Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015
Hội nghị Trung ương 12 và những bất thường trong mùa đại hội
Phạm Chí Dũng
Chính vào lúc này, người ta nhận ra một trống vắng kinh hoàng: không có ‘Chân dung quyền lực’.
Những bất thường của Hội nghị 12
Mùa thu năm 2015, Hội nghị Trung ương 12 đảng Cộng sản Việt Nam - được xem là có mục đích “quyết định về nhân sự chủ chốt” - bất ngờ được khai mạc vào ngày 5/10, trước thời điểm dự kiến vào tháng 11 đến cả tháng. Nếu so sánh với Hội nghị Trung ương 10 vào tháng Giêng năm 2015 (nhưng bị chậm đến gần hai tháng so với kế hoạch), thì thời điểm tổ chức sớm Hội nghị Trung ương 12 phải chăng là bất thường?
Một dấu hiệu bất thường khác là chỉ 3 ngày trước khi Hội nghị trung ương 12 của đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc vào ngày 5/10/2015, trên báo mạng The Diplomat xuất hiện một bài viết của giáo sư Carl Thayer – một chuyên gia thuộc Học viện quốc phòng Úc chuyên theo dõi tình hình chính trị VN, nay đã nghỉ hưu. Vượt trên tất cả các tin tức thời luận, bài viết này khẳng định sẽ diễn ra một hội nghị trung ương vào tháng 10, mà nếu không đi đến thống nhất thì sẽ có một hội nghị trung ương nữa vào tháng 11.
Ngay trước mắt, bài viết trên đã chính xác về thời điểm diễn ra Hội nghị Trung ương 12, trong khi các báo đài quốc tế và các trang mạng xã hội đều chẳng có thông tin nào về sự kiện này. Thậm chí giới quan sát và truyền thông quốc tế còn tỏ ra bất ngờ trước việc chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 12 được tổ chức một cách quá kín tiếng và “vận động” trước cả chuyến thăm VN của Tập Cận Bình như thế.
Câu hỏi không thể bỏ qua là tại sao trong khi giới quan sát và truyền thông không có tin tức nào về Hội nghị Trung ương 12, giáo sư Carl Thayer lại biết về sự kiện này; thậm chí trong bài viết của mình, ông còn nêu ra hai phương án nhân sự tổng bí thư là “một trong hai người miền Nam là Trương Tấn Sang hoặc Nguyễn Tấn Dũng”, hoặc Nguyễn Phú Trọng sẽ tái nhiệm?
Cần lưu ý rằng chỉ trước Hội nghị Trung ương 12 khoảng một tuần mới xuất hiện tin ngoài lề về phương án “Nguyễn Phú Trọng sẽ tái nhiệm”. Còn trước đó hoàn toàn không có thông tin nào về kịch bản khó hình dung này.
Là một người khá có thiện cảm với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông Thayer thường đề cập đến những phát biểu và phát ngôn của Thủ tướng Dũng về Biển Đông và thái độ đối với Trung Quốc. Gần đây, ông Thayer cũng không giấu nhận xét của mình rằng trong số các ứng cử viên cho chức tổng bí thư tại Đại hội 12, ông Nguyễn Tấn Dũng có triển vọng hơn cả.
Tuy nhiên, cũng có một luồng dư luận cho rằng thái độ ủng hộ của ông Thayer đối với Thủ tướng Dũng là hơi hấp tấp và thiếu chiều sâu. Trong thực tế từ năm 2011 đến nay, ông Dũng chỉ nói mà chưa có một hành động cụ thể nào về Biển Đông và với Trung Quốc. Do vậy chưa có gì bảo đảm là một khi nắm được quyền lực trong tay, ông Dũng sẽ dám đối đầu với Trung Quốc và sẽ mở cửa cho dân chủ hóa đất nước.
Nếu có thể so sánh, chỉ là ông Nguyễn Tấn Dũng nói có vẻ mạnh mẽ hơn đôi chút so với ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nước.
Sau bài viết của ông Thayer trên tờ The Diplomat, luồng dư luận trên cũng cho rằng ông Thayer có thể đã được “đặc cách” tiếp nhận những thông tin có tính cách hết sức nội bộ của VN và do đó vài dự đoán của ông đã trở nên xác thực.
Chân dung quyền lực chưa tái hiện
Khi năm 2014 đã kết thúc mà không diễn ra Hội nghị Trung ương 10 như dự kiến, rất nhiều dư luận đã xôn xao về thế bế tắc trong kế hoạch chuẩn bị nhân sự chủ chốt cho Đại hội 12, mà khởi đầu là tình trạng lưỡng lự trong việc tổ chức thăm dò ý kiến của 200 ủy viên Trung ương và dự khuyết về nhân sự tổng bí thư. Dư luận xã hội càng đặc biệt phân tán lẫn phấn khích khi đúng vào thời gian đó, trang blog Chân dung quyền lực phát huy chưởng lực tấn công “sân sau” của nhiều ủy viên Bộ Chính trị.
Công việc tổ chức hội nghị trung ương lại thuộc về những người bên đảng. Kết quả đợt thăm dò ý kiến trong Ban Chấp hành Trung ương vào đầu năm 2015 có lẽ đã phần nào phản ánh việc cố ý trì hoãn tổ chức Hội nghị Trung ương 10: nhiều nguồn tin cho rằng Thủ tướng Dũng đã nhận được tỷ lệ phiếu ủng hộ cao nhất cho chức vụ tổng bí thư, đứng thứ hai mới là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Phần lớn những người bên đảng có lẽ chìm sâu trong thất vọng sau kết quả này.
Tưởng như mọi chuyện đã an bài về thế cuộc cho tới Đại hội 12. Thế nhưng Hội nghị Trung ương 11 vào giữa năm 2015 lại được tổ chức đúng thời điểm, mà trước đó hai tháng đã diễn ra một đợt điều động nhân sự của “tập thể Bộ Chính trị” đối với gần 60 người là chủ tịch và bí thư tỉnh thành về trung ương, bổ sung một đội ngũ phó ban hùng hậu quá đáng cho các ban đảng, đặc biệt là Ban Tổ chức trung ương, Ban Kinh tế Trung ương và Ban Nội chính trung ương. Thậm chí có ban “cơ cấu” đến 10 phó ban hoặc hơn thế.
Tương tự, trong vòng khoảng 2 - 4 tuần trước Hội nghị Trung ương 12 năm 2015, đã diễn ra một đợt điều động nhân sự một số chủ tịch và bí thư tỉnh, tiếp tục khiến các ban đảng lạm phát nhân sự phó ban. Ngay thời điểm khai mạc Hội nghị Trung ương 12, Bộ Quốc phòng đã vọt chẵn 10 thứ trưởng. Thậm chí, công tác bố trí nhân sự chủ chốt cho một số tỉnh thành còn diễn ra trước cả đại hội đảng bộ tại các địa phương đó.
Tổ chức, tổ chức và tổ chức… Mọi chuyện đã trở nên gấp gáp, quá gấp gáp. Được tổ chức sớm hơn dự định, Hội nghị Trung ương 12 mang dáng dấp có vẻ khá tự tin thuộc về Trưởng ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa và cao hơn nữa là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Khác hẳn với Hội nghị Trung ương 6 vào cuối năm 2012 với hình ảnh khăn chấm lệ trong diễn văn bế mạc, dường như TBT Trọng lại tự chủ hơn tại Hội nghị Trung ương 12. Bài diễn văn khai mạc của ông - trong khi chẳng tìm ra cụm từ kinh điển nào về “xã hội chủ nghĩa”, “chủ nghĩa xã hội” hoặc “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” - lại nhấn nhá ẩn từ trong ngoặc kép mà do đó có vẻ không mang tính đảng văn lắm: “Bộ Chính trị báo cáo về chuẩn bị nhân sự cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt cho khóa tới ; đưa ra các tiêu chuẩn về cơ cấu, số lượng, độ tuổi…, nhất là xem xét trường hợp ‘đặc biệt’ đối với các ủy viên Trung ương và ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tái cử”.
Có người cho rằng “đặc biệt” về trần tuổi của “tứ trụ”. Nhưng cũng có người ám chỉ tính chất đặc biệt đối với vấn đề “chính trị hiện nay”.
Nụ cười của những người bên đảng cũng nở hơn cùng tần suất cao hơn so với Hội nghị Trung ương 10, cho dù không khí vẫn được mô tả là “quyết liệt”. Chính vào lúc này, người ta nhận ra một trống vắng kinh hoàng: không có Chân dung quyền lực.
Đó cũng là một dấu hiệu bất thường nói lên nhiều điều và nhiều diễn cảm.
Giằng co đến ‘phút 89’
Hẳn là vậy. Vào hai Hội nghị Trung ương 11 và 12, nhiều ủy viên Bộ Chính trị đã thở phào vì không còn bóng dáng ngự trị và tung hoành của trang Chân dung quyền lực. Thay vào đó, màn khẩu chiến trên mạng chỉ diễn ra ở vài blog và facebook, với lẻ tẻ vài bài viết chứ không dày dặn ghê gớm như chiến dịch tổng lực mà Chân dung quyền lực đã tung ra vào cuối năm ngoái.
