời hẳn phải biết rất rõ bản chất tạm bợ của liên minh này, khi họ đã khai thác nó để giành chiến thắng trong cuộc chiến. Để cho chắc chắn, họ không muốn ở trong tình huống khó xử tương tự với Mỹ giống như chính phủ Nam Việt Nam đã từng.
Tam giác an ninh Washington – Hà Nội – Bắc Kinh đã nổi lên như là kết quả của sự thay đổi cảnh quan sau chiến tranh lạnh. Sự mập mờ trong chiến lược của cả Mỹ và Trung Quốc đã dẫn đến sự không chắc chắn trong khu vực – một tình trạng mà các quốc gia vừa và nhỏ phải đối mặt. Kết quả là, một “sự mập mờ chiến lược” từ bên dưới đã xuất hiện. Suốt một thập kỷ, Hà Nội đã tìm cách duy trì một “trạng thái cân bằng tinh tế” giữa các cường quốc bằng cách sử dụng một sự kết hợp thận trọng giữa ngoại giao, các biện pháp kinh tế và an ninh để vừa nhẹ nhàng cân bằng sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc, vừa ràng buộc Trung Quốc thông qua sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, hay hiệp định song phương và đa phương .
Sau sự gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, tình thế đã thay đổi, làm đổ vỡ thế “cân bằng tinh tế” này. Tuy nhiên, khả năng hình thành một liên minh Hoa Kỳ – Việt Nam mang lại cho Trung Quốc một mối đe dọa nhãn tiền. Cuộc khủng hoảng ở Ukraine, hiện đang trở thành điểm nóng giữa Washington và Moscow, cũng có thể khiến các nhà lãnh đạo Việt Nam sợ rằng họ sẽ khơi dậy những phản ứng nghiêm trọng từ phía Trung Quốc khi Việt Nam tìm kiếm các mối quan hệ chiến lược sâu sắc hơn với Mỹ và các đồng minh. Tam giác an ninh Washington – Hà Nội – Bắc Kinh vẫn đang thay đổi liên tục, và viễn cảnh về một liên minh Việt Mỹ vẫn còn khá xa so với những gì mà tương lai có thể mang lại.
© 2014 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info
Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014
Trung Quốc lại vỗ về Việt Nam
Trung Quốc lại vừa hứa hẹn thiết lập liên lạc trực tiếp giữa hai Bộ Quốc Phòng để ngăn chặn xung đột trên biển, cam kết sẽ cùng Việt Nam “giải quyết và kiểm soát” tranh chấp.
Trong vài ngày qua, báo giới Việt Nam tỏ ra rất hào hứng trước sự kiện, viên đại tướng, bộ trưởng Quốc Phòng CSVN dẫn 12 viên tướng thuộc quyền sang thăm Trung Quốc. Chuyến thăm diễn ra trong ba ngày, từ 16 đến 18 tháng 10, 2014.

Vết tích để lại sau khi tàu QNg 96074 bị lực lượng hải giám của Trung Quốc đập phá, cưỡng đoạt các thiết bị hỗ trợ hải hành và hải sản hồi tháng 8. (Hình: Pháp Luật TP)
Theo tờ Quân Ðội Nhân Dân của Việt Nam thì mục tiêu mà phái đoàn quân sự cao cấp của Việt Nam nhắm tới trong chuyến thăm Trung Quốc là “tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện giữa quân đội hai bên.” Ðồng thời “bàn các biện pháp thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương để duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác hữu nghị giữa nhân dân và quân đội hai nước.”
Giới lãnh đạo quân đội CSVN và Trung Quốc dự trù sẽ ký một thỏa thuận về việc thiết lập liên lạc trực tiếp giữa hai Bộ Quốc Phòng.
Trước khi 13 viên tướng Việt Nam sang thăm Trung Cộng để thắt chặt quan hệ “hợp tác quốc phòng” - vốn được khẳng định là một trong những “trụ cột quan trọng đối với quan hệ giữa hai đảng và hai nhà nước cộng sản” một chút, viên đô đốc, tư lệnh Hải Quân Trung Cộng vừa hoàn tất chuyến thị sát quần đảo Trường Sa, thăm những bãi đá mà Trung Cộng từng chiếm của Việt Nam và nay đã biến chúng thành các hòn đảo nhân tạo nhằm củng cố yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền trên biển Ðông.
Cũng trong vài ngày vừa qua, khi gặp gỡ ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN bên lề Hội Nghị Á-Âu (ASEM), diễn ra tại Ý, ông Lý Khắc Cường, thủ tướng Trung Quốc, chủ động đề nghị, Việt Nam và Trung Quốc “cần giải quyết, kiểm soát những khác biệt trong vấn đề biển nhằm tạo điều kiện cho hợp tác song phương.”
Tân Hoa Xã loan báo, trong cuộc trò chuyện với thủ tướng Hà Nội, thủ tướng Trung Quốc nhận định rằng: “Nhờ nỗ lực từ cả hai phía, quan hệ Trung-Việt đã vượt qua được những khó khăn gần đây và đang tốt dần.” Cũng theo Tân Hoa Xã thì viên thủ tướng CSVN hoàn toàn đồng ý và ủng hộ việc “thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, tài chính và khai thác biển.”
Những hứa hẹn kiểu như vừa kể vốn đã được lập đi, lập lại hàng trăm lần nhưng sau mỗi lần Trung Quốc hứa hẹn như thế, Trung Quốc lại dấn thêm những bước sâu hơn, mạnh mẽ hơn trong việc khẳng định yêu sách về chủ quyền trên biển Ðông. Gần đây nhất, Trung Quốc loan báo đã hoàn thành việc mở rộng phi đạo trên đảo Phú Lâm, một hòn đảo nằm trong quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã cưỡng chiếm của Việt Nam năm 1974.
Trung Quốc cũng đã hoàn tất công việc biến nhiều bãi đá ở quần đảo Trường Sa - trong đó có bãi đá Gạc Ma mà Trung Quốc đã cưỡng chiếm của Việt Nam năm 1988, thành các hòn đảo nhân tạo để thiết lập những căn cứ quận sự mới ở biển Ðông.
Trước đó một chút, hồi trung tuần tháng 9, Tập đoàn dầu khí CNOCC của Trung Quốc loan báo sẽ phát thông báo mời các tập đoàn ngoại quốc dự cuộc đấu thầu 33 lô dầu khí, trong đó có 25 lô ở biển Ðông. Năm 2012, Tập đoàn dầu khí CNOCC của Trung Quốc cũng đã từng làm như thế nhằm củng cố các yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên biển. Vào thời điểm vừa kể, Tập đoàn dầu khí CNOCC mời thầu 9 lô dầu khí ở biển Ðông, cả 9 lô này đều nằm sát bờ biển miền Trung và miền Nam của Việt Nam
Vào thượng tuần tháng 8, Trung Quốc đưa tàu vào vùng biển của Việt Nam để khảo sát địa chất - thăm dò trữ lượng dầu khí và tìm địa điểm dựng năm hải đăng ở năm hòn đảo (Ðá Bắc, Ðá Hải Sâm, Duy Mộng, Cồn Cát Nam và Hòn Tháp) trong quần đảo Hoàng Sa.
Chế độ Hà Nội chỉ trích Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam nhiều hơn và mạnh mẽ hơn so với trước. Những chỉ trích này lắng xuống sau khi chính quyền Trung Quốc vỗ về, trấn an và sau đó, các hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc lại trắng trợn hơn. (G.Ð)
Nguyễn Trọng Vĩnh: Cầu hòa - Có "hòa" được không?
LIỆU CÓ NGĂN ĐƯỢC ÂM MƯU CỦA TQ CHIẾM BIỂN, ĐẢO CỦA CHÚNG TA VÀ BÁ CHIẾM BIỂN ĐÔNG KHÔNG?

Từ xưa đến nay, chưa bao giờ các thế hệ cầm quyền TQ từ bỏ mưu đồ thôn tính nước ta. Năm 1974, họ đánh chiếm Hoàng Sa của ta.
Năm 1979, họ xua quân xâm lăng, giết hại đồng bào và tàn phá 6 tỉnh biên giới của ta. Năm 1988, họ đánh chiếm bãi đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của chúng ta, giết hại 64 cán bộ chiến sĩ của ta.
Trong đàm phán biên giới, họ ép và lấn ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, mấy trăm mét từ ải Nam Quan xuống đến xã Tân Thanh và nhiều nơi nữa dọc biên giới, ta mất đất bằng một tỉnh Thái Bình.
Trên biển, TQ lập huyện Tam Sa bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của ta, bắt tàu cá, tịch thu tài sản của ngư dân, bắn giết ngư dân ta, đưa giàn khoan 981HD vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của ta với hàng trăm tàu bảo vệ phun vòi rồng, đâm hỏng tàu chấp pháp, tàu kiểm ngư, đâm chìm tàu cá của ngư dân ta....
Từ khi họ nêu ra phương châm "16 chữ + 4 tốt", chỉ có lãnh đạo phía Việt Nam thực hiện, TQ không những không hề thực hiện, trái lại còn làm những việc lấn chiếm, bắn giết, đe dọa... Phải gọi họ là kẻ cướp, kẻ thù.
Thế mà, ông Phùng Quang Thanh dẫn các tướng sang thăm TQ nhằm "củng cố tình hữu nghị". Chắc hẳn đoàn Bộ trưởng được đón tiếp trọng thị, khoản đãi hậu tình, có quà cáp đáng giá và được nghe những lời đường mật giả dối.
Trong khi đó, TQ sắp xây xong sân bay và đường băng trên đảo Phú Lâm, đương gấp rút hoàn thiện căn cứ quân sự có đường băng trên nhóm bãi đá Gạc Ma mà họ xây dựng thành các đảo nhân tạo không ngoài mục đích uy hiếp và chuẩn bị, chờ thời cơ chiếm nốt quần đảo Trường Sa của ta và bá chiếm biển Đông. Giới cầm quyền TQ luôn tuyên bố "Lập trường đối với Nam Hải (biển Đông) quyết không thay đổi."
Liệu chuyến thăm của đoàn Bộ trưởng Phùng Quang Thanh sang cầu hòa có ngăn được âm mưu của họ không?!
Sinh ra bộ Quốc phòng là để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải quốc gia. Lẽ ra ông Bộ trưởng phải phân biệt rõ bạn, thù, ra sức tăng cường lực lượng quốc phòng về mọi mặt, luôn sẵn sàng chuẩn bị đối phó với tình hình xấu nhất theo tinh thần "lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn" như dân tộc ta đã thực hiện. Đằng này, khi TQ đặt gian khoan xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của ta thì ông lại phát biểu "Quan hệ Việt - Trung vẫn phát triển tốt", không có ý kiến gì đối với việc TQ xây dựng công trình trên đảo Phú Lâm và trên cụm Gạc Ma, không quan tâm đến những sự kiện TQ đã đứng chân và nắm được nhiều điểm xung yếu về quân sự trên đất liền, từ rừng biên giới đến ven biển và các hải cảng, cũng như hàng vạn người TQ dải khắp nơi trong nước ta, kể cả cư trú trái phép. Có một ông Bộ trưởng Quốc phòng như thế thì việc mất biển, đảo và mất nước là khó tránh khỏi.
Trong khi cần tỉnh táo, nhận diện bản chất đối phương, chúng sẽ không từ bỏ ý đồ độc chiếm biển Đông và còn chiếm cả Đông Dương, cần nhận rõ bạn-thù, nhưng lại đi cầu hòa! Nói theo kiểu truyện Tam Quốc: Có "Hòa" được không? Hồi sau sẽ rõ!
Nguyễn Trọng Vĩnh
Tác giả gửi BVB
(Blog Bùi Văn Bồng)

Từ xưa đến nay, chưa bao giờ các thế hệ cầm quyền TQ từ bỏ mưu đồ thôn tính nước ta. Năm 1974, họ đánh chiếm Hoàng Sa của ta.
Năm 1979, họ xua quân xâm lăng, giết hại đồng bào và tàn phá 6 tỉnh biên giới của ta. Năm 1988, họ đánh chiếm bãi đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của chúng ta, giết hại 64 cán bộ chiến sĩ của ta.
Trong đàm phán biên giới, họ ép và lấn ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, mấy trăm mét từ ải Nam Quan xuống đến xã Tân Thanh và nhiều nơi nữa dọc biên giới, ta mất đất bằng một tỉnh Thái Bình.
Trên biển, TQ lập huyện Tam Sa bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của ta, bắt tàu cá, tịch thu tài sản của ngư dân, bắn giết ngư dân ta, đưa giàn khoan 981HD vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của ta với hàng trăm tàu bảo vệ phun vòi rồng, đâm hỏng tàu chấp pháp, tàu kiểm ngư, đâm chìm tàu cá của ngư dân ta....
Từ khi họ nêu ra phương châm "16 chữ + 4 tốt", chỉ có lãnh đạo phía Việt Nam thực hiện, TQ không những không hề thực hiện, trái lại còn làm những việc lấn chiếm, bắn giết, đe dọa... Phải gọi họ là kẻ cướp, kẻ thù.
Thế mà, ông Phùng Quang Thanh dẫn các tướng sang thăm TQ nhằm "củng cố tình hữu nghị". Chắc hẳn đoàn Bộ trưởng được đón tiếp trọng thị, khoản đãi hậu tình, có quà cáp đáng giá và được nghe những lời đường mật giả dối.
Trong khi đó, TQ sắp xây xong sân bay và đường băng trên đảo Phú Lâm, đương gấp rút hoàn thiện căn cứ quân sự có đường băng trên nhóm bãi đá Gạc Ma mà họ xây dựng thành các đảo nhân tạo không ngoài mục đích uy hiếp và chuẩn bị, chờ thời cơ chiếm nốt quần đảo Trường Sa của ta và bá chiếm biển Đông. Giới cầm quyền TQ luôn tuyên bố "Lập trường đối với Nam Hải (biển Đông) quyết không thay đổi."
Liệu chuyến thăm của đoàn Bộ trưởng Phùng Quang Thanh sang cầu hòa có ngăn được âm mưu của họ không?!
Sinh ra bộ Quốc phòng là để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải quốc gia. Lẽ ra ông Bộ trưởng phải phân biệt rõ bạn, thù, ra sức tăng cường lực lượng quốc phòng về mọi mặt, luôn sẵn sàng chuẩn bị đối phó với tình hình xấu nhất theo tinh thần "lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn" như dân tộc ta đã thực hiện. Đằng này, khi TQ đặt gian khoan xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của ta thì ông lại phát biểu "Quan hệ Việt - Trung vẫn phát triển tốt", không có ý kiến gì đối với việc TQ xây dựng công trình trên đảo Phú Lâm và trên cụm Gạc Ma, không quan tâm đến những sự kiện TQ đã đứng chân và nắm được nhiều điểm xung yếu về quân sự trên đất liền, từ rừng biên giới đến ven biển và các hải cảng, cũng như hàng vạn người TQ dải khắp nơi trong nước ta, kể cả cư trú trái phép. Có một ông Bộ trưởng Quốc phòng như thế thì việc mất biển, đảo và mất nước là khó tránh khỏi.
Trong khi cần tỉnh táo, nhận diện bản chất đối phương, chúng sẽ không từ bỏ ý đồ độc chiếm biển Đông và còn chiếm cả Đông Dương, cần nhận rõ bạn-thù, nhưng lại đi cầu hòa! Nói theo kiểu truyện Tam Quốc: Có "Hòa" được không? Hồi sau sẽ rõ!
Nguyễn Trọng Vĩnh
Tác giả gửi BVB
(Blog Bùi Văn Bồng)
Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014
13 tướng Việt Nam thăm Trung Quốc
16-10-2014
Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam, dẫn đầu là Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thăm Trung Quốc từ 16/10-18/10.