Vốn không thông thạo các sở đoản về thông tin, truyền thông và mạng xã hội, những người bên đảng có thể cảm thấy thật may mắn vì họ không còn bị “thế lực thù địch” công kích thậm tệ, ít nhất tới Hội nghị Trung ương 12 này.
Dĩ nhiên, Hội nghị Trung ương 12 chưa phải là cao trào. Vẫn có thể diễn ra những Hội nghị Trung ương lần thứ 13 và 14 trước khi Đại hội đảng 12 đạt đỉnh vào đầu năm 2016.
Nếu chỉ nhìn trên bề mặt của hai Hội nghị Trung ương 11 và 12, một số người có thể cho rằng nội bộ “đảng ta” đã đoàn kết trở lại. Nhưng trong thực tế, mặt nước như đang trở về trạng thái phẳng lặng mù sương để tích dồn một con sóng lớn tiếp theo vào cuối năm 2015.
Chính trường Việt Nam luôn tiềm ẩn “phút 89”.
Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015
Phương án Nhân sự trình Hội nghị trung ương 12
Việt Dũng - Phương án Nhân sự trình Hội nghị trung ương 12
Việt Dũng, cộng tác viên Dân Luận
Tác giả gửi tới Dân Luận
Ngày 11/10/2015, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng CSVN lần thứ 12 - khóa 11 sẽ bế mạc, với vấn đề quan trọng nhất là chuẩn bị nhân sự cao cấp cho Đại hội Đảng lần thứ 12 vào đầu năm 2016 đã được Ban CHTW thông qua. Dưới đây là một số thông tin ghi nhận được bên lề Hội nghị Trung ương 12 từ các nguồn tin.
Vấn đề nhân sự ai ở, ai đi hay chuyện cơ cấu nhân sự cho Đại hội Đảng 12 của các chuyên gia là chuyện dự đoán trên cơ sở thu thập các thông tin từ những nguồn tin là người trong cuộc, ở đây là các quan chức cao cấp trong đảng. Độ tiếp cận các thông tin ở mức càng cao bao nhiêu thì độ xác thực của các thông tin đưa ra càng chính xác bấy nhiêu.
Các phân tích gần đây của ông Lê Hồng Hiệp và giáo sư Carl Thayer (Úc) đều có một đánh giá chung cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đang ở thế thượng phong so với các đối thủ chính trị khác và hy vọng cho ông Nguyễn Tấn Dũng ở cái ghế tổng bí thư đảng CSVN.
Tuy vậy tất cả đều là sự phỏng đoán, vấn đề các vị trí nhân sự quan trọng nhất sẽ do BCHTW quyết định.
Nhiệm vụ trọng tâm của công tác nhân sự trong Hội nghị BCHTW 12 sẽ là: thông qua phương án đối với các trường hợp nhân sự đặc biệt của Bộ Chính trị và BCHTW cần thiết cho khóa 12; chốt cơ cấu của Bộ Chính trị là 17 hay 19 thành viên và xem xét việc tăng số lượng các Ủy viên BCHTW; dự kiến danh sách các thành viên của 2 cơ quan lãnh đạo này; dự kiến nhân sự cho các chức danh chủ chốt - tứ trụ để các thành viên thảo luận.
Được biết, Bộ Chính trị đã trình BCHTW 3 phương án nhân sự chủ yếu để cho Ban CHTW bàn bạc như sau:
1. Phương án 1: Đảm bảo tính kế thừa
Việc lựa chọn một đồng chí có kinh nghiệm điều hành quản lý sẽ nắm chức vụ Tổng Bí thư Đảng sau Đại hội 12 là yêu cầu hết sức cần thiết và phù hợp với tình hình trong gia đoạn mới. Tuy vậy, để đảm bảo tính chuyển tiếp và kết thừa thì cũng cần thiết một phương án phù hợp, đặc biệt là quan hệ đối ngoại.
Dự kiến:
TBT - Nguyễn Tấn Dũng; TT: Trần Đại Quang; CTN: Nguyễn Thiện Nhân; CTQH: Phạm Quang Nghị.
2. Phương án 2: Trẻ hóa cán bộ
Độ tuổi của các Ủy viên Bộ Chính trị không quá 63 tuổi (sinh năm 1953), đây là yêu cầu được đưa ra từ số đông các Ủy viên Trung ương được cho là thuộc phe của ông Dũng:
Dự kiến:
TBT: Nguyễn Tấn Dũng; TT: Trần Đại Quang; CTN: Nguyễn Thiện Nhân; CTQH: Nguyễn Thị Kim Ngân
3. Phương án 3: Lựa chọn theo quy định
Trong trường hợp các nhân sự đặc biệt không được BCHTW thông qua, thì phương án nhân sự sẽ được thực hiện theo đúng quy định và BCHTW bầu theo điều lệ của đảng trên cơ sở các nhân sự của Bộ Chính trị trình BCHTW.
Dự kiến:
TBT: Trần Đại Quang; TT: Nguyễn Xuân Phúc; CTN: Nguyễn Thiện Nhân; CTQH: Nguyễn Thị Kim Ngân
Phương án nhân sự do Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành trung ương trong Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ 12 để thảo luận cũng chỉ là đường hướng mà Hội nghị BCHTW 12 lần này chốt lại ở mức sơ bộ.
Điều này sẽ còn được bàn bạc ở các Hội nghị BCHTW tiếp theo nếu cần thiết.
Theo nguồn tin cho biết, thì các vị như ông Trần Đại Quang, ông Nguyễn Xuân Phúc, ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân sẽ là ứng viên cho 4 chức vụ quan trọng.
Số lượng Ủy viên Bộ Chính trị sẽ là 17 người.
Dự kiến các Ủy viên Bộ Chính trị khóa 11 ở lại khóa sau chỉ còn 8/16 vị.
Các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa, Lê Hồng Anh, Trương Tấn Sang, Ngô Văn Dụ, Phùng Quang Thanh, Lê Thanh Hải sẽ nghỉ.
Danh sách bổ xung sẽ bao gồm: Đỗ Bá Tỵ, Ngô Xuân Lịch, Phạm Minh Chính, Võ Văn Thưởng, Tô Lâm, Đinh Tiến Dũng, Trịnh Đình Dũng, Nguyễn Hòa Bình và Phạm Bình Minh.
Điều đáng nói là ông Vũ Đức Đam không có tên trong danh sách dự kiến này.
Lâu nay, ban lãnh đạo Việt nam tiến hành quản lý theo phương thức lãnh đạo tập thể, tập thể cùng quyết và cùng chịu trách nhiệm đã dẫn đến tình trạng vai trò của Bộ Chính trị và Tổng Bí thư đã khá lu mờ, do sự bất đồng nội bộ. Do đó mọi vấn đề lớn và quan trọng cho đến nay đều phải được đưa ra bàn bạc tại Hội nghị BCHTW. Lối làm việc này dẫn đến tình trạng trong Bộ Chính cá mè một lứa, không ai bảo được ai, đây chính là nguyên nhân khiến cho các quyết định từ cơ quan cao nhất không có hiệu lực.
Từ đó có ý kiến thấy rằng quyền lực trong đảng cần phải được tập trung trong tay một người thì sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Tuy vây, phương án này đã không được thống nhất trong Bộ Chính trị, với lý do sẽ dẫn tới tình trạng lãnh đạo độc đoán như trường hợp Tổng Bí thư Lê Duẩn trước đây. Tuy vậy đa số Ban CHTW lại ủng hộ phương án này, đó là phương án Tổng Bí thư kiêm chức vụ Chủ tịch nước theo mô hình Trung quốc.
Đánh giá chung của Hội nghị Trung ương 12 là phe cải cách của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có ưu thế vượt trội và áp đảo, dù rằng có tin cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng tỏ ra mệt mỏi. Song cơ cấu nhân sự có quá nhiều những nhân vật vốn xuất thân từ ngành Công an là một điểm mờ cho ban lãnh đạo khóa tới.
Tin giờ chót: Nhân sự cho các chức danh "tứ trụ" và đặc biệt là chức danh Tổng Bí Thư cũng chưa được chốt lại lần cuối và sẽ tiếp tục được bàn bạc thêm.
11/10/2015
© Việt Dũng
-
Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015
Vì sao Mỹ phản đối Nga ném bom phiến quân Syria?
Theo nhà nghiên cứu Tony Cartalucci, Nga ném bom phiến quân được Mỹ hậu thuẫn là do Washington cố tình dung dưỡng al-Qaeda và IS lật đổ chế độ Assad.
Cùng với một số phóng viên phương Tây khác, nhà báo Australia Lauren Williams đưa tin Nga đã tiến hành các cuộc ném bom phiến quân ở Homs và Hama, nơi không có các hang ổ của nhóm cực đoan Nhà nước Hồi giáo IS.