Báo Quân đội Nhân dân đưa tin chuyến thăm này “nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện giữa quân đội hai bên và bàn các biện pháp thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương để duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác hữu nghị giữa nhân dân và Quân đội hai nước”.
Theo kế hoạch, khi ở Bắc Kinh đoàn của ông Phùng Quang Thanh và phía Trung Quốc sẽ ký tắt bản Ghi nhớ kỹ thuật về thiết lập đường dây liên lạc trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng.
Chuyến thăm được nói sẽ “khẳng định hợp tác quốc phòng là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước”.
Hai bên mong muốn “tạo nhận thức chung” về các vấn đề an ninh quốc tế, khu vực và mỗi nước.
Nhận xét về chuyến đi, chuyên gia Việt Nam – Giáo sư Carl Thayer từ Canberra, Úc châu, nói: “Tôi cho rằng hai bên nay đang tập trung vào các chuyện quan trọng cụ thể nhằm giải đáp cho quan ngại an ninh của mỗi nước”.
“Hai bên cùng sẽ tìm cách trấn an nhau về việc làm sao để quân đội đứng bên ngoài tranh chấp biển đảo.”
Ông cũng cho rằng trước kỳ họp thượng đỉnh Apec sắp tới tại Bắc Kinh, Trung Quốc có thể muốn tỏ ra hòa hoãn hơn.
Giảm căng thẳng
Thành phần đoàn của ông Phùng Quang Thanh bao gồm nhiều tướng lĩnh hàng đầu Việt Nam, như Phó Tổng tham mưu trưởng, Trung tướng Bế Xuân Trường; Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Trung tướng Lương Cường; tư lệnh các quân chủng Phòng không-Không quân, hải quân, Quân khu 2, Quân khu 3…
Không thấy sự có mặt của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, người được cho là đứng đầu ngành đối ngoại quốc phòng.
Chuyến đi của Đại tướng Phùng Quang Thanh và đoàn quân sự cấp cao tiếp sau chuyến thăm Bắc Kinh của Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.
Theo GS Carl Thayer, quân đội hai nước có thể đang tập trung bàn những dàn xếp cụ thể để giảm thiểu căng thẳng giữa hai bên, nhất là tại Biển Đông.
Tướng Thanh, trong bài phát biểu tại Diễn đàn An ninh Shangri-La hồi cuối tháng Năm nói quân đội Việt Nam và Trung Quốc cần “kiềm chế”, “tăng cường hợp tác” và “kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động” để tránh có “hành động ngoài tầm kiểm soát”.
Tuy nhiên, ông cho rằng quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.
Ông nói: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.”
“Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng”.
Bộ trưởng Phùng Quang Thanh thăm Trung Quốc
Báo QĐND đưa tin, chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc của đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam do Bộ trưởng, Đại tướng Phùng Quang Thanh dẫn đầu diễn ra theo lời mời của Thượng tướng Thường Vạn Toàn, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc.Tham gia đoàn có Trung tướng Bế Xuân Trường – Phó tổng Tham mưu trưởng; Trung tướng Lương Cường – Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Dương Đức Hòa – Tư lệnh Quân khu 2; Trung tướng Phương Minh Hòa – Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân; Trung tướng Võ Trọng Việt – Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; Trung tướng Phạm Hồng Hương – Tư lệnh Quân khu 3; Chuẩn đô đốc Phạm Hoài Nam – Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân; Thiếu tướng Phan Văn Tường – Phó tư lệnh Quân khu 1; Trung tướng Vũ Văn Hiển – Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng; Thiếu tướng Vũ Anh Văn – Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc; Thiếu tướng Vũ Chiến Thắng – Cục trưởng Cục Đối ngoại – Bộ Quốc phòng và Thiếu tướng Ngô Quang Liên – Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng.
“Chuyến thăm này nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện giữa quân đội hai bên và bàn các biện pháp thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương để duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác hữu nghị giữa nhân dân và Quân đội hai nước” – theo tin của QĐND.
“Chuyến thăm cũng nhằm tạo nhận thức chung về các vấn đề an ninh quốc tế, khu vực và mỗi nước, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài của quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung cũng như khẳng định hợp tác quốc phòng là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước”.
Trong khuôn khổ chuyến thăm, dự kiến, hai bên sẽ ký tắt bản ghi nhớ kỹ thuật về thiết lập đường dây liên lạc trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng.
Tìm hiểu nội dung hội nghị Thành Đô: đọc lại tài liệu năm 2002 của Nguyễn Chí Trung…
Posted by adminbasam on 17/10/2014
Trương Nhân Tuấn
16-102014
Nội dung của hội nghị Thành Đô đầu thập niên 90 đưa đến việc bình thường hóa hai nước Trung-Việt là như thế nào ? Có cái gọi là « kết ước Thành Đô » giữa lãnh đạo đảng cộng sản VN và TQ hay không ? Câu trả lời hôm nay không dễ.
Lời đồn đoán về cái gọi là « Việt Nam tự trị », hay VN là « một tỉnh » của Trung Quốc, có lẽ không thuyết phục được nhiều người. Tuy nhiên, sác xuất về một cam kết đảng CSVN là một « thành phần » dưới sự lãnh đạo của đảng CS Trung Quốc lại rất cao nhưng lại không thấy dư luận đề cập tới. Trước khi Liên Xô sụp đổ, các đảng cộng sản của các nước đều là một « chi bộ », hay « phân bộ » của cộng sản quốc tế do đảng cộng sản Liên Xô cầm đầu. Sau khi quốc tế cộng sản sụp đổ, đảng cộng sản Trung Quốc đương nhiên là người thừa kế chính đáng, lãnh đạo các đảng CS tại các nước VN, Bắc Hàn và Cuba (sau này có thêm Vénézuella).
Vấn đề vì vậy cần tìm hiểu là sự « quan hệ » giữa hai đảng cộng sản VN và TQ là như thế nào ?
Chắc chắn phía TQ rất thích VN trở thành một « tỉnh », hay một « chư hầu » của TQ, như trước khi VN lọt vào tay Pháp. Đây là mục tiêu của các lãnh tụ TQ, có từ thời Mao Trạch Đông. (Điều này xảy ra thì vùng biển xác định bởi bản đồ chín đoạn chữ U đương nhiên thuộc TQ). Nhưng đưa VN trở lại tình trạng cuối thế kỷ 19 không dễ thực hiện, kể cả khi đảng CSVN là một bộ phận không tách rời của đảng CSTQ. Ta thấy những cố gắng lộ liễu của đảng CSVN, qua những lần VN tiếp đón lãnh đạo đảng CSTQ, phía VN cố gắng qui tụ đông đảo học sinh, giao cho chúng lá cờ đỏ « lục tinh » (quốc kỳ của TQ chỉ có 5 sao), đứng dọc bên đường phe phẩy để chào đón lãnh tụ. Bởi vì trong nội tình của đảng CSVN, một số lớn đảng viên lại « có ý kiến khác ».
Trong trung hạn TQ muốn nhìn thấy một nước VN phân hóa, nghèo đói, ngu dốt chậm tiến… Điều này đương nhiên dễ dàng thực hiện và ít tốn kém hơn. Ta thấy trên thực tế, TQ đã đi hơn ½ đoạn đường của họ.
Tài liệu dưới đây của ông Nguyễn Chí Trung, nguyên là thư ký của Lê Khả Phiêu, viết từ năm 2002, do « Câu lạc bộ Dân chủ » công bố ra dư luận hải ngoại tháng 12 năm 2003. Qua đó ta mới biết trong hàng ngũ lãnh đạo của VN, những ai có chủ trương kiên định « xã hội chủ nghĩa » ? những ai có chủ trương « xóa » XHCN ? Những ai chủ trương xem Mỹ là kẻ thù « chiến lược » và những ai muốn quan hệ và xem Mỹ là đồng minh ? Nhờ vậy ta mới có thể biết được phần nào « đường đi nước bước » của phía TQ. Họ đã « gài người » như thế nào ? họ đã phân hóa « nhân sự » VN ra sao ?
Nhiều người cho rằng, muốn biết nội dung hội nghị Thành Đô thế nào thì nên hỏi Đổ Mười, vì ông này có tham gia hội nghị. Theo tài liệu này, Đổ Mười là nhân tố quan trọng ủng hộ Võ Văn Kiệt (và Nguyễn Mạnh Cầm) « trụ » lại, trong khi hai ông này chủ trương xóa bỏ XHCH. Nếu vậy thì ông Đổ Mười chưa chắc đã « theo Tàu ». Muốn hỏi thì nên hỏi Lê Khả Phiêu.
Còn về vấn đề biên giới lãnh thổ, hải phận, ta cũng biết một điều quan trọng. Lãnh đạo CSVN đã nhìn nhận « có ba vùng biển tranh chấp » với TQ. Vùng biển tranh chấp thứ ba là vùng biển Trường Sa (vùng phía tây bãi Tư Chính). (Một số « học giả » của Quĩ Nghiên cứu Biển Đông trước đây chấp nhận thực tế này, vì vậy đã đề xướng chủ trương « khai thác chung » với Trung Quốc. Không ai lúc đó có thể giải thích câu hỏi tôi đặt ra là nguyên nhân vì đâu “có tranh chấp ở Trường Sa”, vì sao phải “khai thác chung” với TQ ? Tôi bị những học giả này kết án là “duy ý chí” – sic!)
Dĩ nhiên, như những tài liệu khác (chính thức hay không chính thức) xuất phát từ phía CSVN, ta chỉ có thể kiểm chứng sự thật ra sao qua một thời gian (so sánh dữ kiện và) chứng nghiệm trên thực tế. Quí độc giả thử đọc tài liệu này, sau đó rà soát lại với kinh nghiệm và thực tế để có một kết luận về quan hệ VN và TQ.
*****
Từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, CNXH ở Đông Âu và Liên Xô xụp đổ đã tác động mạnh mẽ vào xã hội và nội bộ đảng ta, tư tưởng của chủ nghĩa cơ hội phát sinh, phát triển trong đa số cán bộ cao cấp và đảng viên. Đến đại hội đảng lần VI nổi lên từ Trần Xuân Bách, uỷ viên bộ chính trị- trưởng ban tổ chức trung ương đảng đã ngóc đầu dậy đòi đa nguyên đa đảng nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của đảng, thực hành kiểu dân chủ Phương Tây. Theo con đường TBCN. Lúc đó, TW và bộ chính trị đảng ta còn mạnh, quật ngã Trần Xuân Bách ngay. Tháng 3/1990, hội nghị Bộ chính trị- ban chấp hành đã cách chức một số trung ương uỷ viên và khai trừ đảng đối với Trần Xuân Bách.
Bước vào thời kỳ đổi mới, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, tư tưởng cá nhân thực dụng,…. Làm cho cán bộ, đảng viên càng sa sút phẩm chất, đảng bị suy thoái. Một bộ phận đồng chí mơ hồ lập trường Phương Tây, muốn quay lưng với đảng, với chủ nghĩa xã hội,… Võ Văn Kiệt, thủ tướng chính phủ, uỷ viên bộ chính trị, xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, đòi xoá bỏ CNXH, đi theo con đường TBCN trung lập.
Cuối đại hội đảng lần thứ VII , ngày 9/8/1995, Võ Văn Kiệt đưa ra cương lĩnh trình bộ chính trị (dài 30 trang) , lúc đó anh Linh (đương nhiệm Tổng bí thư) nghiên cứu đưa vào báo cáo bộ chính trị. Đến đại hội đảng lần thứ VIII đòi bỏ định hướng XHCN, bỏ kinh tế quốc doanh, bỏ hợp tác xã, bỏ “Điều 4 hiến pháp”, thực hiện dân chủ triệt để.
Lúc đó, Nguyễn mạnh Cầm đưa ra luận điểm “không còn đấu tranh giai cấp”. Mỹ không phải là đối tượng chiến lược (kẻ thù) của Việt Nam. Thế giới đang cần hợp tác, đến lúc cạnh tranh kinh tế chứ không phải coi nhau như kẻ thù (đường lối ấy phù hợp với chiến lược Châu á thái bình dương của Mỹ).
Ngày 10/10/1995. Bộ chính trị đưa vấn đề của Kiệt, Cầm nêu trên, ra thảo luận 1 ngày không xong. Ngày hôm sau đưa ra thảo luận tiếp. Lê Khả Phiêu phát biểu trước (đương nhiệm là TCCT-Uỷ viên bộ chính trị). Đương nhiên là đấu tranh quyết liệt với quan điểm sai trái trên đây của Kiệt và Cầm . Sau khi phát biểu xong, anh Linh hỏi ai có ý kiến gì phát biểu thêm ? Thì Lê Đức Anh nói: “ đúng”. Anh Linh và bộ chính trị không ai phát biểu gì cả. Kiệt xin lỗi anh Phiêu và nói : ” Anh phê phán tôi như vậy là quá đáng, và phân trần: độc lập dân tộc, xoá CNXH , tài liệu đó là anh em họ viết ra, tôi chỉ ký mà thôi “.Phiêu đấu tranh tiếp: ” Anh nói vậy hoá ra anh là người hai mặt à”
Ngày hôm sau tiếp tục đưa vấn đề này ra thảo luận, giữa Kiệt và Phiêu đấu tranh qua lại rất căng thẳng. Bộ chính trị cũng không ai có ý kiến gì. Đỗ Mười nói: ” Còn khó quá, hãy hoãn lại, sau sẽ thảo luận”. Nhưng rồi cũng tạm gác… Tiếp tuần sau đưa ra thảo luận. ý kiến của Cầm và Mười cũng lừng chừng, bảo Phiêu phát biểu trước. Cầm thấy không ai có ý kiến gì cũng làm thinh. Đến đó, bộ chính trị dừng lại không có kết luận cuối cùng. Vũ Oanh thì muốn bỏ CNXH.
Đến đại hội 9 Ban chấp hành trung ương khoá VII (từ 16 đến 23 tháng 2/ 1996), hội nghị bộ chính trị trung ương thông qua dự thảo báo cáo chính trị đại hội đảng lần thứ VII , một số TW uỷ viên buộc Đỗ Mười đưa vấn đề của Kiệt , Cầm ra thảo luận lại. Lúc bấy giờ chỉ có một số uỷ viên trung ương khu vực miền trung đấu tranh phê phán quyết liệt quan điểm của Kiệt, Cầm. Các đồng chí ấy phân tích “ nếu một quần chúng có quan điểm như Kiệt thì có thể kết nạp vào đảng được không? Nếu một đồng chí có quan điểm như vậy có bầu đi dự đại hội đảng, vào Trung ương hay không? Đây là phần xem xét tư cách đưa ra khỏi đảng”
Đỗ Mười lại thoả hiệp đứng ra bào chữa, thanh minh cho Kiệt. Mười cho đó là nhận thức lệch chứ không có vấn đề gì đâu. Đỗ Mười lúc này muốn ổn định nội bộ. Lê Đức Anh vẫn làm thinh. Nguyễn Chản phê phán Cầm là mơ hồ giai cấp. Tại sao cho Mỹ là bạn chứ không phải là thù ? Chản phân tích đập mạnh quan điểm của Cầm. Cần tự ái phản ứng, cho Chản là lên mặt dạy đời.