Những mục tiêu không kích của máy bay Nga ở Syria trong 48 giờ đầu tiên.
Trong bài viết đăng trên The Interpreter, nhà báo Lauren Williams dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter nói: "Các khu vực xung quanh Homs và Hama không có các điểm nóng ISIS (IS). Trong thực tế, những địa điểm này được biết đến là thành trì của các lực lượng phiến quân ôn hòa được Mỹ hậu thuẫn và một cửa ngõ chiến lược quan trọng dẫn đến khu vực ven biển của những người Alawite ủng hộ (Tổng thống) Assad".
Nhưng thế nào là "lực lượng nổi dậy ôn hòa" ở Syria và nó đến từ đâu?
Từ Bangkok, nhà nghiên cứu địa chính trị Tony Cartalucci khẳng định: "Ngay từ đầu (cuộc nội chiến Syria), chưa bao giờ có ‘quân nổi dậy ôn hòa’ ở Syria. Bắt đầu từ năm 2007, nhiều năm trước khi cuộc nội chiến Syria nổ ra, Mỹ đã quyết định hỗ trợ cho Tổ chức ‘Anh em Hồi giáo’ ở Syria – một cánh chính trị của al-Qaeda - và bắt đầu vũ trang cho phiến quân có liên hệ với al-Qaeda”.
Nhà báo từng đoạt giải Pulitzer, Seymour Hersh, chỉ ra rằng ngay từ đầu những năm 2000, chính quyền Bush đã quyết định "sắp xếp lại những ưu tiên của Mỹ ở Trung Đông”. Kể từ thời điểm đó, Washington đã đứng về phía những người Hồi giáo Sunni, hợp tác với các nhà lãnh đạo Ả-rập Xê-út chống lại người Shiite được Iran hậu thuẫn. Để làm suy yếu vị thế của trục Iran-Syria trong khu vực, Mỹ đã tiến hành một loạt các hoạt động bí mật nhằm chống lại Tehran và Damascus. Theo nhà báo Seymour Hersh, "một sản phẩm phụ của các hoạt động này là các nhóm cực đoan Sunni thù địch với Mỹ và đồng cảm với al-Qaeda”. Ông Hersh cũng tiết lộ rằng trong khoảng thời gian đó, nhóm cực đoan “Anh em Hồi giáo” ở Syria đã được nhận kinh phí và hỗ trợ của Mỹ thông qua Ả-rập Xê-út.
Nhà báo Seymour Hersh dẫn lời các cựu quan chức CIA và Nhà Trắng cho biết trong những năm 2000, nhà lãnh đạo của Mặt trận cứu quốc Syria - một liên minh giữa các nhóm đối lập Syria và tổ chức “Anh en Hồi giáo” – là Abdul Halim Khaddam (cựu Phó Tổng thống Syria đào thoát vào năm 2005) đã nhận được hỗ trợ tài chính-chính trị của Mỹ.

Các chi nhánh al-Qaeda tại Syria, đáng chú ý nhất là Mặt trận al-Nusra, đi đầu trong cuộc chiến do Mỹ hậu thuẫn chống lại Damascus.
Nhà nghiên cứu địa chính trị Tony Cartalucci nhận định: "Đến năm 2011, các chi nhánh al-Qaeda tại Syria, đáng chú ý nhất là Mặt trận al-Nusra, bắt đầu hoạt động trên toàn quốc và đi đầu trong cuộc chiến do Mỹ hậu thuẫn chống lại Damascus. Đến năm 2012, khi Bộ Ngoại giao Mỹ liệt kê Mặt trận al-Nusra là một tổ chức khủng bố, chi nhánh của al-Qaeda này chính là lực lượng lớn nhất và mạnh nhất chống chính phủ Syria trên chiến trường”.
Nhà nghiên cứu Cartalucci nhấn mạnh rằng trong khi Washington cố tìm cách thuyết phục dư luận rằng cuộc nổi dậy chống Assad là do phe đối lập “ôn hòa” phát động, nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Kể từ năm 2011, al-Qaeda và chi nhánh của nó là Mặt trận al-Nursa là lực lượng chính cầm đầu cuộc nội chiến Syria. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ có đoạn viết: “Kể từ tháng 11/2011, Mặt trận al-Nusra đã tiến hành gần 600 cuộc tấn công – trong đó có hơn 40 cuộc tấn công tự sát - tại trung tâm các thành phố lớn như Damascus, Aleppo, Hama, Dara, Homs, Idlib và Dayr al-Zawr. Trong các cuộc tấn công nhiều thường dân Syria vô tội đã bị giết chết ".
Hơn nữa, rất nhiều những đám chiến binh "đối lập" không phải là công dân Syria. Nhà nghiên cứu Cartalucci dẫn một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết vào lúc bắt đầu cuộc chiến chống chính phủ Assad (2011), Qatar đã phát hành hộ chiếu Syria giả cho các chiến binh thánh chiến al-Qaeda để thuyết phục dư luận thế giới rằng họ là quân nổi dậy chứ không phải lính đánh thuê nước ngoài.
Trong khi đó, các phương tiện truyền thông phương Tây mới đây đưa tin đám quân quân nổi dậy “ôn hòa” ít ỏi do Mỹ đào tạo đã “đào tẩu hàng loạt” ngay từ khi bước vào lãnh thổ Syria. Về việc này nhà phân tích Cartalucci cho rằng đây chính là bằng chứng cho thấy lực lượng nổi dậy “ôn hòa” là không đáng kể. (Theo một viên tướng Mỹ, hiện chỉ còn 4-5 chiến binh nổi dậy “ôn hòa” được Mỹ đào tạo đang cầm súng chống IS). Theo ông Cartalucci, Mỹ đã gián tiếp cung cấp vũ khí tinh vi hiện đại cho các lực lượng Hồi giáo cực đoan thông qua chương trình huấn luyện quân nổi dậy “ôn hòa” dự kiến tiêu tốn 500 triệu USD.
Chính vì vậy, nhà nghiên cứu địa chính trị Tony Cartalucci cho rằng Nga không ném bom quân nổi dậy “ôn hòa” (vì lực lượng này hầu như không tồn tại ở Syria) mà là không kích các tổ chức khủng bố đang hoạt động dưới ngọn cờ al-Qaeda và nhóm cực đoan Nhà nước Hồi giáo.
Minh Châu (Theo Sputnik)
Một liên minh với sự hợp sức của hơn 60 nước do Mỹ cầm đầu đã thực hiện chiến dịch không kích IS tại Syria từ tháng 8/2014 với chi phí hàng ngày cho chiến dịch này khoảng 5,5 triệu USD và tăng dần lên.
Tổng chi phí thực hiện chiến dịch này, tính đến tháng 4/2015, đã là khoảng hơn 4 tỷ USD (con số chưa được xác nhận). Mặc dù chi phí bỏ ra rất nhiều nhưng dường như IS không những không bị tiêu diệt mà còn ngày càng trở nên lớn mạnh hơn. IS còn sẵn sàng công bố các đoạn video xử tử dã man các con tin như là cách thức để “trêu ngươi” phương Tây.
Tuy nhiên, chỉ ít ngày sau khi Nga vào cuộc, một loạt các căn cứ quan trọng của IS ở Syria đã bị phá hủy. Chỉ sau khoảng hơn 60 đợt không kích, Nga đã tiêu diệt, phá hủy hơn 50 cơ sở hạ tầng quan trọng của IS, trong đó có các sở chỉ huy, kho vũ khí…và khiến khoảng hơn 3.000 phiến quân IS đã phải chạy trốn khỏi Syria.

Ảnh minh họa
“Bộ mặt thật” của Mỹ ở Syria dần được phơi bày?
Theo các chuyên gia phân tích thuộc tạp chí “Chuyên gia” của Nga trong bài viết đăng tải ngày 5/10, sở dĩ chiến dịch không kích IS của Mỹ và phương Tây được thực hiện ở Syria không phải là nhằm tiêu diệt IS mà ngược lại là nhằm trợ lực cho IS trong việc lật đổ chế độ Tổng thống Bashar al-Assad. Nếu mục đích này được thực hiện thành công, Mỹ sẽ xây dựng được “bàn đạp” cực kỳ quan trọng để gây bất ổn khu vực phía Nam của Nga và toàn bộ Trung Á.
Theo các chuyên gia này, không phải ngẫu nhiên khi giọng điệu của Mỹ luôn không thay đổi là “trong bất cứ trường hợp nào thì ông Assad đều phải từ bỏ ghế Tổng thống Syria”. Kịch bản được xây dựng lên là sau khi lật đổ chế độ ông al-Assad, lực lượng IS (hoặc phe đối lập Syria nhưng sẽ do IS điều khiển) sẽ lên nắm quyền ở Syria. Khi đó, lực lượng này sẽ kiểm soát toàn bộ đường tiếp cận ra biển, các tuyến giao thông đường thủy và hệ thống các giếng dầu ở Syria.
Nếu kịch bản này được thực hiện, bất ổn sẽ gia tăng nhanh chóng ở khu vực Bắc Kavkaz vì khoảng cách từ các căn cứ của IS đến khu vực Bắc Kavkaz của Nga còn ngắn hơn khoảng cách từ Moscow đến Saint-Peterburg. Ngoài ra, những bất ổn xã hội cũng sẽ bùng phát tại Trung Á, nơi mà giới trẻ đang trông đợi “cú hích” về tiền bạc và tư tưởng của IS. Tiếp theo đó là các vấn đề người tị nạn, bất ổn, hỗn loạn sẽ bao trùm khu vực biên giới phía Nam của Nga.
Do đó, theo các chuyên gia này, việc Nga thực hiện không kích IS ở Syria là nhằm “chặn đứng” kế hoạch trên.

Tổng thống Pháp Francois Hollande, Thủ tướng Đức Angela Merkel, Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Ukraine Poroshenko gặp nhau hôm 2/10 tại Pháp.
Phép thử đối với Nga
Tờ “Chuyên gia” nhấn mạnh rằng việc không kích IS ở Syria không chỉ là chiến thắng địa chính trị, mà còn là chiến thắng về mặt ngoại giao của Nga.
Nga đã thành công trong việc đẩy vấn đề Ukraine xuống hàng quan tâm thứ yếu của cộng đồng quốc tế. Người ta không thể quên hình ảnh ông Poroshenko “chạy khắp tòa nhà Liên Hợp Quốc” chỉ để được gặp ông Obama trong giây lát nhưng không được chấp thuận. Sau đó, Nga cũng đã giành thế thượng phong trong cuộc gặp của lãnh đạo “Bộ tứ Normady” tại Paris khi hầu hết các yêu cầu của Nga đều được Pháp và Đức “ép” Ukraine phải chấp nhận.
Về mặt địa chính trị, Nga đang dần xây dựng được một liên minh xung quanh mình, một liên minh dựa trên cơ sở bình đẳng cho tất cả các thành viên. Mặc dù tại Hội nghị An ninh Munich năm 2007, ông Putin đã lên tiếng kêu gọi hủy bỏ việc hình thành đội nhóm hay liên minh giữa các quốc gia nhưng khủng hoảng ở Ukraine và những sức ép của phương Tây buộc Nga phải thay đổi.
Để giải quyết bài toán mang tên IS, Nga đã thành lập được một liên minh chính trị-quân sự thực sự, dù thành viên hiện mới chỉ là Nga, Iran, Iraq và có thể cả Trung Quốc. Trong tương lai, liên minh này có thể có vai trò thay thế phương Tây mở rộng số lượng thành viên (Ấn Độ, Pakistan, các nước châu Phi, thậm chí cả một số nước châu Âu). Tuy nhiên, để đạt được mục đích này thì trước mắt, Nga phải tiêu diệt được IS và ngăn chặn những rủi ro tiềm tàng từ lực lượng này.
Nếu như thành công trong chiến dịch lần này, Nga sẽ xây dựng được hình ảnh của một quốc gia có vai trò là trọng tài quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp khu vực. Khi đó, Nga sẽ đạt được vị thế của một cực trong thế giới đa cực. Do đó, theo “Chuyên gia”, chiến dịch không kích IS hoàn toàn có thể coi là “phép thử đối với một cường quốc”. Bên cạnh đó, ngay từ lúc này, Nga đã phải nghĩ đến việc xây dựng một kịch bản C - ổn định lại khu vực Cận Đông sau chiến tranh. Nga cũng cần phải trở thành “nhà phát kiến” cho các Hiệp định Yalta về an ninh đối với khu vực này để nhận được những lợi ích về kinh tế và chính trị tương ứng với những nỗ lực đã bỏ ra.
Xuất phát từ những tính toán này, nhiều khả năng Nga sẽ dốc sức để tiêu diệt hoàn toàn IS, trước mắt là ở Syria, và sau đó có thể sang cả Iraq khi chính phủ Iraq đã chính thức đề nghị Nga tiêu diệt IS ở nước này.
Cùng với một số phóng viên phương Tây khác, nhà báo Australia Lauren Williams đưa tin Nga đã tiến hành các cuộc ném bom phiến quân ở Homs và Hama, nơi không có các hang ổ của nhóm cực đoan Nhà nước Hồi giáo IS.

Những mục tiêu không kích của máy bay Nga ở Syria trong 48 giờ đầu tiên.
Trong bài viết đăng trên The Interpreter, nhà báo Lauren Williams dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter nói: "Các khu vực xung quanh Homs và Hama không có các điểm nóng ISIS (IS). Trong thực tế, những địa điểm này được biết đến là thành trì của các lực lượng phiến quân ôn hòa được Mỹ hậu thuẫn và một cửa ngõ chiến lược quan trọng dẫn đến khu vực ven biển của những người Alawite ủng hộ (Tổng thống) Assad".
Nhưng thế nào là "lực lượng nổi dậy ôn hòa" ở Syria và nó đến từ đâu?
Từ Bangkok, nhà nghiên cứu địa chính trị Tony Cartalucci khẳng định: "Ngay từ đầu (cuộc nội chiến Syria), chưa bao giờ có ‘quân nổi dậy ôn hòa’ ở Syria. Bắt đầu từ năm 2007, nhiều năm trước khi cuộc nội chiến Syria nổ ra, Mỹ đã quyết định hỗ trợ cho Tổ chức ‘Anh em Hồi giáo’ ở Syria – một cánh chính trị của al-Qaeda - và bắt đầu vũ trang cho phiến quân có liên hệ với al-Qaeda”.
Nhà báo từng đoạt giải Pulitzer, Seymour Hersh, chỉ ra rằng ngay từ đầu những năm 2000, chính quyền Bush đã quyết định "sắp xếp lại những ưu tiên của Mỹ ở Trung Đông”. Kể từ thời điểm đó, Washington đã đứng về phía những người Hồi giáo Sunni, hợp tác với các nhà lãnh đạo Ả-rập Xê-út chống lại người Shiite được Iran hậu thuẫn. Để làm suy yếu vị thế của trục Iran-Syria trong khu vực, Mỹ đã tiến hành một loạt các hoạt động bí mật nhằm chống lại Tehran và Damascus. Theo nhà báo Seymour Hersh, "một sản phẩm phụ của các hoạt động này là các nhóm cực đoan Sunni thù địch với Mỹ và đồng cảm với al-Qaeda”. Ông Hersh cũng tiết lộ rằng trong khoảng thời gian đó, nhóm cực đoan “Anh em Hồi giáo” ở Syria đã được nhận kinh phí và hỗ trợ của Mỹ thông qua Ả-rập Xê-út.
Nhà báo Seymour Hersh dẫn lời các cựu quan chức CIA và Nhà Trắng cho biết trong những năm 2000, nhà lãnh đạo của Mặt trận cứu quốc Syria - một liên minh giữa các nhóm đối lập Syria và tổ chức “Anh en Hồi giáo” – là Abdul Halim Khaddam (cựu Phó Tổng thống Syria đào thoát vào năm 2005) đã nhận được hỗ trợ tài chính-chính trị của Mỹ.

Các chi nhánh al-Qaeda tại Syria, đáng chú ý nhất là Mặt trận al-Nusra, đi đầu trong cuộc chiến do Mỹ hậu thuẫn chống lại Damascus.
Nhà nghiên cứu địa chính trị Tony Cartalucci nhận định: "Đến năm 2011, các chi nhánh al-Qaeda tại Syria, đáng chú ý nhất là Mặt trận al-Nusra, bắt đầu hoạt động trên toàn quốc và đi đầu trong cuộc chiến do Mỹ hậu thuẫn chống lại Damascus. Đến năm 2012, khi Bộ Ngoại giao Mỹ liệt kê Mặt trận al-Nusra là một tổ chức khủng bố, chi nhánh của al-Qaeda này chính là lực lượng lớn nhất và mạnh nhất chống chính phủ Syria trên chiến trường”.
Nhà nghiên cứu Cartalucci nhấn mạnh rằng trong khi Washington cố tìm cách thuyết phục dư luận rằng cuộc nổi dậy chống Assad là do phe đối lập “ôn hòa” phát động, nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Kể từ năm 2011, al-Qaeda và chi nhánh của nó là Mặt trận al-Nursa là lực lượng chính cầm đầu cuộc nội chiến Syria. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ có đoạn viết: “Kể từ tháng 11/2011, Mặt trận al-Nusra đã tiến hành gần 600 cuộc tấn công – trong đó có hơn 40 cuộc tấn công tự sát - tại trung tâm các thành phố lớn như Damascus, Aleppo, Hama, Dara, Homs, Idlib và Dayr al-Zawr. Trong các cuộc tấn công nhiều thường dân Syria vô tội đã bị giết chết ".