Bước vào hội nghị TW lần 10 trù bị lần 1. Kiệt, Anh bị thiểu số phiếu (Kiệt 20 , Anh 60 phiếu), Không đủ phiếu ở lại trung ương, đủ điều kiện để loại Kiệt. Nhưng đến hội nghị trung ương lần thứ 11, trù bị chính thức nếu bầu, thì Đỗ Mười quay ngoặt 180 độ: “ yêu cầu Kiệt ở lại Bộ chính trị, chứ một mình tôi không làm nổi”
Đại hội đảng lần thứ VIII(từ 26/6 đến 1/7/1996), Đỗ Mười: Tổng Bí Thư. Anh, Kiệt, Cầm, Phiêu ở lại bộ chính trị . Trong hội nghị trù bị , đấu tranh về nhân sự đã diễn ra rất gay cấn. Ra Đại hội, anh Linh công khai vạch thẳng hiện tượng tiêu cực, suy thoái trong đảng ở ngay trong Bộ chính trị.
Anh Linh nói : “Dột từ trên nóc dột xuống”. Đỗ Mười thanh minh “ mía sâu có đốt, nhà dột có chỗ”.
Họp Ban chấp hành TW lần 4 khoá 8 từ ngày 23 đến 29 tháng 12/1997 xem xét vấn đề nhân sự cấp cao và thảo luận 11 vấn đề về quan điểm, chủ trương, chính sách quan trọng. Vấn đề thứ 11 là: ” khắc phục tình trạng thoái hoá trong cán bộ, đảng viên”, rồi đi đến quyết định một số vấn đề về nhân sự: Kiệt, Anh, Mười còn ở lại hay nghỉ? Anh năm Công (Võ Chí Công) cố vấn đề nghị: cả 3 nên nghỉ (nhưng cả 3 đều muốn ở lại Bộ chính trị). Vấn đề là chọn Tổng bí thư thay cho Đỗ Mười?
Lúc đầu thì anh Đồng, anh năm Công giới thiệu Cầm. Nhưng sau đó có nhiều ý kiến về Cầm nên thôi không chọn. Năm Công lại giới thiệu Nguyễn Văn An. Anh Linh thì muốn giới thiệu Nguyễn Xuân Tùng, nhưng Tùng có vụ lộn xộn ở Sài Gòn nên thôi. Sau đó anh Linh xem lý lịch của Phiêu, thấy Phiêu chưa làm bí thư tỉnh hoặc thành phố lớn nào, anh Linh ngập ngừng hỏi Lê Đức Anh xem giới thiệu ai? (bấy lâu nay ta đã hiểu lầm Anh đưa Phiêu làm TBThư để điều khiển, song không phải như vậy. Vì khi Anh làm chủ tịch nước, Đoàn Khuê làm bộ trưởng quốc phòng, Anh làm Phó bí thư quân uỷ trung ương nhưng Mười giao hẹn quyền hạn cho Anh. Vì quyền hạn chức Bí thư quận uỷ trung ương hơn nên Anh muốn làm Tổng Bí Thư để kiêm luôn chức ấy).
Sau đó . Anh bị tai biến mạch máu não. Đoàn Khuê và một số cán bộ tích cực ủng hộ đưa LKPhiêu làm tổng bí thư để giữ Chủ Nghĩa xã hội.
Kiệt, Mười, Anh, mặc dù có ý kiến của anh năm Công đề nghị nghỉ, 3 vị cứ bấu víu ở lại. Khi anh Đồng xin rút khỏi cố vấn (cả anh Linh và anh Công cũng vậy), anh nói với Kiệt, Mười, Anh là không ở lại bộ chính trị thì làm cố vấn. Mười tỏ vẻ phấn khởi. Anh lừng khừng. Nhưng rồi cả 3 đều phải rút khỏi bộ chính trị để làm cố vấn.
Đến đây, tháng 12/1997 Đỗ Mười chuyển giao chức TBT cho LKPhiêu (xem tài liệu riêng). Bộ chính trị lúc này gồm: Cũ có Phiêu,TD Lương, Trương tấn Sang, Lê Minh Hương, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng. Mới có Khải, Ngân, Lê Minh Triết, Phan Diễn, NPhú Trọng, Nguyễn Đức Bình, Phạm Văn Trà, Tùng, Thị Mỹ.
Thế là từ tháng 12-1997 đến đầu năm 2001 Lê Khả Phiêu đảm nhiệm cương vị TBT. Phiêu làm được nhiều việc , tiêu biểu cho ý chí đấu tranh , kiên định đường lối , dương cao 3 ngọn cờ.
1.- Kiên định con đường tiến lên CNXH , giữ vững định hướng XHCN .
2.- Đối ngoại giữ vững độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế ( hoà nhập chứ không hoà tan ).
3.- Đối nội đề ra cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn đảng , tập trung và khắc phục sự suy thoái trong đảng , mục tiêu đấu tranh chủ yếu là chống tham nhũng . Trong vấn đề này LK Phiêu đã mạnh tay xử lý 1 số cán bộ ở cấp cao , cách chức Phó Thủ Tướng Ngô Xuân Lộc , cảnh cáo bãi chức Kiêm Tổng Giám Đốc ngân hàng và hàng mấy chục cán bộ cấp tỉnh tập trung ở phía nam .
Với tác phong giản dị, chan hoà trong quần chúng, sát dân, xông pha trong bão lũ, giải quyết kịp thời những vấn đề cứu dân trong lúc khó khăn… Nói thẳng, phân biệt đúng, sai, có uy tín đối với quần chúng. Khôi phục uy tín đng và mối quan hệ dân với đảng, dân tin đảng.
Cũng trong thời điểm cuối 2000 đầu 2001 địch + phần tử xấu trong , ngoài nước tung dư luận đòi ta thay đổi đường lối. Mỹ ép ta bỏ điều 4 trong hiến pháp, đòi gác lại CNXH, đổi tên đảng, tên nước, sửa đổi quốc kỳ, quốc ca… Song ta không ngờ và không hề nghĩ tới việc thay đổi đường lối chính trị, tổ chức lật đổ lại chính nằm trong âm mưu của 3 anh cố vấn (đến đại hội IX bột phát ta mới hiểu).
Thời kỳ đương nhiệm (trước đại hội IX) có mấy hoạt động nổi bật của TBT LK Phiêu, và cũng chính những hoạt động này bị 3 anh cố vấn lên án:
-Xử lý Ngô Xuân Lộc (bị Đỗ Mười phản đối).
-Thành lập tổ chức A10.
-Hoãn ký hiệp ước thương mại Việt – Mỹ
-Thăm TQ-Hội đàm với GiangTrạch Dân.
-Thăm châu Âu (Có Thị Dung cùng đi trong đoàn).
-Trực tiếp đối thoại với Bin Clin-Tơn.
+Chuẩn bị đại hội đảng IX
Một mặt đưa dự thảo báo cáo chính trị thu thập ý kiến tham gia c?a mọi tầng lớp nhân dân. TBT LK Phiêu đi sát cơ sở dự Đại hội đảng bộ cơ sở tận chi bộ. Không khí dân chủ tin tưởng, phấn khởi trong đảng và ngoài xã hội tăng cao.
Đồng thời trong lúc này 3 anh cố vấn cũng bàn mưu , tính kế chuẩn bị đảo chính trong đảng trước khi khai mạc đại hội .Họ lập kế hoạch , tạo chứng cớ giả , tập trung mũi nhọn nhằm lật đổ TBT LK Phiêu ( Phiêu không biết ). Ba anh cố vấn mớm cho Hữu Thọ ( trưởng ban Tư TưởngVăn Hoá TW ) tung dư luận trong cuộc họp báo tại thành phố HCM: ” nhiệm kỳ đại hội đảng tới Lê Khả Phiêu nên nghỉ ” . Thọ phát biểu rất vô nguyên tắc vì chưa đại hội và Bộ chính trị, TW chưa có ý kiến gì về nhân sự đại hội.
Trong lúc TBT- Lê Khả Phiêu lo chuẩn bị cho đại hội thì 3 anh cố vấn ráo riết chuẩn bị vùi dập, vu khống, lật đổ Phiêu. Trực diện vu khống, đả kích, thực hiện mưu đồ đo chính trong đảng trước đại hội IX khai mạc lần lượt diễn ra như sau:
-Sáng 10-10-2000 Phiêu mời 3 cố vấn họp để thăm dò chuẩn bị nhân sự cho đại hội IX . Phiêu nêu ý kiến 1 số đ/c nên rút ra khỏi Bộ chính trị là :Nguyễn Đức Bình , Phạm VănTrà , Nguyễn Mạnh Cầm, Tùng, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Tấn Dũng và Trần Xuân Giá ra khỏi TW, rồi nêu thôi chế độ cố vấn…
Cùng lúc này Lê Đức Anh bắt tay Trần Đức Lương, mớm: “ Lần này anh sẽ phải làm Tổng Bí Thư “. (Lương hí hửng mừng thầm).
Chiều 10-10 cố vấn ra đòn tấn công đợt 1.
-Cố vấn đưa ra đề nghị trẻ hoá TW Bộ chính trị dưới 50 tuổi ( như vậy thì Bộ chính trị chỉ còn 1, Tw còn 60 người). Nhưng 3 cố vấn cảm thấy khó thực hiện, khó có sự đồng tình.
Ngày 3-1 đến 11-1-2001 Đại Hội đảng toàn quân, cố vấn tấn công đợt 2.
Trong đại hội này LĐ Anh đột ngột buộc LK Phiêu 10 tội:
1.- Bán đất, bán biển cho Trung Quốc.
2.- Lộ bí mật ý đồ chiến lược với Giang Trạch Dân.
3.- Độc đóan thiếu dân chủ.
4.- Thành lập A10 âm mưu lật đổ nội bộ.
5.- Quan hệ bất chính với gái và quan hệ với gái gián điệp.
6.- Hoãn ký hiệp định thương mại Việt – Mỹ.
7.- Trực tiếp đối thoại với Clin-Tơn quá cứng rắn.
8.- Đề bạt Lê Hải Anh là 1 tên đào ngũ lên thứ trưởng Bộ Quốc Phòng.
9.- Địa phương chủ nghĩa (Thanh Hoá hoá, Hà Nội hoá, lôi kéo người Thanh Hoá lên trung ương).
10.- Lôi lại vụ Xiêm Riệp.
Trong lúc này LĐ Anh mắng thẳng vào mặt Phạm Thanh Ngân là đồ ngu và tập trung vu khống Phiêu về tội vô nguyên tắc trong việc thành lập A10 (tổ chức chuyên theo dõi nội bộ) và bán đất, bán biển cho Trung Quốc… làm cho toàn bộ những người có mặt trong đại hội ngơ ngác.
Phiêu và Ngân có thanh minh.
Cố vấn không kết tội Phiêu được lại buộc Phiêu nhận kỷ luật và bảo: Phiêu phải từ chức ngay. Phiêu bị đột ngột, bất ngờ nên thanh minh vài điểm xung quanh vụ A10 và nói: “Nếu tín nhiệm thì tôi tiếp tục làm, không thì thôi.”
Sau đó các cán bộ lão thành cách mạng gây áp lực, động viên Phiêu làm lại không nên rút lui…
+Từ đầu tháng 1 đến đầu tháng 2-2001
Không kết tội được, chưa đánh bại được ý chí của LK Phiêu, ban cố vấn phân công nhau đi vận động để tìm kiếm sự ủng hộ của các đ/c uỷ viên TW, uỷ viên Bộ chính trị, tướng lĩnh về hưu để lật đổ các đ/c cầm đầu bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước, nhưng vẫn tập trung mũi nhọn vào TBT LK Phiêu.
Ngày 13-1-2001 Đỗ Mười gọi điện thoại cho Nguyễn Đức Tâm (nguyên UV Bộ chính trị – trưởng ban Tổ chứcTW cũ ) đang ở Hải Phòng báo sẽ gặp Tâm để thông báo một số tình hình , nhưng Tâm bận. Đến 6-2-2001 Mười mới gặp Tâm (LĐ Anh đã cho người thông báo tình hình với Tâm trước) Hỏi Tâm có ý kiến như thế nào về những điều đã được Anh thông báo? Rồi Mười phân tích phê phán việc Phiêu quyết định thành lập A10 là sai nguyên tắc. Rồi Mười trao cho Tâm một bản án LK Phiêu dài 7, 8 trang trong đó đặt vấn đề : Phiêu quan hệ trai gái với Thị Hà, thị Dung là gián điệp Mỹ… Mười còn trao cho Tâm 1 tấm ảnh nói là : “ảnh chụp được từ nước ngoài “. Mười còn vận động Tâm đòi thay đổi 50 % uỷ viên Bộ chính trị, nhất là 3 người chủ chốt: Phiêu, Lương, Khải và điều NĐ Mạnh sang công tác khác. (Xem bản báo cáo của Tâm với Bộ chính trị).
+Đòn tấn công thứ 3.
Sau 1 tháng ráo riết vận động đến 5-2-2001 hội nghị TW 11a họp trù bị. LĐ Anh chính thức đưa 10 tội của LK Phiêu ra trước hội nghị. Buộc hội nghị tập trung thảo luận đấu tranh phê phán Phiêu về quyết định thành lập A10. Cho Phiêu là lộng quyền, vi phạm nguyên tắc nghiêm trọng , định lật đổ TW& Bộ chính trị gây nghi ngờ nội bộ… Anh tiếp tục buộc Phiêu từ chức trước khi khai mạc đại hội IX.
Vấn đề thành lập A10 như sau:
Nguyên từ trước năm 1995 LĐ Anh nắm hội đồng an ninh, quyết định nâng cục II lên thành tổng cục II (TCII) , giao cho nó quyền hạn, nhiệm vụ vượt quá chức năng ( thành cơ quan tình báo chiến lược quốc gia ) lại làm cả nhiệm vụ của an ninh phản gián. Võ Văn Kiệt ra QĐ 96 sau đó NĐ Mạnh ra pháp lệnh thành lập cơ quan phối kiểm tin (gồm CA, TCII, cục bảo vệ QĐ). Để nắm vững TCII, LĐ Anh nhận Nguyễn Chí Vịnh (một thanh niên hư hỏng, con trai Nguyễn Chí Thanh) làm con nuôi nâng đỡ, ô dù đưa vào quân báo đề bạt nhanh lên đại tá phụ trách tổng cục phó TC II.
Dựa vào thế LĐ Anh, TC II ngày càng lộng hành cho nên công tác phối kiểm tin không còn chuẩn xác , nội bộ TCII phức tạp , đưa tin không chính xác và nhiều việc làm sai trái. Ví dụ tên Nguyên thư ký cho Phan Văn Khải cùng tên Tô Luyến cục 11, TCII định bắt cóc Võ Thị Thắng bức cung buộc Thắng phải nhận làm việc cho địch khi Thắng bị địch bắt trong kháng chiến để lập hồ sơ giả trị tội chị Thắng. May là ta đã phát hiện kịp thời chặn đứng lại . Ví dụ khác là, chúng đã đưa 1 số tài liệu, cán bộ của ta bị địch bắt trước đây đã đầu hàng và nhận nhiệm vụ địch giao . Họ nói tài liệu này do cơ sở điệp báo của ta từ nước ngoài cung cấp . Song thực tế tài liệu đó là ta thu được của địch từ khi giải phóng miền Nam. Trước đó Vũ Chính thiếu tướng là cục trưởng cục II (xem thêm tài liệu vương triều Vũ Chính – cha vợ của Vịnh) có đề nghị LK Phiêu đề bạt Nguyễn Chí Vịnh lên hàm thiếu tướng và đưa vào TW nhưng bị Phiêu bác bỏ. Trong lúc này có tên Kế đại tá TCII bí mật lập đường dây viễn thông liên lạc với nước ngoài bị cục bảo vệ an ninh phát hiện . Đứng trước tình hình lộn xộn đó LK Phiêu họp với Trà , Ngân định thành lập nhóm A10, thành phần gồm TC II , Cục bảo vệ an ninh, Tổng cục chính trị, thành lập một bộ phận phối kiểm tin địch, ta tránh tình trạng mạnh ai nấy báo (một việc mà 2 nguồn tin đưa ra khác nhau). Cử Trà làm tổ trưởng A10, Trà lại đề cử Ngân làm. Phiêu giao Vũ Chính làm kế hoạch. Vũ Chính đưa bản thảo cho Phiêu xem . Phiêu thấy Vũ Chính đề ra nhiệm vụ, quyền hạn A10 quá to. Phiêu xoá đoạn ” theo dõi lực lượng cấp tiến trong và ngoài quân đội”. Chính về viết lại thành 1 bản chính theo nội dung Phiêu đã sửa kèm theo phụ lục hướng dẫn lại để nguyên không sửa. Chính đưa cho Ngân thông qua . Ngân đem bản chính không xem phụ lục, Ngân ký chuyển cho Phiêu. Phiêu thấy Ngân ký rồi tưởng đã chữa theo ý Phiêu, Phiêu cũng không xem phụ lục, Phiêu ký. Trong văn bản đề chức danh là “Bí thư quân uỷ TW” chứ không đề thay mặt quân uỷ TW. Sau khi Phiêu ký, Chính thấy Phiêu sơ hở, sai sót rồi, Chính đem văn bản đó giao cho LĐ Anh. Anh chớp lấy lên án là Phiêu lộng quyền , độc đoán , phạm nguyên tắc không qua tập thể Quân Uỷ TW. Từ đó quy ra tội như thế là Phiêu chủ trương theo dõi cán bộ cao cấp TW, cán bộ trong và ngoài quân đội. Như thế là theo dõi cả Bộ chính trị, mang ý định âm mưu lật đổ. Và đòi Ban chấp hành TW phải kỷ luật Phiêu, buộc Phiêu phải từ chức ngay.
Qua đấu tranh thẳng thắn, có 1 số ý kiến bảo vệ Phiêu, Phiêu chỉ sơ hở về hành chính, không phạm sai nguyên tắc. Phiêu chứng minh bằng lấy bản thảo mà Phiêu đã gạch bỏ đoạn theo dõi thượng cấp đến… mà do Chính không sửa khi ký vào bản chính thức. Chỉ có thiếu sót là không xem lại kỹ phụ lục kèm theo, không phải độc đoán mà có họp thường vụ đảng uỷ quân sự TW (Phiêu, Trà, Ngân) quyết định thành lập A10 (Lúc này Trà cứ ngồi im ậm ừ để 1 mình Phiêu thanh minh). Phiêu bình tĩnh: “Thưa anh sáu Nam -LĐ Anh – Nếu anh nói tôi lộng quyền thì việc lộng quyền ấy đã xảy ra từ năm 1995 khi anh đưa cục II lên thành TCII cho nó hoạt động quá phạm vi hoạt động cuả nó đấy! Nếu anh nói tôi nghi kỵ thì anh hãy nhớ lại khi anh lâm bệnh tai biến mạch máu não, anh không chịu uống thuốc, không dám ăn. Chị khóc lóc sợ anh chết, chị chạy sang nhà tôi, nhờ tôi động viên bảo anh ăn, uống thuốc. Vậy chính anh mới là người nghi kỵ nội bộ.. từ đó…
Ngày đó không quật ngã được Phiêu về A10 thì đến ngày 6-2-2001 LĐ Anh dở thủ đoạn đểu cáng đổ cho Ngân cử người theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng. Ngân thanh minh không có chỉ thị, văn bản nào giao nhiệm vụ đó.
Chị Mỹ, Chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra TW, kiểm tra toàn bộ hồ sơ, giấy tờ thành lập cũng như hoạt động của nhóm A10 đều không có dấu hiệu gì là theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng như Anh vu khống. LĐ Anh đuối lý quay sang dùng thủ đoạn đê hèn hơn gán cho Phiêu là “Anh rỉ tai cán bộ phụ trách A10 theo dõi”. Phiêu phản bác lại… Trần Đức Lương ôm mộng sẽ được làm TBT (Như LĐAnh mớm) Lương trực tiếp chất vấn thiếu tướng cục trưởng bảo vệ an ninh “ Phiêu, Ngân có rủ đến anh không?” và đe doạ “nếu anh không nói tôi kỷ luật anh”. Trước hành động bỉ ổi của Lương thiếu tướng An phản bác vì sự thực không có. LĐ Anh đã dùng ngón cuối cùng là gọi Nguyễn Chí Vịnh làm chứng là Phiêu và Ngân có rỉ tai y. Chứng cứ như vậy Phiêu, Ngân thanh minh sao được. Thấy sự thực là chúng vu khống nên hội nghị bỏ ngỏ, cho qua không kết luận gì. Hội nghị TW 11a giải tán.
Sau Hội nghị TW 11a LĐ Anh phái Sơn thư ký riêng đến từng nhà cán bộ cao cấp lão thành từng là UV Bộ chính trị, UVTW, một số tướng lĩnh quân đội về hưu như Chu Huy Mân, Trần văn Quang, Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Quyết, Tố Hữu, Đồng Sỹ Nguyên… Đến Nguyễn Đức Tâm, Sơn nêu tội Phiêu về vụ A10 và trao bản vạch tội Phiêu dài 6,7 trang để thuyết phục và nói các đ/c lão thành ủng hộ lật đổ Phiêu. Song tất cả đều khước từ và có đơn tố giác phản bác gửi đến Bộ chính trị và TBT.
Đồng thời sau hội nghị 11 a việc vu khống, đả kích của 3 vị cố vấn dùng lật đổ, đảo chính trong đảng trước hết là hạ bệ LK Phiêu lan ra khắp nước. Trong cán bộ lão thành cao cấp, nhiều nơi nhiều cá nhân, tập thể của chi bộ biên thư , kiến nghị dồn dập gửi về TW, BTL , Bộ chính trị, bảo vệ đoàn kết, bảo vệ TBT LK Phiêu, lên án cố vấn chủ yếu là LĐ Anh, đòi kỷ luật cố vấn thông báo cho toàn đảng biết không thể bỏ qua. Như vậy trải gần 1 tháng đến hội nghị Tw 11 b khai mạc vẫn tiếp tục đấu tranh.
+LĐ Anh tấn công Phiêu lần thứ 4.
LĐ Anh nêu vụ Phiêu đi thăm TQ đối thoại với Giang Trạch Dân là phạm tội bán đất , bán biển, là lộ bí mật chiến lược của đảng, là độc đoán. Đi về không báo cáo với Bộ chính trị, không cho Nguyễn Mạnh Cầm cùng dự họp là biểu hiện sự thậm thụt sao đó…
Sự thật vụ việc này là: Xuất phát từ phía TQ, GT Dân mời Phiêu sang thăm. Ta thăm dò ý của họ chỉ TBT gặp TBT? Họ trả lời mỗi bên 4 người: TBT, thư ký TBT, trưởng ban đối ngoại TW, chánh văn phòng TW. Ta cũng muốn nhân dịp này thăm dò thái độ của TQ đối với Mỹ, đối với CNXH. Kế hoạch đi thăm do ban đối ngoại TW làm, Mạnh Cầm thông qua… Khi vào phòng họp do sơ xuất Cầm bước vào phòng bị ngăn lại ngay vì không dúng thành phần quy định .
Nội dung bàn ta thoả hiệp chữa lại cột mốc biên giới ở vĩ tuyến… do TQ yêu cầu. Họ lập luận trước kia do công nhân đưa cột mốc không tới đỉnh núi đành bỏ lai sườn núi, bây giờ đưa cột mốc lên đỉnh núi.
Về biển : Hai bên đấu tranh cuối cùng đã đi đến thoả thuận xác định 3 vùng biển, ở ngoài khi Vịnh Bắc Bộ là vùng đánh cá chung của cả 2 bên.
Quan hệ với TQ ngày nay rất tế nhị. Ta ở cạnh một nước to, không thể căng với họ vì họ sát nách ta. Khi LĐ Anh phê là Cầm không được vào dự là thậm thụt ,Phiêu chứng minh kế hoạch đi hội đàm do Cầm thông qua, không dự vì không đúng thành phần do TQ quyết định. Khi họ nói độc đoán về không báo cáo Bộ chính trị, Phiêu chứng minh, có Khải làm chứng. Khải nói: “Lúc đó Phiêu có báo cáo Bộ chính trị”, Phiêu đem văn bản ngày 4 có báo cáo với Bộ chính trị, có LĐ Anh dự, ngày 28 mới đi (Cầm ngồi đó ậm ừ). Phiêu chứng minh khi về có báo ,giở văn bản ngày 1-5 Phiêu báo cáo trong phiên họp Bộ chính trị, tập văn bản có ghi; Phiêu chỉ thị cho Trần Đình Hoan triển khai (Hoan ngồi đó ậm ừ).
Đuối lý LĐ Anh lại quay sang phê bình Phiêu tại sao tranh chấp với TQ vùng biển đông lại không đưa ASEAN vào? Phiêu giải thích: “Khu Tư Chính tây Trường Sa là thuộc chủ quyền của ta, chỉ tranh chấp với TQ không dính gì đến ASEAN . Nếu thực hiện đa phương đưa ASEAN vào thì ta không còn chủ quyền 2 khu vực ấy. Nên vấn đề này chỉ có song phương, không đa phương, mà trong nguyên tắc đa phương có song phương…” Anh đuối lý. Anh tiếp tục quay sang chỉ trích và kết tội Phiêu làm lộ bí mật quốc gia. Tại sao lại cho GT Dân biết ta xác định Mỹ vẫn là đối tượng chiến lược (kẻ thù).
Vấn đề này thực chất như sau:
Khi Phiêu gặp Phi đen tại Cuba 2 bên thống nhất thế nào cũng phải giữ TQ lại, đừng để TQ vượt đà… Phi Đen nói: “GT Dân thì được, còn Chu Dung Cơ chưa rõ… cần theo dõi xem sao …” Chu Dung Cơ khi sang thăm ta, ngồi trên chuyến chuyên cơ có bộc lộ với ta “năm 1997 đã cho ta là sai” ta cũng không muốn TQ thoả hiệp với Mỹ nên nhân chuyến đi này xem TQ xác định đối tượng chiến lược như thế nào.
Qua đàm đạo GT Dân nói: “Mỹ chiả 2 tay tôi phải chiả 2 tay, phải cảnh giác, phải nắm chắc LLVT”. Rồi Dân rỉ tai Phiêu. “Mỹ là đối tượng chiến lược của TQ, không phải là đối tác”. Do đó Phiêu mới nói: “Chúng tôi vẫn coi Mỹ là kẻ thù”. Chứ không phải cố ý làm lộ bí mật quốc gia gì cả. Các cố vấn im.
Họ quay sang tấn công đòn thứ 5 mạnh hơn.
LĐ Anh, Đỗ Mười xúm nhau tố Phiêu quan hệ với gái gián điệp, tình báo Mỹ khi đi công tác sang Châu Âu, thị Hà, thị Dung và 1 phụ nữ khác nữa đồn là tình báo của Mỹ và nước ngoài. Đỗ mười đưa bức ảnh ghép Phiêu và Hà, 1 bức Phiêu ngồi cạnh thị Dung ở Pháp để làm chứng.
+Sự thực về Phiêu quan hệ với thị Hà như thế nào? Ra sao?
Thị Hà là con gái của Đặng Kinh ở Hải Phòng, trong chiến tranh Kinh là thủ trưởng của Phiêu. Trong chiến dịch tiến công vào thành cổ Quảng Trị khi địch oanh tạc vào vị trí của Kinh thì Phiêu lấy thân mình che chắn cho Kinh. Từ đó gia đình Kinh gắn bó với Phiêu. Thị Hà và Phiêu có cảm tình, dan díu… Nhưng khi Phiêu về Tổng cục chính trị, vào Ban Chấp Hành TW có đưa vấn đề này ra kiểm điểm. Phiêu đã cắt quan hệ, các cố vấn, cơ quan quân sự (có lẽ là cục II ) ghép ảnh Phiêu với Hà rồi đưa cho Vợ Phiêu xem để kích động ( thật bỉ ổi !) rồi đưa ra hội nghị TW vu khống Phiêu. Nhưng thị Hà thời kỳ Phiêu làm TBT, Hà vẫn rêu rao khoe khoang TBT Phiêu vẫn còn quan hệ yêu đương với cô ta. Phiêu đành chịu. Sự việc gác lại đó. Nhưng Hà đâu có phải là gián điệp.
Thị Dung là nhân viên 1 tổ chức kinh tế, đơn vị cử đi trong phái đoàn Phiêu sang Châu Âu. Trong lúc đang hội đàm tại Pháp, có cả đoàn ta, đoàn quốc tế, có Dung đi cùng. Cố vấn sử dụng (TC II) in ảnh bôi lem mặt những người xung quanh chỉ còn lộ ra hình Phiêu và Dung. Họ đưa ra trước hội nghị TW (quá bỉ ổi!) để chứng minh Phiêu ra nước ngoài lén lút quan hệ với gái gián điệp. Lúc đó Nguyễn Mạnh Cầm không còn nén được nữa bật đứng lên phản bác: “Hôm đó có tôi ở sau lưng anh Phiêu, tại sao xoá mặt tôi đi”. Thế là thủ đoạn vu khống bị lật tẩy hoàn toàn.
Chưa dừng ! Nguy hiểm hơn. Họ lại quay sang tấn công đòn thứ 6.
LĐ Anh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt (Xuất chiêu đủ 3) LĐ Anh, Đỗ Mười cho rằng Phiêu trực tiếp đàm thoại với Clin-Tơn như vậy là quá cứng rắn, quan hệ với Mỹ sẽ khó khăn… VV Kiệt phát biểu với giọng thống thiết “Đ/ c Phiêu làm như vậy thì công lao chúng tôi đặt quan hệ với Mỹ lâu nay (mở cấm vận, quan hệ bình thường, các nước của Mỹ đầu tư, cho vay) coi như công dã tràng xe cát? Rồi đây sẽ hạn chế đầu tư, cho vay, công cuộc xây dựng kinh tế, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ khó khăn (luận điệu này đương nhiên đã tác động tâm lý nhiều người đâm lo, có sức thuyết phục rộng rãi các nghành, các cấp làm kinh tế… thật là nguy hiểm và nguy hại nếu đảng ta không kịp thời đấu tranh)”.
Còn Đỗ Mười, Trần Xuân Giá hùa vào phê phán quyết liệt LK Phiêu, lên án tiếp tội lỗi của LK Phiêu làm trì hoãn ký kết hiệp định thương mại. Cố tình gây cản trở Mỹ và các nước mở rộng đầu tư.
+Hai sự kiện hư thực, đúng sai như thế nào?
1.- Việc tiếp xúc với Clin-Tơn TT Mỹ.
Khi Clin-Tơn tiếp xúc và nói chuyện với giáo viên, sinh viên tại trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội với giọng trịch thượng, tiếp xúc với 1 số nơi nhằm xoá nhoà tội ác, đánh đồng ta như Mỹ. Chính Phiêu muốn tỏ cho Clin Tơn biết rằng: “Lịch sử là không thể phủ định, không thể xoá nhoà, không thể đánh đồng người bị xâm lược với kẻ đi xâm lược, lên án Mỹ chia cắt nước ta, gây chiến tranh xâm lược ta chứ không phải nhân dân ta gây chiến”, Làm cho Clin Tơn không được chơi trội, gây mơ hồ ảo tưởng… nội dung ứng xử của Phiêu đã được cán bộ, đảng viên nhất trí, các cụ hưu trí và nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, hả dạ. Tại sao 3 cố vấn và Giá lại buồn, lại lo và phê phán?
2.- Vấn đề ký hiệp định thương mại Việt Mỹ.