Hơn nữa, rất nhiều những đám chiến binh "đối lập" không phải là công dân Syria. Nhà nghiên cứu Cartalucci dẫn một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết vào lúc bắt đầu cuộc chiến chống chính phủ Assad (2011), Qatar đã phát hành hộ chiếu Syria giả cho các chiến binh thánh chiến al-Qaeda để thuyết phục dư luận thế giới rằng họ là quân nổi dậy chứ không phải lính đánh thuê nước ngoài.
Trong khi đó, các phương tiện truyền thông phương Tây mới đây đưa tin đám quân quân nổi dậy “ôn hòa” ít ỏi do Mỹ đào tạo đã “đào tẩu hàng loạt” ngay từ khi bước vào lãnh thổ Syria. Về việc này nhà phân tích Cartalucci cho rằng đây chính là bằng chứng cho thấy lực lượng nổi dậy “ôn hòa” là không đáng kể. (Theo một viên tướng Mỹ, hiện chỉ còn 4-5 chiến binh nổi dậy “ôn hòa” được Mỹ đào tạo đang cầm súng chống IS). Theo ông Cartalucci, Mỹ đã gián tiếp cung cấp vũ khí tinh vi hiện đại cho các lực lượng Hồi giáo cực đoan thông qua chương trình huấn luyện quân nổi dậy “ôn hòa” dự kiến tiêu tốn 500 triệu USD.
Chính vì vậy, nhà nghiên cứu địa chính trị Tony Cartalucci cho rằng Nga không ném bom quân nổi dậy “ôn hòa” (vì lực lượng này hầu như không tồn tại ở Syria) mà là không kích các tổ chức khủng bố đang hoạt động dưới ngọn cờ al-Qaeda và nhóm cực đoan Nhà nước Hồi giáo.
Minh Châu (Theo Sputnik)
Không kích IS, Nga lật “bộ mặt thật” của Mỹ ở Syria?
Chỉ sau 5 ngày, chiến dịch không kích của Nga đã khiến IS ở Syria chịu những tổn thất nặng nề hơn nhiều so với chiến dịch của Mỹ kéo dài cả năm qua. Những kết quả tích cực này của Nga dường như đang khiến mục đích thật của Mỹ tại Syria dần được phơi
![]() |
| Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Mỹ Barack Obama |
Hơn 60 nước hợp lực đánh IS không bằng một mình Nga
Một liên minh với sự hợp sức của hơn 60 nước do Mỹ cầm đầu đã thực hiện chiến dịch không kích IS tại Syria từ tháng 8/2014 với chi phí hàng ngày cho chiến dịch này khoảng 5,5 triệu USD và tăng dần lên.
Tổng chi phí thực hiện chiến dịch này, tính đến tháng 4/2015, đã là khoảng hơn 4 tỷ USD (con số chưa được xác nhận). Mặc dù chi phí bỏ ra rất nhiều nhưng dường như IS không những không bị tiêu diệt mà còn ngày càng trở nên lớn mạnh hơn. IS còn sẵn sàng công bố các đoạn video xử tử dã man các con tin như là cách thức để “trêu ngươi” phương Tây.
Tuy nhiên, chỉ ít ngày sau khi Nga vào cuộc, một loạt các căn cứ quan trọng của IS ở Syria đã bị phá hủy. Chỉ sau khoảng hơn 60 đợt không kích, Nga đã tiêu diệt, phá hủy hơn 50 cơ sở hạ tầng quan trọng của IS, trong đó có các sở chỉ huy, kho vũ khí…và khiến khoảng hơn 3.000 phiến quân IS đã phải chạy trốn khỏi Syria.

Ảnh minh họa
“Bộ mặt thật” của Mỹ ở Syria dần được phơi bày?
Theo các chuyên gia phân tích thuộc tạp chí “Chuyên gia” của Nga trong bài viết đăng tải ngày 5/10, sở dĩ chiến dịch không kích IS của Mỹ và phương Tây được thực hiện ở Syria không phải là nhằm tiêu diệt IS mà ngược lại là nhằm trợ lực cho IS trong việc lật đổ chế độ Tổng thống Bashar al-Assad. Nếu mục đích này được thực hiện thành công, Mỹ sẽ xây dựng được “bàn đạp” cực kỳ quan trọng để gây bất ổn khu vực phía Nam của Nga và toàn bộ Trung Á.
Theo các chuyên gia này, không phải ngẫu nhiên khi giọng điệu của Mỹ luôn không thay đổi là “trong bất cứ trường hợp nào thì ông Assad đều phải từ bỏ ghế Tổng thống Syria”. Kịch bản được xây dựng lên là sau khi lật đổ chế độ ông al-Assad, lực lượng IS (hoặc phe đối lập Syria nhưng sẽ do IS điều khiển) sẽ lên nắm quyền ở Syria. Khi đó, lực lượng này sẽ kiểm soát toàn bộ đường tiếp cận ra biển, các tuyến giao thông đường thủy và hệ thống các giếng dầu ở Syria.
Nếu kịch bản này được thực hiện, bất ổn sẽ gia tăng nhanh chóng ở khu vực Bắc Kavkaz vì khoảng cách từ các căn cứ của IS đến khu vực Bắc Kavkaz của Nga còn ngắn hơn khoảng cách từ Moscow đến Saint-Peterburg. Ngoài ra, những bất ổn xã hội cũng sẽ bùng phát tại Trung Á, nơi mà giới trẻ đang trông đợi “cú hích” về tiền bạc và tư tưởng của IS. Tiếp theo đó là các vấn đề người tị nạn, bất ổn, hỗn loạn sẽ bao trùm khu vực biên giới phía Nam của Nga.
Do đó, theo các chuyên gia này, việc Nga thực hiện không kích IS ở Syria là nhằm “chặn đứng” kế hoạch trên.

Tổng thống Pháp Francois Hollande, Thủ tướng Đức Angela Merkel, Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Ukraine Poroshenko gặp nhau hôm 2/10 tại Pháp.
Phép thử đối với Nga
Tờ “Chuyên gia” nhấn mạnh rằng việc không kích IS ở Syria không chỉ là chiến thắng địa chính trị, mà còn là chiến thắng về mặt ngoại giao của Nga.
Nga đã thành công trong việc đẩy vấn đề Ukraine xuống hàng quan tâm thứ yếu của cộng đồng quốc tế. Người ta không thể quên hình ảnh ông Poroshenko “chạy khắp tòa nhà Liên Hợp Quốc” chỉ để được gặp ông Obama trong giây lát nhưng không được chấp thuận. Sau đó, Nga cũng đã giành thế thượng phong trong cuộc gặp của lãnh đạo “Bộ tứ Normady” tại Paris khi hầu hết các yêu cầu của Nga đều được Pháp và Đức “ép” Ukraine phải chấp nhận.
Về mặt địa chính trị, Nga đang dần xây dựng được một liên minh xung quanh mình, một liên minh dựa trên cơ sở bình đẳng cho tất cả các thành viên. Mặc dù tại Hội nghị An ninh Munich năm 2007, ông Putin đã lên tiếng kêu gọi hủy bỏ việc hình thành đội nhóm hay liên minh giữa các quốc gia nhưng khủng hoảng ở Ukraine và những sức ép của phương Tây buộc Nga phải thay đổi.
Để giải quyết bài toán mang tên IS, Nga đã thành lập được một liên minh chính trị-quân sự thực sự, dù thành viên hiện mới chỉ là Nga, Iran, Iraq và có thể cả Trung Quốc. Trong tương lai, liên minh này có thể có vai trò thay thế phương Tây mở rộng số lượng thành viên (Ấn Độ, Pakistan, các nước châu Phi, thậm chí cả một số nước châu Âu). Tuy nhiên, để đạt được mục đích này thì trước mắt, Nga phải tiêu diệt được IS và ngăn chặn những rủi ro tiềm tàng từ lực lượng này.
Nếu như thành công trong chiến dịch lần này, Nga sẽ xây dựng được hình ảnh của một quốc gia có vai trò là trọng tài quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp khu vực. Khi đó, Nga sẽ đạt được vị thế của một cực trong thế giới đa cực. Do đó, theo “Chuyên gia”, chiến dịch không kích IS hoàn toàn có thể coi là “phép thử đối với một cường quốc”. Bên cạnh đó, ngay từ lúc này, Nga đã phải nghĩ đến việc xây dựng một kịch bản C - ổn định lại khu vực Cận Đông sau chiến tranh. Nga cũng cần phải trở thành “nhà phát kiến” cho các Hiệp định Yalta về an ninh đối với khu vực này để nhận được những lợi ích về kinh tế và chính trị tương ứng với những nỗ lực đã bỏ ra.
Xuất phát từ những tính toán này, nhiều khả năng Nga sẽ dốc sức để tiêu diệt hoàn toàn IS, trước mắt là ở Syria, và sau đó có thể sang cả Iraq khi chính phủ Iraq đã chính thức đề nghị Nga tiêu diệt IS ở nước này.
Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015
Việt Nam: Ghế lãnh đạo và cán cân Trung-Mỹ

Giáo sư Thayer bàn về "hai khả năng" cho ghế Tổng bí thư Đảng.