Ban đầu Mỹ tự thảo bằng tiếng Anh hoàn toàn. Nguyễn Tấn Dũng và Mạnh Cầm ở lại Mỹ vội ký tắt rồi mang về báo cáo với Phiêu và ngày 27-7-1999 (Sau này ta mới biết lúc ấy Cầm và Dũng xin cho con học ở Mỹ, được Mỹ nhận cấp học bổng). Phiêu ngầm đưa cho các trí thức chuyên gia kinh tế tham khảo và hỏi ý kiến anh Giáp vì trong văn bản có 40 điều hoàn toàn có lợi cho Mỹ, bất lợi cho ta. Phiêu đưa Bộ chính trị, đa số đồng ý hoãn – chưa ký.
Ngày 1-4-1999 LĐ Anh thúc ép Phiêu, bảo Phiêu phải cho ký. Phiêu bảo phải chờ ý kiến tập thể Bộ Chính Trị. LĐ Anh hùng hổ nói ” ù có tập thể cũng phải ký”. Phiêu bực mình đáp “Anh nói như vậy là vô nguyên tắc”. Trong khi họp BCT để bàn thì chỉ có Tấn Dũng (Phó Thủ Tướng) và Cầm có ý kiến phải ký. Phan Diễn ngập ngừng. Phiêu gạn hỏi Diễn “Anh đồng ý ký hay không.” Diễn ấp úng: “ờ, ờ thì ký.” (Sau này ta mới biết con trai Lê Đức Anh được Mỹ cấp học bổng du học tại Mỹ)’
Sau đó ta buộc Mỹ phải xuống thang, chịu sửa lại 1 số điều khoản bất lợi cho ta, ta mới ký bằng cách ta gợi ý cho tổng thống Pháp Chiracs mời cho ta gặp Mỹ tại Pháp trong chuyến công cán Châu Âu. Phiêu gặp Clin Tơn qua hội đàm ta hé mở ý tứ mập mờ cho Clin Tơn ngầm hiểu ” Nếu Mỹ không chơi với ta thì ta chơi với EU, Nhật, TQ. Từ đó Mỹ sửa và ta chịu ký.
Trong Bộ Chính Trị thừa nhận việc ta hoãn ký hiệp định TM Việt-Mỹ , ứng xử với Clin Tơn là đúng. Nhưng khi cố vấn đưa ra hội nghị 11b phê phán, quy tội cho Phiêu thì tất cả BCT ngồi đó làm thinh để một mình Phiêu đối đáp tại sao?). Chứng tỏ ban cố vấn có liên quan thao túng Bộ Chính Trị.
Chưa thôi! Họ tập trung vơ vét ra đòn thứ 7.
Họ quay sang phê phán Phiêu tại sao sử dụng Nguyễn Chí Trung làm thư ký riêng. Họ vu khống là lý lịch Trung không rõ, nào là thành phần trên, gia đình thuộc lớp trên, quan hệ chính trị xấu (trước kia) nhưng không phải vậy.
Đến khi chị Mỹ phát biểu tổng hợp và kết luận 3 vụ đều là vu khống hiểm độc của ban cố vấn. Chị Mỹ chất vấn: “Những vấn đề các cố vấn đưa ra là gốc ở đâu? Vấn đề A10, vấn đề TQ, vấn đề quan hệ với gái gián điệp chả phải là vấn đề gì cả. Chị Mỹ cho là vu khống.
Họ lại quay sang vu khống chị Mỹ (Chủ Nhiệm Uỷ Ban Kiểm Tra TW). LĐ Anh trực tiếp tố cáo chị Mỹ là ăn hối lộ với Lê Minh Hương. Đ/c M Hương vặn lại: “Anh nói chắc không?” LĐ Anh nói chắc, giả đò về lấy sổ tay ra có ghi mấy dòng để chứng minh. Hương báo với Phiêu. Phiêu cử người đi xác minh là không có. Hỏi lại Anh. Anh từ chối là không có tố cho chị Mỹ . Hương nói: “Chính anh báo với tôi mà! Anh Anh?”
Những vấn đề khác như đề bạt Lê Hải Anh, vấn đề Xiêm Riệp, địa phương chủ nghĩa đều là chuyện vụn vặt, hội nghị không ai bàn đến làm gì.
Cuối cùng hội nghị 11a, 11b đều không có cơ sở, lý do gì để kết tội, thi hành kỷ luật đối với LK Phiêu.
Phiêu còn 2 việc tồn đọng khó thanh minh.
1 là vụ rỉ tai Vịnh, 2 là việc quan hệ với Hà.
Nhưng còn nhiều vấn đề đối với mấy ông cố vấn mà chưa nói được hết. Ví như:
1.- Vấn đề lịch sử chính trị của Lê Đức Anh: Cho con đi học ở Mỹ. Trước đây Anh đồng ý 1 bộ phận chuyên môn của Mỹ ở lại bệnh viện 108 để nghiên cứu (Đoàn Khuê và LK Phiêu bác bỏ).
Tình hình bạo loạn ở Tây Nguyên thì Anh nói là chuyện trẻ con, chúng nó làm gì lấy được Tây Nguyên. Phiêu lại nói: “Đó là vụ bạo loạn chính trị đằng sau là Mỹ – dẹp ngay”.
LĐ Anh nhận tiền Đặng Đình Loan (Phần tử xấu) tên Bích (Phần tử yếu kém bên bộ công an), tên Tư Không ở tp HCM (cũng loại xấu) đưa vào làm việc ở bộ phận thư ký của Phiêu bị Phiêu bác. Trước đây LĐAnh sử dụng và hậu đãi Trần Đình Hoan để y làm loa nói xấu anh Giáp. LĐAnh còn thuyết Ngô Hoàng thứ trưởng Giao Thông nhận thằng Hà là con trai của mình làm Vụ trưởng quốc tế dần dần vào TW. Hoàng xin ý kiến Phiêu, Phiêu bác (LĐAnh giận lắm). Sau đó LĐAnh đề nghị đưa Hà lên phó Giám Đốc Đại Học Bách Khoa, Phiêu nói không được.
LĐ Anh đưa toàn bộ phần tử xấu vào cương vị trọng yếu trong tổ chức đảng và nhà nước, còn ép đưa 1 số kém vào TW. Khi Anh đòi đưa Kiên (Tư Lệnh Quân Khu 7 ra thay Trà, Phiêu không đồng ý. Anh lại giữ Trà ở lại Bộ trưởng Quốc Phòng. Anh phê bình Phiêu là không tình nghĩa với Trà (Phiêu định đổi người khác thay Trà). LĐ Anh không từ ngõ ngách nào đều vu khống, moi móc nói xấu vấy lỗi cho đ/c LK Phiêu.
Còn việc con trai LĐ Anh do Mỹ nuôi học bên đó bây giờ ta mới biết! và LĐ Anh kết nạp đảng năm nào, ngày nào, ai giới thiệu, ở đâu? Lại có tuổi đảng 60 (nghe nói có cụ đã ra tận Bộ chính trị TW tố cáo Anh).
2.- Còn Đỗ Mười tại Hà Nội có ông bạn thân thiết hỏi tại sao vừa rồi anh làm như vậy (Vu khống lật đổ Phiêu) Mười trả lời: “Nó lật tôi, tôi lật lại” (Một câu trả lời “tuyệt hay” của vị nguyên TBT, nguyên cố vấn BCHTW. khó có câu nói nào ngắn chỉ 6 từ mà lột tả được đúng, chính xác cả khẩu khí và bản chất thực cuả Đỗ Mười, đồng thời cũng là khái quát bản chất, khẩu khí thực của đại đa số những vị có chức có quyền trong ĐCSVN hiện nay như vậy) Rồi Mười lại trách: “Bấy lâu nay vợ chồng Phan Văn Khải đến thăm tôi chứ Phiêu nó có đến thăm tôi bao giờ đâu”. (Khi Phiêu xử lý Ngô Xuân Lộc Mười phản đối vì Lộc ân tình với Mười, do Mười cất nhắc lên. Chính Mười cắm Phạm Thế Duyệt vào Bộ chính trị, sau khi thôi Bí thư thành uỷ Hà Nội lại làm thường trực Bộ chính trị…
+Hội Nghị Ban Chấp Hành TƯ lần thứ 12.
Khai mạc gồm 165 đoàn đại biểu (ta hy vọng các đoàn đại biểu địa phương lên sẽ thay đổi cục diện. LK Phiêu sẽ được đa số ủng hộ tái cử. LK Phiêu chưa tuyên bố rút thì Trần Xuân Giá đã phê phán Phiêu quyết liệt về hoãn ký hiệp định thương mại và cứng rắn với Clin Tơn… Khi được các nước đầu tư để phát triển kinh tế (đã làm lung lạc các đại biểu về dự dại hội). Tiếp đến Mai Thúc Lân lên gân sỉ vả LK Phiêu: “Anh là đồ lật lọng. Tại sao trước đây anh nói rút lui… bây giờ lại không rút tên trong danh sách…”. (Trước hội nghị TW 12 Anh mời Lân đến dùng cơm thân mật và Anh nói với Lân: “Lần này anh sẽ vào Bộ chính trị và làm chủ tịch Quốc Hội”. Lân hí hửng quay sang chống Phiêu).
Khi vào chương trình ứng cử vào Bộ chính trị TW trong 165 đoàn đại biểu thì có 155 đoàn giới thiệu LK Phiêu. Song lấy phiếu thăm dò cá nhân (sự thật họ làm sao không rõ do Phạm Thế Duyệt chủ trì) họ công bố chỉ có 155 đại biểu (trên tổng số hơn 1000) giới thiệu LK Phiêu? Đến lúc này Phiêu tự thấy nếu bầu cử trúng vào TW cũng thấp, vào Ban Bí thư, Bộ chính trị càng khó. Nếu trúng khó làm nên Phiêu rút ra cho an. Bằng uỷ nhiệm cho Đ/c Phan Văn Khải thông báo Phiêu rút khỏi danh sách đề cử.
Đến giai đoạn bầu TBT. Danh sách dự kiến đưa ra: Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh.
Nguyễn Minh Triết phản đối Trần Đức Lương. Triết nói: “ở miền Nam, miền Trung không ai tín nhiệm anh Lương đâu”. (Gần đây vợ chồng Lương sửa lại nhà ở trên 1 tỷ, còn chuyện gì nữa mà Triết chỉ trích Lương ta không rõ).
Thế là chỉ còn lại 1 mình Nông Đức Mạnh. Mạnh từ đầu chí cuối luôn từ chối vì trình độ năng lực. Nhưng khi Mạnh tham khảo ý kiến 1 số đ/c lão thành trung kiên thì các đ/c ấy khuyên Mạnh: ” Nếu tình huống xấu thì anh phải đứng ra nhận”. Mạnh mới nhận đề cử vào cương vị TBT.
Thế là mưu đồ đảo chính Phiêu thành công, ban cố vấn, đồng thời ghế cố vấn của các vị cũng bị xoá bỏ. Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt bị lực lượng quần chúng chỉ trích, cố xin lỗi theo kiểu đỡ đòn xuê xoa. Còn LĐ Anh nói tôi làm vậy là để tự kiêu binh, LĐAnh còn rất ngoan cố. Kiệt tuy buông lời xoa dịu nhưng còn biểu lộ ý đồ xấu xa, Kiệt nói: ” Tôi còn đi xa hơn nữa…?”
Đến đây ta có thể tạm kết luận:
Rõ ràng Bộ chính trị, BCHTW đều bị ban cố vấn vừa khống chế vừa thao túng, là do các cố vấn vừa lộng quyền vừa vô nguyên tắc và quá cá nhân. Bởi vì nhiều vấn đề Phiêu bị vu khống vô nguyên tắc. Nhiều người trong Bộ chính trị biết và thấy bị oan nhưng không dám đứng ra bênh vực, minh chứng cho Phiêu mà ngồi làm thinh như Phạm Văn Trà (vì có đến 5 toà nhà 3 bà Vợ) Quân đội không thích, bị kỷ luật khiển trách (đưa lên đài) thế mà vẫn cứ thừa nhận là đủ tư cách đại biểu bầu vào Tw!.
+Nguyên nhân sâu xa từ đâu?
-Đó là vấn đề đấu tranh giữa 2 quan điểm và 2 đường lối. Đỗ Mười thoả hiệp với Võ Văn Kiệt từ đầu.
-LĐ Anh lộng quyền muốn thống lĩnh quân đội , biến quân đội theo ý đồ riêng của mình, xích gần với Mỹ (bởi vì lịch sử chính trị của Anh còn mờ ám, không phải là đảng viên.
-Sau Võ Văn Kiệt là Trần Bạch Đằng có quan hệ rất phức tạp.
-Mỹ đang hô hào hỗ trợ muốn ta trượt nhanh vào cải cách tư nhân hoá. Ta hiện đang xoay nền kinh tế theo hướng đó. Thực tế là đang đẩy mạnh cổ phần hoá…Vấn đề đầu tư cho kinh tế quốc doanh trước đây gần 1 ngàn mấy trăm tỷ nay chỉ còn 96 tỷ thì còn làm ăn gì được nữa? Nền kinh tế của ta đang có nhiều cơ hội hội nhập và cũng đầy thử thách cam go.
+Kết Luận.
Phải chăng đánh đổi Lê Khả Phiêu là đánh đổi đường lối chính trị, tổ chức, đánh đổi ngọn cờ: Độc lập dân tộc và CNXH.
Đây là cuộc đấu tranh một còn một mất giữa 2 con đường XHCN & TBCN của đảng ta.
Bởi vì lực lượng hữu khuynh đang chiếm đa số trong đảng. Số tích cực, kiên định đường lối XHCN chỉ chiếm 1/3 trong Bộ chính trị, 1/3 trong TW, 1/3 dưới chi bộ và các cấp.
Nền nhà ta chưa vững chắc, tư tưởng chính trị chính thống của ta chưa kiên định, nền kinh tế thị trường luôn có 2 mặt.
Những sự kiện tóm lược trên đây là tình hình đã qua quá đau lòng và khó hiểu.
Ta mong rằng từ nay về sau và mãi , không xảy ra và thực hiện đúng di chúc Bác Hồ.
Tóm lược Xong đêm 21-7-2002
Nguyễn Chí Trung
Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014
Chúng Tôi Muốn Biết Thành Ðô 2014
Ngày hôm nay, hai cuộc biểu tình được tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn, đòi đảng Cộng Sản Việt Nam công bố các thỏa hiệp họ đã ký kết với đảng Cộng Sản Trung Quốc tại Hội Nghị Thành Ðô, Tứ Xuyên, năm 1990. Cuộc biểu tình này là hoạt động công khai đầu tiên của phong trào “Chúng Tôi Muốn Biết.”
Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ đàn áp; và guồng máy tuyên truyền của họ sẽ tố cáo hai cuộc biểu tình này là hành động chống Trung Quốc. Nhưng thực ra, mục đích của quý vị phát động phong trào “Chúng Tôi Muốn Biết” không chỉ nhắm vào Trung Cộng. Mục tiêu chính là Muốn Biết. Công dân bất cứ quốc gia nào cũng có quyền biết những người cầm đầu đã và đang dẫn đất nước đi theo con đường nào. Ngày hôm nay, dân Việt Nam đòi được biết rõ hơn về Hội Nghị Thành Ðô, liên quan đến Trung Cộng; họ có quyền đòi biết rõ hơn về số nạn nhân trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất; và chắc chắn người dân muốn biết số tiền bốn tỷ mỹ kim do công ty Vinashine vay rồi thua lỗ, tiền bạc chạy đi đâu nhanh thế? Hội Nghị Thành Ðô chỉ là một trong hàng ngàn chuyện người dân muốn biết. Lý do gây ra cuộc biểu tình ngày hôm nay không phải chỉ là Hội Nghị Thành Ðô, mà là đường lối cai trị bí mật của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Một người xướng xuất cuộc biểu tình Chúng Tôi Muốn Biết là nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa. Ông giải thích: “Từ khi đảng Cộng Sản lãnh đạo đất nước... theo kiểu của họ thì nhân dân có được biết gì đâu. Chính sách, chủ trương của họ hoàn toàn bí mật. Từ những năm 64-65 lúc thì ngả về Trung Quốc, lúc thì ngả về Nga. Những hiệp ước bí mật của đảng cộng sản với Trung Quốc và Liên Xô cũng như các chính sách khác, nhân dân hoàn toàn không được biết... ngay Quốc Hội mà [cũng] không biết được nữa là nhân dân!”
“Chủ trương của họ hoàn toàn bí mật,” điều này ai cũng phải đồng ý với ông Nguyễn Xuân Nghĩa; kể cả những người làm việc trong Ban Tuyên Giáo hay làm cho đài BBC. Không những đảng Cộng Sản chủ trương bí mật, họ còn thường hãnh diện về tính chất bí mật của họ. Một khối bí mật được Việt Cộng kiên trì bảo vệ, thường huênh hoang khi đem ra khoe, là những bí mật trong đời sống của Hồ Chí Minh. Ba chục năm trước tôi đọc một tập hồi ký của nhiều đảng viên Cộng Sản cao cấp viết về những lần họ gặp Hồ Chí Minh, trước khi ông về hang Pắc Bó.
Cuốn sách tên là Về Nguồn, mà nhà xuất bản giải thích đó là nghĩa hai chữ Pắc Bó. Tôi còn nhớ tên mấy tác giả, như Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Hoàng Văn Hoan, Trịnh Ðông Hải, hình như có cả ông Giáp, ông Ðồng. Nói chung, họ thuật lại những lần họ gặp và làm việc với ông Hồ; nhưng tôi không còn nhớ ông nào kể chuyện gì. Có người đang ở Côn Minh, Vân Nam hay đâu đó, làm nhân, bỗng có một đứa bé đến đưa cho tấm giấy, trên đó viết, đại khái: “Em hẹn gặp cậu ở... (trước một quán ăn hay đầu một cây cầu trong thành phố).” Biết là đồng đảng hẹn gặp nhau, đúng ngày giờ tới nơi thì chẳng thấy ai cả. Ðợi một hồi mới có một người đi qua, ăn mặc như một phú gia Tàu, đeo kính gọng vàng, quần áo Tây phương chải chuốt, với bộ ria đen nhánh. Ði qua đi lại mấy lần, “Xì thẩu” mới dừng chân, nói nhỏ bằng tiếng Việt: “Ði với tôi.” Ði một quãng đường xa mới được cho biết, đó là Hồ Chí Minh! Mỗi tác giả đều kể chuyện “Bác” với nhiều hành tung bí ẩn như vậy. Có lúc trên đường đi từ Pắc Bó lên biên giới Việt-Trung, mọi người đều cải trang như một gia đình đi kiếm ăn phương xa. Tới một làng người dân tộc thiểu số, có gia đình đang khóc lóc vì đứa con hay bà vợ bị bệnh hiểm nghèo, “Bác” đã đóng vai một ông thầy cúng chuyên trừ tà chữa bệnh. Tác giả kể ông Hồ đã thắp nhang, thì thào khấn khứa với những thần chú không ai hiểu. Hai bàn tay ông bắt quyết, rồi ông cất giọng hát một bài văn cúng bằng thứ tiếng nói của giống dân nào không biết; hai tay cầm bó nhang múa may. Ðúng là hình ảnh một ông thầy cúng chuyên nghiệp! Sau đó, “bác cháu” được đãi một bữa xôi, gà.
Ðọc cuốn hồi ký Về Nguồn rất thích thú, không biết lúc đó nhà văn Trần Ðĩnh còn được mời viết giúp mấy tác giả đó hay không! Nhưng cuốn sách đã đạt chỉ tiêu; ai đọc cũng thấy Hồ Chí Minh không những đáng tự hào là người “giác ngộ chủ nghĩa Mác Lê Nin” sớm nhất, mà còn là một nhân vật xuất quỷ nhập thần như mới từ trong Thủy Hử bước ra.
Bây giờ lại có chuyện các cán bộ Tuyên Giáo Cộng Sản Việt Nam nêu thắc mắc. Họ không tin rằng trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất ông Hồ lại bịt râu tới chứng kiến cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, như nhà văn Trần Ðĩnh kể trong cuốn Ðèn Cù. Vì Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Ðảng không thấy sự kiện đó được ghi chép ở đâu cả. Họ muốn kết luận Trần Ðĩnh bày đặt ra câu chuyện để nói xấu lãnh tụ của họ.
Khi nghe nhà báo BBC nhắc đến thắc mắc trên, tôi tưởng rằng vị cán bộ Tuyên Giáo muốn phủ nhận việc ông Hồ đi coi đấu tố. Cho nên, trong bài trước mục này đã bàn rằng chuyện ông Hồ có hay không đến xem cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm không quan trọng, mà quan trọng nhất là quyết định “giết, hay không giết” nhà tư sản nổi tiếng đã nuôi nấng, che chở cho bao nhiêu cán bộ cộng sản trong thời bí mật. Nhưng sau khi đọc bài trước, một độc giả đã viết nhắc nhở rằng quý vị cán bộ Tuyên Giáo không coi chuyện ông Hồ có hay không đến coi đấu tố là quan trọng bằng chuyện mô tả ông đã bịt râu! Bộ râu của ông Hồ đã trở thành một vật linh thiêng đối với các cháu ngoan. Ðem bịt râu ông lại là một tội lớn. Có một họa sĩ trong nhà tù “cải tạo,” muốn chứng tỏ mình đã quy thuận, bèn đi vẽ chân dung ông Hồ. Trong nhà tù đâu có bút, mực, họa sĩ lấy than củi vẽ, thay thế nét bút chì. Ông hí hửng đem nộp cán bộ, nghĩ rằng bữa sáng mai sẽ được phát thêm cho một cục cơm cháy, không ngờ lại bị chửi! Anh vẽ Bác bằng que than đun bếp, đúng là anh đã bôi nhọ Bác rồi!
Cho nên các cán bộ Tuyên Giáo hậm hực, cáu kỉnh chỉ vì Trần Ðĩnh đã bịt râu ông Hồ! Nhưng trong thời gian 1953 đó, nhiều lần ông Hồ đi thăm thú các nơi, chắc chắn ông phải cải trang. Mà quan trọng nhất là phải che kín bộ râu của ông. Ông Hồ đã có lúc đóng vai một phú gia để ria đen, đeo kính gọng vàng; có lúc ông còn làm thầy phù thủy bắt quyết chữa bệnh, thì chuyện bịt râu có ghê gớm gì đâu mà phải lo! Quý ông Tuyên Giáo hăng hái quá khích bảo vệ bộ râu ông Hồ! Ban Tuyên Giáo Bắc Hàn mà nghe ai nói lãnh tụ muôn vàn kính yêu Kim Ỉn và Kim Ủn phải che mặt chắc cũng phẫn nộ như vậy.
Chắc cũng trong tinh thần đó, mới có tài liệu mới phổ biến, nói rằng “Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã có lời giải thích với các chi bộ về Hội Nghị Thành Ðô.” Theo tài liệu kể trên, Ban Tuyên Giáo đã cải chính một mối hoài nghi trong dư luận dân Việt Nam. Họ minh xác rằng tại Hội Nghị Thành Ðô, “Trong hội đàm, trao đổi không hề có vấn đề phía Trung Quốc gây sức ép với ta về nhân sự, không hề có cái gội là sự thỏa thuận rằng: “Việt Nam sẽ thành khu tự trị thuộc Trung Quốc, giống như Nội Mông, Tân Cương và Quảng Tây vào năm 2020...”, như thông tin trên một số trang mạng, blog đã đưa...” Tôi không biết tài liệu này có xác thực hay không, nhưng có gọi điện thoại hỏi Ban Tuyên giáo chắc cũng chẳng ích lợi gì. Vì chính họ vẫn kiên định thực hành lời của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: Ðừng tin những gì Ban Tuyên Giáo nói nhé!
Ngay trong mấy dòng trên, Ban Tuyên Giáo đã tránh không nói đến một sự thật: Không phải chỉ có “một số trang mạng, blog” đã đưa tin Việt Nam biến thành khu tự trị của Trung Quốc; mà còn nhiều người đã lên tiếng trước, các blogger chỉ nhắc lại mà thôi. Một người là Thiếu Tướng Lê Duy Mật, từng chỉ huy mặt trận Hà Giang trong cuộc chiến tranh chống Trung Cộng năm 1979. Ông đã gửi thư cho các lãnh đạo đảng Cộng Sản yêu cầu phải công bố những thỏa hiệp tại Hội Nghị Thành Ðô, để biết rõ vấn đề Việt Nam biến thành khu tự trị, được coi là do các cơ quan báo chí Trung Cộng như Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo đưa ra. Ba tháng rồi, ông Tướng Lê Duy Mật không nghe ai trả lời. Tháng trước, lại có 20 sĩ quan cao cấp viết thư nêu lên cùng một thắc mắc. Ðại Tá Bùi Văn Bồng, một trong 20 cựu sĩ quan ký tên, đặt câu hỏi rằng nếu Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu đưa tin như thế thì phải đập lại ngay, nói rằng không hề có việc đó. Tại sao Trung Quốc đưa tin như thế? Ban Tuyên Giáo cũng không trả lời.
Ví thử tài liệu trên đây là không có thực, nghĩa là Ban Tuyên Giáo đảng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ cải chính gì về Hội Nghị Thành Ðô cả, thì người dân còn ngạc nhiên hơn nữa. Vì trước một vấn đề sôi nổi trong dư luận dân chúng như thế, tại sao các ông lại cứ ngậm miệng làm thinh, trong khi đó lại đi nêu thắc mắc về chuyện ông Hồ bịt râu hay không bịt râu bao giờ? Cái bộ râu của ông Hồ quý, hay đất đai, rừng biển của nước Việt Nam mới quý?
Những người tổ chức cuộc biểu tình ngày hôm nay, cô Nguyễn Phương Uyên, cô Phạm Thanh Nghiên, và ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tin rằng đất nước Việt Nam mới quý. Cho nên họ đòi phải công bố những thỏa hiệp giữa Trung Cộng và Việt Cộng tại Hội Nghị Thành Ðô. Vì cũng như những người dân Việt yêu nước khác, họ biết lời ông Nguyễn Cơ Thạch, một bộ trưởng Ngoại Giao, đã nói về Hội Nghị Thành Ðô, “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.”
Ngô Nhân Dụng
Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ đàn áp; và guồng máy tuyên truyền của họ sẽ tố cáo hai cuộc biểu tình này là hành động chống Trung Quốc. Nhưng thực ra, mục đích của quý vị phát động phong trào “Chúng Tôi Muốn Biết” không chỉ nhắm vào Trung Cộng. Mục tiêu chính là Muốn Biết. Công dân bất cứ quốc gia nào cũng có quyền biết những người cầm đầu đã và đang dẫn đất nước đi theo con đường nào. Ngày hôm nay, dân Việt Nam đòi được biết rõ hơn về Hội Nghị Thành Ðô, liên quan đến Trung Cộng; họ có quyền đòi biết rõ hơn về số nạn nhân trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất; và chắc chắn người dân muốn biết số tiền bốn tỷ mỹ kim do công ty Vinashine vay rồi thua lỗ, tiền bạc chạy đi đâu nhanh thế? Hội Nghị Thành Ðô chỉ là một trong hàng ngàn chuyện người dân muốn biết. Lý do gây ra cuộc biểu tình ngày hôm nay không phải chỉ là Hội Nghị Thành Ðô, mà là đường lối cai trị bí mật của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Một người xướng xuất cuộc biểu tình Chúng Tôi Muốn Biết là nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa. Ông giải thích: “Từ khi đảng Cộng Sản lãnh đạo đất nước... theo kiểu của họ thì nhân dân có được biết gì đâu. Chính sách, chủ trương của họ hoàn toàn bí mật. Từ những năm 64-65 lúc thì ngả về Trung Quốc, lúc thì ngả về Nga. Những hiệp ước bí mật của đảng cộng sản với Trung Quốc và Liên Xô cũng như các chính sách khác, nhân dân hoàn toàn không được biết... ngay Quốc Hội mà [cũng] không biết được nữa là nhân dân!”
“Chủ trương của họ hoàn toàn bí mật,” điều này ai cũng phải đồng ý với ông Nguyễn Xuân Nghĩa; kể cả những người làm việc trong Ban Tuyên Giáo hay làm cho đài BBC. Không những đảng Cộng Sản chủ trương bí mật, họ còn thường hãnh diện về tính chất bí mật của họ. Một khối bí mật được Việt Cộng kiên trì bảo vệ, thường huênh hoang khi đem ra khoe, là những bí mật trong đời sống của Hồ Chí Minh. Ba chục năm trước tôi đọc một tập hồi ký của nhiều đảng viên Cộng Sản cao cấp viết về những lần họ gặp Hồ Chí Minh, trước khi ông về hang Pắc Bó.
Cuốn sách tên là Về Nguồn, mà nhà xuất bản giải thích đó là nghĩa hai chữ Pắc Bó. Tôi còn nhớ tên mấy tác giả, như Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Hoàng Văn Hoan, Trịnh Ðông Hải, hình như có cả ông Giáp, ông Ðồng. Nói chung, họ thuật lại những lần họ gặp và làm việc với ông Hồ; nhưng tôi không còn nhớ ông nào kể chuyện gì. Có người đang ở Côn Minh, Vân Nam hay đâu đó, làm nhân, bỗng có một đứa bé đến đưa cho tấm giấy, trên đó viết, đại khái: “Em hẹn gặp cậu ở... (trước một quán ăn hay đầu một cây cầu trong thành phố).” Biết là đồng đảng hẹn gặp nhau, đúng ngày giờ tới nơi thì chẳng thấy ai cả. Ðợi một hồi mới có một người đi qua, ăn mặc như một phú gia Tàu, đeo kính gọng vàng, quần áo Tây phương chải chuốt, với bộ ria đen nhánh. Ði qua đi lại mấy lần, “Xì thẩu” mới dừng chân, nói nhỏ bằng tiếng Việt: “Ði với tôi.” Ði một quãng đường xa mới được cho biết, đó là Hồ Chí Minh! Mỗi tác giả đều kể chuyện “Bác” với nhiều hành tung bí ẩn như vậy. Có lúc trên đường đi từ Pắc Bó lên biên giới Việt-Trung, mọi người đều cải trang như một gia đình đi kiếm ăn phương xa. Tới một làng người dân tộc thiểu số, có gia đình đang khóc lóc vì đứa con hay bà vợ bị bệnh hiểm nghèo, “Bác” đã đóng vai một ông thầy cúng chuyên trừ tà chữa bệnh. Tác giả kể ông Hồ đã thắp nhang, thì thào khấn khứa với những thần chú không ai hiểu. Hai bàn tay ông bắt quyết, rồi ông cất giọng hát một bài văn cúng bằng thứ tiếng nói của giống dân nào không biết; hai tay cầm bó nhang múa may. Ðúng là hình ảnh một ông thầy cúng chuyên nghiệp! Sau đó, “bác cháu” được đãi một bữa xôi, gà.
Ðọc cuốn hồi ký Về Nguồn rất thích thú, không biết lúc đó nhà văn Trần Ðĩnh còn được mời viết giúp mấy tác giả đó hay không! Nhưng cuốn sách đã đạt chỉ tiêu; ai đọc cũng thấy Hồ Chí Minh không những đáng tự hào là người “giác ngộ chủ nghĩa Mác Lê Nin” sớm nhất, mà còn là một nhân vật xuất quỷ nhập thần như mới từ trong Thủy Hử bước ra.