Giáo sư Carl Thayer, nhà quan sát chính trị Việt Nam, phân tích về bế tắc chính trị cấp lãnh đạo trước thềm Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12.
Trong bài viết đăng trên tạp chí The Diplomat vào hôm 02/10/2015, ông Thayer cho rằng đấu đá ghế nhân sự cấp lãnh đạo tại Việt Nam và vụ xử nhà báo làm gián điệp cho Trung Quốc đặt ra nhiều câu hỏi về hướng đi tương lai.
Giáo sư Thayer mở đầu bài viết bằng việc nói tới thực trạng công bố dự thảo Báo cáo Chính trị và Kế hoạch Kinh tế Xã hội (2016-2020) chậm.
Dự thảo báo cáo như vậy được đưa ra 9 tháng trước kỳ Đại hội 11 trong khi lần này đưa ra chỉ có 4 tháng trước.
Mặc dù việc lựa chọn các ghế lãnh đạo đã được thảo luận tại hội nghị trung ương lần thứ mười một của Ủy ban Trung ương Đảng hồi tháng Năm nhưng không có tuyên bố nào cả.
Giáo sư Thayer cho rằng các nhà quan sát tại Hà Nội cho biết Ủy ban Trung ương có thể được triệu tập lại vào tháng Mười để giải quyết bế tắc việc lựa chọn lãnh đạo với một phiên tiếp theo được lên lịch cho tháng 11 nếu không đạt được đồng thuận.
Nếu Ủy ban Trung ương Đảng không thể đạt được sự đồng thuận về hai ứng viên cho ghế Tổng bí thư Đảng (như báo chí nói có hai người đều từ miền nam là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong khi ghế này vốn là của người miền bắc) thì sẽ có hai khả năng xảy ra, theo ông Carl Thayer.
“Khả năng thứ nhất là cả hai ứng viên sẽ rời vũ đài chính trị để nghỉ hưu và vị lãnh đạo đảng tiếp theo sẽ được các ủy viên Bộ Chính trị bầu chọn.
“Khả năng thứ hai là nhà lãnh đạo đảng hiện này là ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được tái bổ nhiệm với sự nhất trí rằng ông sẽ nhường đường cho một lãnh đạo khác trước khi hết nhiệm kỳ 5 năm của mình.
“Giải pháp này sẽ tương tự như tại Đại hội Đảng lần thứ tám vào năm 1996 khi bầu lại ông Đỗ Mười làm Tổng Bí thư và nhất trí rằng ông sẽ từ chức trước giữa nhiệm kỳ. Ông Lê Khả Phiếu đã thay ông Đỗ Mười vào cuối năm 1997.
Giáo sư Carl Thayer, nhà quan sát chính trị Việt Nam, phân tích về bế tắc chính trị cấp lãnh đạo trước thềm Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12.
Trong bài viết đăng trên tạp chí The Diplomat vào hôm 02/10/2015, ông Thayer cho rằng đấu đá ghế nhân sự cấp lãnh đạo tại Việt Nam và vụ xử nhà báo làm gián điệp cho Trung Quốc đặt ra nhiều câu hỏi về hướng đi tương lai.
Giáo sư Thayer mở đầu bài viết bằng việc nói tới thực trạng công bố dự thảo Báo cáo Chính trị và Kế hoạch Kinh tế Xã hội (2016-2020) chậm.
Dự thảo báo cáo như vậy được đưa ra 9 tháng trước kỳ Đại hội 11 trong khi lần này đưa ra chỉ có 4 tháng trước.
Mặc dù việc lựa chọn các ghế lãnh đạo đã được thảo luận tại hội nghị trung ương lần thứ mười một của Ủy ban Trung ương Đảng hồi tháng Năm nhưng không có tuyên bố nào cả.
Giáo sư Thayer cho rằng các nhà quan sát tại Hà Nội cho biết Ủy ban Trung ương có thể được triệu tập lại vào tháng Mười để giải quyết bế tắc việc lựa chọn lãnh đạo với một phiên tiếp theo được lên lịch cho tháng 11 nếu không đạt được đồng thuận.
Nếu Ủy ban Trung ương Đảng không thể đạt được sự đồng thuận về hai ứng viên cho ghế Tổng bí thư Đảng (như báo chí nói có hai người đều từ miền nam là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong khi ghế này vốn là của người miền bắc) thì sẽ có hai khả năng xảy ra, theo ông Carl Thayer.
“Khả năng thứ nhất là cả hai ứng viên sẽ rời vũ đài chính trị để nghỉ hưu và vị lãnh đạo đảng tiếp theo sẽ được các ủy viên Bộ Chính trị bầu chọn.
“Khả năng thứ hai là nhà lãnh đạo đảng hiện này là ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được tái bổ nhiệm với sự nhất trí rằng ông sẽ nhường đường cho một lãnh đạo khác trước khi hết nhiệm kỳ 5 năm của mình.
“Giải pháp này sẽ tương tự như tại Đại hội Đảng lần thứ tám vào năm 1996 khi bầu lại ông Đỗ Mười làm Tổng Bí thư và nhất trí rằng ông sẽ từ chức trước giữa nhiệm kỳ. Ông Lê Khả Phiếu đã thay ông Đỗ Mười vào cuối năm 1997.
'Người cho đăng, kẻ bắt gỡ'

Việc cho xét xử công khai cựu nhà báo trực thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam làm gián điệp cho Trung Quốc đang gây bàn luận nhiều.
Theo ông Thayer, trước thềm đại hội đảng nào thì các sự kiện xảy ra đều được các nhà quan sát chính trị nghiên cứu kỹ để xem gió đang thổi về hướng nào và trước kỳ đại hội này cũng vậy.
"Chẳng hạn như khi Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội tổ chức chiêu đãi chào mừng ngày Quốc khánh Trung Quốc (được tổ chức sớm vào ngày 29 tháng 9) tại Hà Nội, Việt Nam đã cử đại diện là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bùi Quang Vinh tới dự.
"Ông Vinh không phải là ủy viên Bộ Chính trị và dự kiến sẽ nghỉ hưu sau Đại hội Đảng 12. Có bàn tán nhiều tại Hà Nội về lý do tại sao một quan chức tương đối "thấp cấp" lại đại diện cho chính phủ Việt Nam.
"Ngày 30 tháng 9, một ngày sau lễ tân tại Đại sứ quán Trung Quốc, truyền thông Việt Nam đưa tin Hà Huy Hoàng, một cựu nhân viên của Bộ Ngoại giao và từng là phóng viên báo Thế giới và Việt Nam, bị xử và bị tuyên án tù 6 năm vì tôi làm gián điệp cho Trung Quốc.
"Truyền thông đưa tin về các vụ gián điệp liên quan đến công dân Việt Nam là cực kỳ hiếm. Điều này dẫn đến đồn đoán về thời điểm của phiên toà và người cho phép đăng tin.
"Sau đó người ta càng đồn đoán nhiều hơn khi báo Tuổi Trẻ, VnExpress và các báo khác đã gỡ bài trên trang web của họ. Nay người ta quay sang bàn tán ai là người ra lệnh gỡ các bài báo này xuống," ông Thayer viết.
Theo Giáo sư Carl Thayer thời điểm xảy ra phiên tòa xử nhà báo Việt Nam là gián điệp cho Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh có đấu đá chính trị trong hàng ngũ chính trị chóp bu trước thềm Đại hội Đảng 12.
“Rõ ràng là một vấn đề trọng tâm chưa được giải quyết là Việt Nam xử lý các mối quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ như thế nào.
"Dự thảo Báo cáo Chính trị đại hội 12 không đưa ra gợi ý về định hướng trong chính sách trong tương lai về chủ đề rắm rối này.
Có tin nói Bắc Kinh nói với Hà Nội về việc không thích Ngoại trưởng Phạm Bình "leo cao" vì "thân Mỹ".
Ông Thayer cho rằng rõ ràng là một số nhân vật trong hàng ngũ chính trị cao cấp của Việt Nam đã duyệt việc đưa tin phiên xử hoạt động gián điệp của công dân Việt cho Trung Quốc. Động thái này diễn ra ngay sau khi có tin Việt Nam cho phép Trung Quốc mở một Tổng Lãnh sự quán tại Đà Nẵng.
"Việc cho xét xử công khai [vụ gián điệp] này một dấu hiệu quan trọng cho thấy việc Việt Nam xử lý mối quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ ra sao là một chủ đề nóng bỏng vào lúc này," ông Thayer nhận định.
"Những người phản đối việc Việt Nam xích quá gần với Hoa Kỳ nói về "mối đe dọa của biến hòa bình" là đe dọa an ninh quốc gia. Họ chỉ ra áp lực của Mỹ về nhân quyền và tự do tôn giáo như là một phần của mối đe dọa này.
"Các cáo buộc về hoạt động gián điệp cho Trung Quốc châm ngòi cho quan ngại gồm các tiếng nói khác nhau đang góp giọng rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và có thể đang cố gây ảnh hưởng đến kết quả của Đại hội Đảng toàn quốc sắp tới.