Bây giờ lại có chuyện các cán bộ Tuyên Giáo Cộng Sản Việt Nam nêu thắc mắc. Họ không tin rằng trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất ông Hồ lại bịt râu tới chứng kiến cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, như nhà văn Trần Ðĩnh kể trong cuốn Ðèn Cù. Vì Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Ðảng không thấy sự kiện đó được ghi chép ở đâu cả. Họ muốn kết luận Trần Ðĩnh bày đặt ra câu chuyện để nói xấu lãnh tụ của họ.
Khi nghe nhà báo BBC nhắc đến thắc mắc trên, tôi tưởng rằng vị cán bộ Tuyên Giáo muốn phủ nhận việc ông Hồ đi coi đấu tố. Cho nên, trong bài trước mục này đã bàn rằng chuyện ông Hồ có hay không đến xem cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm không quan trọng, mà quan trọng nhất là quyết định “giết, hay không giết” nhà tư sản nổi tiếng đã nuôi nấng, che chở cho bao nhiêu cán bộ cộng sản trong thời bí mật. Nhưng sau khi đọc bài trước, một độc giả đã viết nhắc nhở rằng quý vị cán bộ Tuyên Giáo không coi chuyện ông Hồ có hay không đến coi đấu tố là quan trọng bằng chuyện mô tả ông đã bịt râu! Bộ râu của ông Hồ đã trở thành một vật linh thiêng đối với các cháu ngoan. Ðem bịt râu ông lại là một tội lớn. Có một họa sĩ trong nhà tù “cải tạo,” muốn chứng tỏ mình đã quy thuận, bèn đi vẽ chân dung ông Hồ. Trong nhà tù đâu có bút, mực, họa sĩ lấy than củi vẽ, thay thế nét bút chì. Ông hí hửng đem nộp cán bộ, nghĩ rằng bữa sáng mai sẽ được phát thêm cho một cục cơm cháy, không ngờ lại bị chửi! Anh vẽ Bác bằng que than đun bếp, đúng là anh đã bôi nhọ Bác rồi!
Cho nên các cán bộ Tuyên Giáo hậm hực, cáu kỉnh chỉ vì Trần Ðĩnh đã bịt râu ông Hồ! Nhưng trong thời gian 1953 đó, nhiều lần ông Hồ đi thăm thú các nơi, chắc chắn ông phải cải trang. Mà quan trọng nhất là phải che kín bộ râu của ông. Ông Hồ đã có lúc đóng vai một phú gia để ria đen, đeo kính gọng vàng; có lúc ông còn làm thầy phù thủy bắt quyết chữa bệnh, thì chuyện bịt râu có ghê gớm gì đâu mà phải lo! Quý ông Tuyên Giáo hăng hái quá khích bảo vệ bộ râu ông Hồ! Ban Tuyên Giáo Bắc Hàn mà nghe ai nói lãnh tụ muôn vàn kính yêu Kim Ỉn và Kim Ủn phải che mặt chắc cũng phẫn nộ như vậy.
Chắc cũng trong tinh thần đó, mới có tài liệu mới phổ biến, nói rằng “Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã có lời giải thích với các chi bộ về Hội Nghị Thành Ðô.” Theo tài liệu kể trên, Ban Tuyên Giáo đã cải chính một mối hoài nghi trong dư luận dân Việt Nam. Họ minh xác rằng tại Hội Nghị Thành Ðô, “Trong hội đàm, trao đổi không hề có vấn đề phía Trung Quốc gây sức ép với ta về nhân sự, không hề có cái gội là sự thỏa thuận rằng: “Việt Nam sẽ thành khu tự trị thuộc Trung Quốc, giống như Nội Mông, Tân Cương và Quảng Tây vào năm 2020...”, như thông tin trên một số trang mạng, blog đã đưa...” Tôi không biết tài liệu này có xác thực hay không, nhưng có gọi điện thoại hỏi Ban Tuyên giáo chắc cũng chẳng ích lợi gì. Vì chính họ vẫn kiên định thực hành lời của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: Ðừng tin những gì Ban Tuyên Giáo nói nhé!
Ngay trong mấy dòng trên, Ban Tuyên Giáo đã tránh không nói đến một sự thật: Không phải chỉ có “một số trang mạng, blog” đã đưa tin Việt Nam biến thành khu tự trị của Trung Quốc; mà còn nhiều người đã lên tiếng trước, các blogger chỉ nhắc lại mà thôi. Một người là Thiếu Tướng Lê Duy Mật, từng chỉ huy mặt trận Hà Giang trong cuộc chiến tranh chống Trung Cộng năm 1979. Ông đã gửi thư cho các lãnh đạo đảng Cộng Sản yêu cầu phải công bố những thỏa hiệp tại Hội Nghị Thành Ðô, để biết rõ vấn đề Việt Nam biến thành khu tự trị, được coi là do các cơ quan báo chí Trung Cộng như Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo đưa ra. Ba tháng rồi, ông Tướng Lê Duy Mật không nghe ai trả lời. Tháng trước, lại có 20 sĩ quan cao cấp viết thư nêu lên cùng một thắc mắc. Ðại Tá Bùi Văn Bồng, một trong 20 cựu sĩ quan ký tên, đặt câu hỏi rằng nếu Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu đưa tin như thế thì phải đập lại ngay, nói rằng không hề có việc đó. Tại sao Trung Quốc đưa tin như thế? Ban Tuyên Giáo cũng không trả lời.
Ví thử tài liệu trên đây là không có thực, nghĩa là Ban Tuyên Giáo đảng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ cải chính gì về Hội Nghị Thành Ðô cả, thì người dân còn ngạc nhiên hơn nữa. Vì trước một vấn đề sôi nổi trong dư luận dân chúng như thế, tại sao các ông lại cứ ngậm miệng làm thinh, trong khi đó lại đi nêu thắc mắc về chuyện ông Hồ bịt râu hay không bịt râu bao giờ? Cái bộ râu của ông Hồ quý, hay đất đai, rừng biển của nước Việt Nam mới quý?
Những người tổ chức cuộc biểu tình ngày hôm nay, cô Nguyễn Phương Uyên, cô Phạm Thanh Nghiên, và ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tin rằng đất nước Việt Nam mới quý. Cho nên họ đòi phải công bố những thỏa hiệp giữa Trung Cộng và Việt Cộng tại Hội Nghị Thành Ðô. Vì cũng như những người dân Việt yêu nước khác, họ biết lời ông Nguyễn Cơ Thạch, một bộ trưởng Ngoại Giao, đã nói về Hội Nghị Thành Ðô, “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.”
Ngô Nhân Dụng
Hồng Kông dẫn Việt Nam đi về đâu?
Trong suốt thời gian cuộc biểu tình ở Hồng Kông bùng nổ bắt đầu trong tháng 9.2014 cho đến nay, câu hỏi “Cuộc biểu tình sẽ đi về đâu” không chỉ là nỗi băn khoăn cho hàng triệu người Trung quốc đang đấu tranh cho dân chủ mà còn trở thành câu hỏi cho Việt Nam, một xã hội mà nhu cầu dân chủ hóa trở nên thúc bách nhưng vẫn đang đứng ở ngưỡng cửa do dự ngập ngừng.
Do dự với câu hỏi “Cuộc biểu tình sẽ dẫn đến đâu?”
Ngập ngừng với câu hỏi: “Làm thế nào để cuộc biểu tình như ở Hồng Kông xảy ra tại Việt Nam?”
Cuộc biểu tình sẽ đi về đâu? Hay biểu tình sẽ đem kết quả như thế nào?
Câu hỏi “Cuộc biểu tình ở Hồng Kông sẽ dẫn đến đâu?” là câu hỏi hàng đầu của nhiều người Việt Nam đang dõi theo cuộc biểu tình, vì nó không chỉ quyết định cho nền dân chủ sẽ còn hay bị bóp chết bởi sức mạnh chuyên chế khủng khiếp từ Trung Hoa lục địa. Cuộc biểu tình Hồng Kông còn như lối thoát mới cho Việt Nam trên con đường đòi hỏi dân chủ.
Việt Nam một đất nước “núi liền núi, sông liền sông” với Trung Quốc, dù cố thoát sự lệ thuộc vẫn có nhiều điểm phát triển xã hội, văn hóa khá giống với Trung Quốc trước hết là cùng có chế độ độc đảng dưới tên gọi “Đảng Cộng Sản”.
Do từ lâu, một số người cầm quyền tại Việt Nam được coi là “Học trò ngoan của Trung Quốc” nên người ta có thể hiểu phản ứng nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ là “hướng chỉ đạo” cho nhà cầm quyền VN đối với những cuộc biểu tình ở Việt Nam trong tương lai.
Với câu trả lời theo hướng nhìn thẳng vấn đề: “Liệu nhà cầm quyền Trung quốc sẽ đàn áp sinh viên biểu tình ở Hồng Kông như đã đàn áp sinh viên biểu tình tại cuộc biểu tình Tiananmen (Thiên An Môn) 1989?”, chúng ta có hai điểm cần chú ý :
- Một phần trong số những người dân đang ở Hồng Kông ủng hộ Sinh Viên biểu tình ngày nay là những người từng trực tiếp sống với những ngày biểu tình của Sinh Viên Tiananmen 1989.
Rất nhiều người Trung Hoa yêu dân chủ đã chạy trốn nền cai trị sắt máu của Trung Hoa lục địa để đến Hồng Kông sinh sống trong những năm vừa qua. Và họ như không còn biết run sợ trước bạo quyền, vì như đã bị dồn đến đường cùng để đấu tranh.
- “Cuộc cách mạng những cây dù” xảy ra tại Hồng Kông đòi hỏi dân chủ cho địa phương (Hồng Kông) không ảnh hưởng nhiều đến nền chuyên chế đang ngự trị nơi Trung hoa lục địa.
Từ hai điểm này, có thể dự đoán nhà cầm quyền Trung quốc sẽ cân nhắc kỹ lưỡng để tìm cách trấn an dân chúng thay vì đàn áp để thổi bùng ngọn lửa đấu tranh lan rộng đến lục địa.
Với chiến lược kéo dài thời gian , tránh thương lượng trực tiếp, tránh những câu hỏi trực diện sẽ là cách nhà cầm quyền đối phó với mong muốn những người biểu tình mỏi mệt mà từ từ tự giải tán.
Từ đó cuộc biểu tình sẽ thành cuộc đấu tranh dân chủ lâu dài .
Để kết luận phần “Cuộc biểu tình sẽ đi về đâu?”, chúng ta đã có câu trả lời của cậu thanh niên chỉ 17 tuổi, nhưng xứng đáng làm thủ lỉnh dẫn dắt hàng trăm ngàn người, Hoàng Chi Phong (Joshua Wong):
“Chúng ta tranh đấu cho mục tiêu (dân chủ) mà không cần phân tích khả năng thành công, bởi vì nếu nghĩ quá nhiều đến điều đó, bạn sẽ không dám dấn thân làm gì cả”.
Phải, ngay khi ta đứng lên đấu tranh đòi hỏi dân chủ , chính ta đã tạo nên hình thức hoạt động dân chủ mà không ai cấm cản được .
Cho dù có bị đàn áp, dập tắt, hành động đấu tranh dân chủ không chỉ đặt nền móng xây dựng nền dân chủ tương lai, mà bắt đầu ngay chính lúc người ta đứng lên đấu tranh cho dân chủ.
Câu hỏi “Cuộc biểu tình sẽ dẫn về đâu?” không là câu hỏi giành cho những người không hề xem dân chủ là sự ban cho của bất cứ thế lực nào.
Dân chủ chính thực là quyền của mình phải được có, do chính mình định đoạt, qua hành động của chính ta.
Làm thế nào để có được cuộc biểu tình như ở Hồng Kông tại Việt Nam?

Cô gái người Việt Nancy Nguyen từ California đến ủng hộ Hongkong
Muốn có cuộc biểu tình như ở Hồng Kông, xã hội Việt Nam cần phải tương tự với Hồng Kông ít nhất ở vài điểm cần có :
* Số lượng người đông sẵn sàng đi biểu tình như sinh viên ở Hồng Kông.
* Tình hình chính trị, xã hội tương tự Hồng Kông.
1) Số lượng người đông sẵn sàng đi biểu tình như sinh viên ở Hồng Kông?
Muốn tập trung số người cùng đi biểu tình với tính đoàn kết, có tổ chức cao đầu tiên cần phải có nhiều nhóm hội tổ chức với thành viên đông đảo tham gia.
Cuộc biểu tình ở Hồng Kông đã có hai nhóm chính tổ chức :
* "Occupy Central", một phong trào biểu tình chiếm giữ bất bạo động nhằm đấu tranh cho bầu cử với hình thức phổ thông đầu phiếu và quyền đề cử người lãnh đạo của người dân ở Hồng Kông. Phong trào này được Đới Diệu Đình (Benny Tai), phó giáo sư luật tại Đại học Hồng Kông khởi xướng vào tháng giêng năm 2013. Ông đã dự đoán rằng ít nhất 10.000 người dân sẽ tham gia cuộc biểu tình ở Trung Hoàn trong tháng 7 năm 2014 nếu hình thức phổ thông đầu phiếu cho cuộc bầu cử Trưởng Đặc khu Hồng Kông 2017 và cuộc bầu cử Hội đồng Lập pháp 2020 không được thực hiện theo "tiêu chuẩn quốc tế" (theo Wikipia).
* Scholarism, tạm dịch: Phong trào tư tưởng của những người học thức, là nhóm những người hoạt động Hồng Kông được thành lập vào ngày 29 tháng 5 năm 2011 bởi các học sinh trung học. Lãnh đạo của nhóm là Hoàng Chi Phong (Joshua Wong). Từ lúc thành lập đến nay, Scholarism liên tiếp tổ chức nhiều cuộc biểu tình khác nhau, nổi bật trước tháng 09 - 2014 là cuộc biểu tình chiếm giữ trụ sở chính quyền Hồng Kông nhằm buộc chính quyền rút lại kế hoạch đưa chương trình Giáo dục đạo đức (theo những giáo điều của Đảng CSTQ) bắt buộc vào giữa tháng 8 và tháng 9 năm 2012. 50 thành viên của nhóm đã đóng chiếm công viên công cộng bên dưới văn phòng chính phủ, 3 người trong số đó bắt đầu tuyệt thực. Nhóm này cùng với các tổ chức của phụ huynh học sinh, Liên đoàn giáo viên chuyên nghiệp, đã huy động được hàng chục ngàn người ủng hộ xuống đường, cắm trại 10 ngày biểu tình tại công trường bên ngoài Văn phòng Chính quyền Trung ương Trung Quốc. Cuối cùng đặc khu trưởng Hồng Kông Lương Chấn Anh phải rút lại môn học này.
Ngoài hai nhóm chính, trong môi trường sinh viên học sinh còn có Liên hội sinh viên, nhiều tổ chức thanh thiếu niên qua các hoạt động xã hội dân sự khác nhau, cùng các Đảng phái đòi hỏi dân chủ, các hiệp hội thương mại, văn phòng luật sư trợ giúp cuộc biểu tình vv…
Qua đó cho thấy, số lượng đông người tham gia đã từ các cơ sở tổ chức khác nhau, có quá trình hoạt động lâu dài, không phải bỗng chốc hợp rồi bỗng chốc tan như một phong trào tự phát.
Điều kiện trên Việt Nam chưa có.
Trong suốt bao năm dưới chế độ độc đảng, tất cả các tổ chức khác như bị bóp nghẹt ngay từ trứng nước. Không thể trách tuổi trẻ Việt Nam hôm nay vô cảm, thụ động thờ ơ chính trị, vì đây chính là kết quả ”trăm năm trồng người” của Đảng CSVN.