"Giới quan sát tại Hà Nội nói với tờ The Diplomat rằng Trung Quốc đã chọn một số nhà lãnh đạo Việt Nam để nhắn gửi rằng họ phản đối việc thăng quan tiến chức cho Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, người được xem là thân Mỹ.
"Các nguồn tại Việt Nam cũng cho Hà Nội biết ở lúc gặp kín rằng Chủ tịch Tập Cận Bình có thể hoãn chuyến thăm dự kiến của mình đến Việt Nam trong tháng này nếu Hà Nội không ngưng việc chỉ trích các hoạt xây dựng đảo nhân tạo ở Biển Đông của Trung Quốc. Cũng những nguồn này tin rằng chuyến thăm sẽ được tiến hành vì đối với Trung Quốc thì đây là chuyến thăm quan trọng," Giáo sư Thayer viết.
'Diễn biến hòa bình' và 'gián điệp TQ'

Tác giả nói về khả năng Tổng thống Obama sẽ thăm Việt Nam trong tháng 11 sau khi Chủ tịch Tập Cận Bình thăm Hà Nội vào tháng 10.
"Những người muốn thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ nhấn mạnh những lợi thế kinh tế của vị thế hội viên trong thỏa thuận TPP. Nhóm này hiện đang chống lại biện luận về "mối đe dọa của biến hòa bình" bằng cách chỉ ra rằng hoạt động gián điệp Trung Quốc là một mối đe dọa lớn đối với an ninh quốc gia.
"Nói cách khác, các mối đe dọa diễn biến hòa bình từ Hoa Kỳ hiện đang được đấu đầu với mối đe dọa lật đổ từ Trung Quốc.
"Việc Việt Nam quyết định công khai phiên xử gián điệp, cùng với việc thả một số người bất đồng chính kiến trong những tháng gần đây, là chỉ dấu cho thấy khả năng thay đổi có thể có trong quan hệ Việt-Mỹ.
"Gần đây Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nói trong một cuộc phỏng vấn tại New York với hãng thông tấn AP rằng việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo của là bất hợp pháp theo luật quốc tế và đe dọa an ninh biển."
Theo Giáo sư Thayer, bình luận của ông Sang là "nhắm cả vào cả khán giả quốc tế và quốc nội."
"Lời lẽ của ông kể như như đặt nền tảng để làm sâu sắc thêm quan hệ với Hoa Kỳ đồng thời có thể được xem là việc đánh bóng hình ảnh của mình về lập trường an ninh quốc gia đối với trong nước.
"Việt Nam dự kiến sẽ tổ chức đón các chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Tập Cận Bình trog tháng 10 và Tổng thống Barack Obama trong tháng 11.
"Trong bối cảnh giới lãnh đạo còn đang đấu đá như hiện nay thì mỗi chuyến thăm này có thể được xem là những phép thử riêng biệt cho định hướng tương lai của Việt Nam", Giáo sư Thayer kết luận.
Theo ông Thayer, trước thềm đại hội đảng nào thì các sự kiện xảy ra đều được các nhà quan sát chính trị nghiên cứu kỹ để xem gió đang thổi về hướng nào và trước kỳ đại hội này cũng vậy.
"Chẳng hạn như khi Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội tổ chức chiêu đãi chào mừng ngày Quốc khánh Trung Quốc (được tổ chức sớm vào ngày 29 tháng 9) tại Hà Nội, Việt Nam đã cử đại diện là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bùi Quang Vinh tới dự.
"Ông Vinh không phải là ủy viên Bộ Chính trị và dự kiến sẽ nghỉ hưu sau Đại hội Đảng 12. Có bàn tán nhiều tại Hà Nội về lý do tại sao một quan chức tương đối "thấp cấp" lại đại diện cho chính phủ Việt Nam.
"Ngày 30 tháng 9, một ngày sau lễ tân tại Đại sứ quán Trung Quốc, truyền thông Việt Nam đưa tin Hà Huy Hoàng, một cựu nhân viên của Bộ Ngoại giao và từng là phóng viên báo Thế giới và Việt Nam, bị xử và bị tuyên án tù 6 năm vì tôi làm gián điệp cho Trung Quốc.
"Truyền thông đưa tin về các vụ gián điệp liên quan đến công dân Việt Nam là cực kỳ hiếm. Điều này dẫn đến đồn đoán về thời điểm của phiên toà và người cho phép đăng tin.
"Sau đó người ta càng đồn đoán nhiều hơn khi báo Tuổi Trẻ, VnExpress và các báo khác đã gỡ bài trên trang web của họ. Nay người ta quay sang bàn tán ai là người ra lệnh gỡ các bài báo này xuống," ông Thayer viết.
Theo Giáo sư Carl Thayer thời điểm xảy ra phiên tòa xử nhà báo Việt Nam là gián điệp cho Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh có đấu đá chính trị trong hàng ngũ chính trị chóp bu trước thềm Đại hội Đảng 12.
“Rõ ràng là một vấn đề trọng tâm chưa được giải quyết là Việt Nam xử lý các mối quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ như thế nào.
"Dự thảo Báo cáo Chính trị đại hội 12 không đưa ra gợi ý về định hướng trong chính sách trong tương lai về chủ đề rắm rối này.
Có tin nói Bắc Kinh nói với Hà Nội về việc không thích Ngoại trưởng Phạm Bình "leo cao" vì "thân Mỹ".
Ông Thayer cho rằng rõ ràng là một số nhân vật trong hàng ngũ chính trị cao cấp của Việt Nam đã duyệt việc đưa tin phiên xử hoạt động gián điệp của công dân Việt cho Trung Quốc. Động thái này diễn ra ngay sau khi có tin Việt Nam cho phép Trung Quốc mở một Tổng Lãnh sự quán tại Đà Nẵng.
"Việc cho xét xử công khai [vụ gián điệp] này một dấu hiệu quan trọng cho thấy việc Việt Nam xử lý mối quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ ra sao là một chủ đề nóng bỏng vào lúc này," ông Thayer nhận định.
"Những người phản đối việc Việt Nam xích quá gần với Hoa Kỳ nói về "mối đe dọa của biến hòa bình" là đe dọa an ninh quốc gia. Họ chỉ ra áp lực của Mỹ về nhân quyền và tự do tôn giáo như là một phần của mối đe dọa này.
"Các cáo buộc về hoạt động gián điệp cho Trung Quốc châm ngòi cho quan ngại gồm các tiếng nói khác nhau đang góp giọng rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và có thể đang cố gây ảnh hưởng đến kết quả của Đại hội Đảng toàn quốc sắp tới.
"Giới quan sát tại Hà Nội nói với tờ The Diplomat rằng Trung Quốc đã chọn một số nhà lãnh đạo Việt Nam để nhắn gửi rằng họ phản đối việc thăng quan tiến chức cho Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, người được xem là thân Mỹ.
"Các nguồn tại Việt Nam cũng cho Hà Nội biết ở lúc gặp kín rằng Chủ tịch Tập Cận Bình có thể hoãn chuyến thăm dự kiến của mình đến Việt Nam trong tháng này nếu Hà Nội không ngưng việc chỉ trích các hoạt xây dựng đảo nhân tạo ở Biển Đông của Trung Quốc. Cũng những nguồn này tin rằng chuyến thăm sẽ được tiến hành vì đối với Trung Quốc thì đây là chuyến thăm quan trọng," Giáo sư Thayer viết.
'Diễn biến hòa bình' và 'gián điệp TQ'

Tác giả nói về khả năng Tổng thống Obama sẽ thăm Việt Nam trong tháng 11 sau khi Chủ tịch Tập Cận Bình thăm Hà Nội vào tháng 10.
"Những người muốn thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ nhấn mạnh những lợi thế kinh tế của vị thế hội viên trong thỏa thuận TPP. Nhóm này hiện đang chống lại biện luận về "mối đe dọa của biến hòa bình" bằng cách chỉ ra rằng hoạt động gián điệp Trung Quốc là một mối đe dọa lớn đối với an ninh quốc gia.
"Nói cách khác, các mối đe dọa diễn biến hòa bình từ Hoa Kỳ hiện đang được đấu đầu với mối đe dọa lật đổ từ Trung Quốc.
"Việc Việt Nam quyết định công khai phiên xử gián điệp, cùng với việc thả một số người bất đồng chính kiến trong những tháng gần đây, là chỉ dấu cho thấy khả năng thay đổi có thể có trong quan hệ Việt-Mỹ.
"Gần đây Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nói trong một cuộc phỏng vấn tại New York với hãng thông tấn AP rằng việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo của là bất hợp pháp theo luật quốc tế và đe dọa an ninh biển."
Theo Giáo sư Thayer, bình luận của ông Sang là "nhắm cả vào cả khán giả quốc tế và quốc nội."