2) Tình hình chính trị, xã hội Việt Nam có tương tự như Hồng Kông?
Câu trả lời có nhanh hơn, vì ai cũng thấy rõ điều kiện chính trị và xã hội Việt Nam hoàn toàn khác hẳn với Hồng Kông.
Như thế có mơ mộng quá chăng, khi chúng ta mong muốn cuộc biểu tình như ở Hồng Kông sẽ xảy ra ở Việt nam ?
Đầu tiên “giấc mơ Hồng Kông” đã thổi bùng lên tia hy vọng đổi mới tại Việt nam, và thực sự đem lại “làn gió mới” trên con đường đấu tranh dân chủ tại Việt Nam.
Nhưng tình hình xã hội Việt Nam không giống Hồng Kông, có chăng là giống tình hình của một tỉnh nhỏ tại Trung hoa lục địa.
Như thế sẽ không có, hay rất khó xảy ra một cuộc biểu tình đòi hỏi dân chủ với sự tham gia của đông đảo nhiều người như Hồng Kông.
Do người ta chỉ đấu tranh đòi hỏi những gì người ta đã có và bị mất, người ta khó đấu tranh cho một thứ trừu tượng hay những thứ người ta chưa hề biết là gì?
Thực tế nhìn thấy, bao năm qua trong khi các sinh viên, “những trí thức tương lai” “ngoan ngoãn như bầy cừu” trong giảng đường, lo giữ lý lịch “vừa hồng vừa chuyên” để tiến thân trong một xã hội có quá nhiều khó khăn, bên ngoài xã hội đã có nhiều cuộc xuống đường, nổi dậy của những dân oan và cuộc phản kháng của những tín đồ các tôn giáo khác nhau.
Câu “Ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh” của Karl Marx luôn là câu cần có đầu tiên cho một cuộc xuống đường đòi cải cách.
Theo dõi cuộc đấu tranh của những dân oan, những người không nhiều tiền bạc không có quyền lực phải chống chọi với lực lượng “tư bản đỏ” giàu tiền của và quyền lực, hay cuộc đấu tranh của những tín đồ tôn giáo lấy từ bi, bác ái là điểm tựa chống lại cùng thế lực bạo tàn, sắt máu, chúng ta thấy đấy là những cuộc chiến ngay từ đầu không cân sức.
Nghĩ đến những cuộc chiến đấu cân sức hơn , tôi nhớ đến bài viết của báo Spielgel mà tôi đã dịch từ năm 2011về tình hình Trung Quốc:
http://tiengquehuong.wordpress.com/2011/12/08/kinh-te-trung-quoc/
Bài viết cho thấy lực lượng phản kháng mới trong xã hội độc quyền đang phát triển theo hướng điều khiển của “đồng tiền” (tư bản) là những thành phần mới giàu và bị mất quyền lợi qua các cuộc tranh chấp giữa các “tập đoàn tư bản đỏ”.
Như thế, nguyên nhân và phương cách đổi mới trong tình trạng xã hội với đặc điểm của xã hội độc tài sẽ khác hẳn hoàn toàn với cuộc đổi mới trong xã hội hoạt động theo phương thức dân chủ xã hội.
Trước khi viết câu kết luận mà tôi không hề muốn viết: “Việt Nam sẽ không có xảy ra cuộc cách mạng đòi hỏi dân chủ như ở Hồng Kông” khi nhớ đến những gương mặt đã xuống đường biểu tình tại Hà Nội, Sài gòn, cùng với ánh mắt quả quyết , sẳn sàng, bất chấp hiểm nguy, bất chấp đàn áp, trong những năm vừa qua.
Từ sau 1975, gần 40 năm đã trôi qua, trên mái đầu nhiều người sinh sau năm 1975 đã bắt đầu xuất hiện những sợi tóc bạc.
Và dù còn rất trẻ, nét ưu tư đặc biệt luôn hiện hữu ở những gương mặt tham gia đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt nam.
Vẫn còn đó những tấm lòng vẫn còn thao thức cùng thời cuộc, dù tư tưởng đổi mới đôi lúc tưởng chừng như không có lối ra hay bị dập tắt ngay từ phút đầu.
Những sáng kiến tổ chức các phong trào dân sự xã hội vừa qua cho thấy tuổi trẻ Việt Nam không ngủ yên với chính sách ru ngủ của nhà cầm quyền. Các phong trào “Chúng tôi muốn biết”, “Không bán nước”, “Thanh niên làm sạch đường phố”, “Bóng đá No U”, “Hội Phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân v.v… đang đặt nền móng để các tổ chức xã hội dân sự phát triển và sẽ lôi cuốn dần dần sự tham gia của nhiều người khác.
Những thành viên các nhóm xã hội dân sự sẽ là những chất xúc tác để lôi cuốn nhiều người dân khác tham gia tiếp sức.
Với khẩu hiệu như trong bài viết của tác giả Đoàn Thanh Liêm đã viết về cách tổ chức hoạt động dân sự trước 1975: (http://tiengquehuong.wordpress.com/2014/10/12/phat-trien-xa-hoi-dan-su/)
“Giúp dân, để người dân tự giúp lấy mình”(Help people to help themselves), dần dần người dân không chỉ được giúp đỡ thoát cơn hiểm nghèo (bão lụt, bị chiếm đất, nghèo khổ, bệnh tật…) mà sẽ cùng nhau hợp sức xây những cầu, trường học do dân lập v.v… để từ từ có thể tiến tới xây dựng cả bộ máy chính quyền, do chính người dân chọn lấy, qua quyền tự do bầu cử.
Từ đó, dân chủ không thực hiện bằng khẩu hiệu mà bằng hành động trực tiếp tham gia xây dựng xã hội đang sống.
Hiện trạng vô cảm, thờ ơ sẽ mờ dần trong tương lai, sẽ được thay thế bằng nhận thức hiểu rõ dân chủ có tác động đến đời sống thực tế hằng ngày và giúp đất nước Việt Nam phát triển như thế nào.
Như thế, một cuộc đổi mới xã hội từ thanh niên, những người chủ tương lai của đất nước vẫn sẽ có, không chỉ trong hy vọng, mà từ nổ lực xây dựng các tổ chức hoạt động xã hội dân sự hôm nay.
Dương Hoàng Dung, Munich
Việt Nam sẽ có TPP?
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được coi là một cơ hội tuyệt vời giúp kinh tế Việt Nam tăng trưởng, đặc biệt trong thời điểm này khi Việt Nam đang rất muốn thoát khỏi sự phụ thuộc quá lớn về kinh tế vào Trung Quốc. Tổng thống Barack Obama cũng muốn hoàn tất đàm phán TPP trong năm nay khi ông thực hiện chuyến công du tới châu Á vào cuối năm. Với việc Mỹ đang muốn xoay trục về châu Á, các chính sách của Mỹ đang có nhiều ưu tiên hơn đối khu vực này nhất là khi Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh để bành trướng trên biển Đông. Việt Nam đang rất muốn đạt được thỏa thuận này với Mỹ - một thị trường quan trọng nhất của Việt Nam. Nhưng các chuyên gia nói rằng còn có nhiều rào cản cho tiến trình đàm phán và có nhiều thách thức cho Việt Nam khi tham gia TPP.
TPP được coi là một “hiệp định thương mại bậc nhất của thế kỷ 21 khi nó gói gọn trong đó 40% lượng GDP toàn cầu và 1/3 thương mại toàn thế giới,” theo lời phát biểu của bộ trưởng ngoại giao Mỹ John Kerry trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội Đồng Doanh Nghiệp Mỹ-ASEAN (US-ABC) vừa được tổ chức tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ.
Ông Kerry đã kêu gọi các doanh nghiệp Mỹ gây ảnh hưởng đến quốc hội để thông qua TPP:
"Chúng tôi cần các bạn giúp đỡ để đạt được TPP với quốc hội Mỹ và người dân Mỹ. Và chúng tôi cần các bạn gọi điện, tổ chức các cuộc gặp mặt để đưa quốc hội vào cuộc."
Chủ tịch US-ABC, ông Alexander Feldman, nói với VOA Việt Ngữ rằng TPP đối với Việt Nam thực sự là một sự thay đổi diện mạo và nó sẽ mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp của cả 2 bên.
Việt Nam tham gia đàm phán TPP từ cuối năm 2010. Các đối tác của hiệp định bao gồm Mỹ và 10 nước khác trung khu vực châu Á Thái Bình Dương. Theo số liệu thống kê của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, năm 2009, Mỹ đứng đầu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam với tổng số tiền đầu tư là 9.8 tỷ đô la. Trong 1 số năm gần đây, các công ty của Mỹ đã nằm trong số những nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam.
Tuy nhiên còn có nhiều rào cản từ cả 2 phía Mỹ và Việt Nam.
Ông Murray Hiebert, phó giám đốc tổ chức nghiên cứu Đông Nam Á Sumitro Chair thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế CSIS, nói các nhà chức trách Mỹ cho rằng Việt Nam là những nhà thương thuyết khó khăn nhất:
"Một trong những rào cản lớn nhất, theo tôi nghĩ, là Mỹ vẫn chưa cho Việt Nam một tiếp cận thị trường tốt và tôi đã nói chuyện với các nhà thương thuyết bên phía Việt Nam của bộ Công Thương, họ nói rằng nếu họ có một tiếp cận tốt vào thị trường Mỹ thì có nghĩa là thuế nhập khẩu lên hàng may mặc sẽ giảm nhiều và do đó sẽ dễ dàng giải quyết nhiều vấn đề khác."
Các vấn đề về nhân quyền trong đó có việc cải cách thể chế liên quan đến vai trò của công đoàn lao động cũng đang là những vấn đề mà Việt Nam vấp phải trong quá trình đàm phán TPP với Mỹ.
Ngoài ra các giới chức Việt Nam cũng lo ngại về các điều khoản của Mỹ yêu cầu các sản phẩm dệt may và những sản phẩm may mặc đầu vào xuất sang Mỹ phải có nguồn gốc từ Mỹ hoặc từ các nước trong khối TPP. Hiện nay các mặt hàng này của Việt Nam đang có nguồn chủ yếu từ nước láng giềng Trung Quốc không phải là thành viên của TPP.
Giáo sư Carl Thayer, một chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam của trường Đại Học New South Wales, cảnh báo về điều này:
"Tại thời điểm này có một sự mất cân bằng thương mại vô cùng lớn và thậm chí một số mặt hàng xuất khẩu như may mặc, giày dép đang phụ thuộc vào các nguyên liệu nhập từ Trung Quốc. Khi Việt Nam gia nhập TPP có nghĩa là thuế xuất cao hơn – bởi vì TPP muốn các nước sử dụng nguyên liệu từ các nước thành viên. Do đó, Việt Nam phải tìm cách làm thế nào để thay thế các nguyên liệu nhập từ Trung Quốc bằng các nguồn từ các nước thành viên."
Khi tham gia TPP, thuế suất nhiều mặt hàng sẽ phải giảm dần đến mức % và các doanh nghiệp đầu tư tại Việt Nam, nhất là từ các nước không tham gia TPP, sẽ được hưởng lợi từ những quy định này. Có lẽ nhận thấy được lợi thế này, trong thời gian qua nhà đầu tư Trung Quốc tham gia ngày càng nhiều vào các lĩnh vực sản xuất tại Việt Nam. Chỉ tính riêng dệt may từ năm 2013 trở lại đây đã có khoảng 90% số doanh nghiệp tham gia là của Trung Quốc.
Chuyên gia về Việt Nam, ông Jonathan London của trường Đại học Thành Thị Hồng Kông cũng có quan điểm tương tự. Ông nói rằng “TPP có một số yếu tố có thể có hại cho nền kinh tế của Việt Nam” và Việt Nam có thể sẽ mất nhiều thứ nếu không biết tận dụng nó:
TPP sẽ mở rộng cơ hội cho những công ty dù là nước ngoài ở Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ - thị trường quan trọng nhất của Việt Nam. Cũng có một nghịch lý mà theo nhiều người, một nhóm có lợi nhất nếu theo TPP ở Việt Nam có thể chính là những công ty của Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam. Chúng ta chưa rõ tương lai quan hệ của Việt Nam và Trung Quốc như thế nào. Nhưng nếu quan hệ Việt Nam-Trung Quốc không xấu đi một cách kinh khủng thì một nhóm sẽ ăn lợi nhất với TPP ở Việt Nam là những công ty của Trung Quốc. Tại sao? Bởi vì họ sẽ sử dụng Việt Nam như một sân khấu để xuất khẩu sản phẩm của họ sang thị trường Mỹ.
Giáo sư Thayer nói “về lâu dài Việt Nam cần phải có TPP để có được tiếp cận nhiều hơn vào thị trường Mỹ, cải thiện nền kinh tế và tạo một vị thế mạnh mẽ hơn để đương đầu với Trung Quốc về sau này.”
Do vậy mà Việt Nam đang vô cùng mong muốn tham gia khối nắm giữ 40% kinh tế thế giới này nhưng điều đó không hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của Việt Nam. Ông Carl Thayer cho biết:
Obama vẫn chưa thực hiện một bước tiến nào cho thấy Mỹ sẽ thông qua TPP. Hầu như là mọi thứ sẽ xảy ra sau bầu cử giữa kỳ. Việt Nam muốn tham gia TPP, muốn có được miễn thuế. Nhưng nó không hoàn toàn phụ thuộc vào Việt Nam. Nó phụ thuộc vào tổng thống Mỹ, mà chủ yếu là vào việc đàm phán với Nhật Bản để nới lỏng tình trạng này. Và nó phụ thuộc vào ông Obama sẽ thuyết phục được quốc hội bỏ phiếu thông qua TPP hay không. Do đó nó nằm ngoài khả năng của Việt Nam.
Chủ tịch US-ABC Feldman cũng nói rằng còn có nhiều rào cản về chính trị cho quá trình này:
"Chúng tôi có bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 nên mọi việc đều đang bị dừng lại. Nhưng hy vọng rằng sau cuộc bầu cử giữa kỳ và vào kỳ họp sau bầu cử và trước khi quốc hội mới nhóm họp, chúng tôi có thể đưa TPP ra quốc hội. Có thể sau kỳ bầu cử này chúng tôi sẽ bàn bạc thực sự nghiêm túc để đưa ra những vấn đề chính còn tồn đọng."
Việt Nam được coi là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ TPP trong số các nước thành viên. Theo bản phân tích về kinh tế vĩ mô Việt Nam của HSBC, thu nhập quốc dân Việt Nam đến năm 2020 sẽ tăng khoảng 10% nếu vào được TPP. Theo một nghiên cứu đánh giá về tác động của TPP lên các nền kinh tế của các nhà kinh tế học của trường Đại học Brandeis, GDP của Việt Nam có thể tăng 35.7% trong vòng thập niên tới. Ông Thayer nói:
"Nếu không tham gia TPP sẽ là một bất lợi cho Việt Nam. Nếu Việt Nam không toàn cầu hóa, không hội nhập thì Việt Nam sẽ bị bỏ lại phía sau. Và các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nói rằng sự nguy hiểm lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt là bị bỏ lại phía sau."
Dù cách nào thì Việt Nam cũng có lợi nếu tham gia TPP. Nhưng chiến lược lớn hơn của Việt Nam phải là xuất hàng vào thị trường Mỹ. Như dù có TPP hay không thì theo giáo sư London Việt Nam “cần phải tập trung phát triển quan hệ toàn diện với Mỹ. Đó mới là cách để Việt Nam có một phương hướng kinh tế mới trong bối cảnh Trung Quốc đang thách thức chủ quyền.”
Linh Đan
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)