"Lời lẽ của ông kể như như đặt nền tảng để làm sâu sắc thêm quan hệ với Hoa Kỳ đồng thời có thể được xem là việc đánh bóng hình ảnh của mình về lập trường an ninh quốc gia đối với trong nước.
"Việt Nam dự kiến sẽ tổ chức đón các chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Tập Cận Bình trog tháng 10 và Tổng thống Barack Obama trong tháng 11.
"Trong bối cảnh giới lãnh đạo còn đang đấu đá như hiện nay thì mỗi chuyến thăm này có thể được xem là những phép thử riêng biệt cho định hướng tương lai của Việt Nam", Giáo sư Thayer kết luận.
Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015
Tiên đoán của Vanga về Syri.
ПОКА СИРИЯ НЕ ПАЛА... СИРИЯ РУХНЕТ К НОГАМ ПОБЕДИТЕЛЯ, НО ПОБЕДИТЕЛЬ ОКАЖЕТСЯ НЕ ТОТ!
Ванга (Вангелия Пандева Гуштерова; 31 января 1911 — 11 августа 1996) — болгарская ясновидящая. Согласно отзывам некоторых видных учёных первой половины XX века обладала даром телепатии и предвидения.
В ее пророчествах есть некий временной маячок, который точно позволил установить дату их начала и место – Сирию.
Как известно, там сейчас происходят народные волнения, грозящие сменой власти. Ситуация накаляется, в Дамаске сейчас пересеклись интересы всех мировых держав. Ванга предсказала, что Сирия окажется в центре событий, которые принесут человечеству мировой кризис и глобальные перемены.
Вот пророчества Ванги, которые произойдут в год падения правителя Сирии. Их она сделала незадолго до своей кончины:
«Скоро придет в мир древнейшее учение. Меня спрашивают: «Скоро ли придет это время?» Нет, не скоро. Еще Сирия не пала! Сирия рухнет к ногам победителя, но победитель окажется не тот!»
Как Ванга могла столько лет назад предвидеть череду арабских революций, смуту в Сирии, которая грозит расколоть мир на Земле? Объяснить это можно только ее мистическим даром видеть будущее. И судьбу Евросоюза, которого при жизни Ванги еще не было в помине, слепая пророчица предсказала жестко: «Европа не сможет помолодеть».
Относительно судьбы преемника президента США Барака Обамы Ванга высказалась так: «Америка примет бородатого и поймет, что страх хуже любви».
Зато предсказания Ванги о России благожелательны:
«Все растает, словно лед, только одно останется нетронутым — слава России. Она вновь станет великой империей, прежде всего империей духа. Как орел воспарит Россия над землею».
p.s.
На вопрос, когда начнется 3-я мировая, она ответила – “не скоро, еще не пала Сирия, как только Сирия падет,- ждите великую войну между Западом и Востоком”
Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015
Phát hiện cuốn sách cổ của nhà Thanh
01-10-2015
Phát hiện cuốn sách cổ của nhà Thanh, in đời vua Quang Tự (1875-1909) khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là của Việt Nam.
Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) - nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909). Sách in thạch bản (in đá) bằng chữ Hán).
Anh Luyện đã vui vẻ trao quyển sách này cho chúng tôi sở hữu và nghiên cứu với hi vọng có thêm những cứ liệu để công bố trước công luận và làm bằng chứng để khẳng định chủ quyền biển, đảo Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam.
Cuốn sách này có tên “Danh hoàn Chí lược” (Sách ghi chép về địa lý Thế giới), có khổ 20cm x 14,5cm, người giám định sách là hai tiên sinh Bích Tinh Tuyền và Lưu Ngọc Ba. Sách do Nhà xuất bản Hòe Lý Đường in.
Nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch sách Danh hoàn Chí lược
Ở trang 2 của sách ghi: “Quang Tự Mậu Tuất Mạnh Thu” (Tháng 7, năm Mậu Tuất, niên hiệu Quang Tự, triều vua Đức Tông (Tải Điềm -1898). Cũng ngay ở trang 2 ghi: Thượng Hải Thư Cục Đại Ấn (Thư cục Thượng Hải được cho quyền in sách này). Bộ sách này được biên soạn vào năm thứ 28 (Kỷ Dậu, 1849), niên hiệu Đạo Quang, triều vua Thanh Tuyên Tông (Mân Ninh, 1821-1851).
Ở trang 3, 4 và trang 5 của sách có ghi bài tựa của Lưu Vận Kha, soạn vào năm Kỷ Dậu (1849), mùa hạ tháng 4 - triều vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Đạo Quang. Bài tựa thứ 2 cũng viết vào năm Đạo Quang thứ 28, triều vua Thanh Tuyên Tông, do Bành Uẩn Chương soạn. Bộ sách này từ khi soạn (vào năm 1849, thời vua Thanh Tuyên Tông) phải mất 49 năm sau mới được in (vào năm 1898), triều vua Đức Tông (Nhà Thanh) - niên hiệu Quang Tự.
Bộ sách gồm nhiều tập. Chúng tôi chỉ chú tâm tới các tập 3, 4, 5 (vì 3 tập này đóng gộp thành 1 quyển) và có ghi các đảo thuộc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Sách Danh hoàn chí lược. Dòng chữ nhỏ bên phải ghi người giám định Bích Tinh Tuyền, Lưu Ngọc Ba. Dòng chữ nhỏ bên trái ghi Hòe Lý Đường Bản
Dòng chữ bên phải ghi Quang tự Mậu tuất Mạnh Thu. Dòng thứ hai bên trái ghi Thượng Hải thư cục đại ấn
Nội dung của sách chủ yếu tóm lược vị trí địa lý, lịch sử… của các nước trên thế giới. Sách còn vẽ bản đồ của các nước trên thế giới: từ Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia … cho đến Ả Rập.
Đặc biệt, ở trang 24, 25 của tập sách này có in tấm bản đồ Trung Quốc, mang tên “Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ” (Bản đồ toàn quốc thống nhất đời nhà Thanh). Trên bản đồ này đều có vẽ các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc, như: Việt Nam, Mông Cổ, Ấn Độ, Triều Tiên...
Đáng chú ý, ở phần biển đảo, Trung quốc chỉ vẽ đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam), Đảo Đài Loan (của Trung Quốc)… sau đó ghi chú là biển nhưng không hề vẽ và ghi chú đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc. (Bản đồ thứ 1, có ghi chú: Hoàng Thanh Nhất thống dư địa toàn đồ).
Bản đồ Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ (chưa dịch)
Bản đồ của nhà Thanh không có đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà chỉ ghi đảo Quỳnh Châu (Hải Nam) và đảo Đài Loan
Đặc biệt hơn nữa, ở tấm bản đồ in tại trang 40, 41 của cuốn sách này thì bên cạnh việc vẽ bản đồ đường biển Trung Quốc lại có vẽ eo biển Quảng Nam (và ghi rõ là Nam Việt - tức Việt Nam). Bên cạnh eo biển Quảng Nam, bản đồ này còn vẽ đảo Thất Châu Dương – biển Thất Châu (cả khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa - Vạn lý Trường Sa. Nếu theo bản đồ Trung Quốc thì Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc biển Thất Châu Dương - một cách gọi tên khác mà người Trung Quốc xưa thường dùng và ghi chú trên bản đồ để chỉ khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam (không có ghi khu vực biển Thất Châu Dương này thuộc địa giới của Trung Quốc).
Bản đồ đã chú thích trong đó có Trường Sa, Hoàng Sa thuộc địa phận biển Việt Nam
Ở tấm bản đồ trang 55 và 56 - chủ yếu vẽ về biển, đảo và các nước giáp Trung Quốc: biển Ấn Độ Dương (Trung Quốc gọi là Tiểu Tây Dương) và có cả ghi chú về Ấn Độ Dương. Trên bản đồ này còn cho biết về biển và đảo Trường Sa của Việt Nam giáp với đảo Quỳnh Châu (Hải Nam - thuộc Quảng Châu, Trung Quốc). Vẽ cả hình tượng bãi đá ở quần đảo Trường Sa. Trên bản đồ này còn vẽ khu vực biển đảo Quảng Nam: Trong đó vẽ và ghi Thất Châu Dương (Hoàng Sa, Trường Sa), vẽ cả cửa biển Lộc Nại của Quảng Nam và vẽ đảo Côn Lôn của Việt Nam.
Bản đồ Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ (chưa chú thích)
Đáng chú ý ở trang 88, 89 giúp cho người đọc hiểu về luồng lạch, hướng gió và các bãi đá ngầm ở trên các đảo Trường Sa, Hoàng Sa và phương hướng, độ dài (tính theo cách tính canh giờ của người xưa) đi trên biển để tới được các nước khác nếu xuất phát từ cửa biển: đảo Trường Sa của Việt Nam.
Phần phiên âm của sách được nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch như sau: “…Sách Hải quốc văn kiến lục có nói: Vùng Nam Dương (biển phía nam) là nơi thuyền buôn của vùng Mân Việt thường đến. Đường biển nơi đây nhiều chỗ nguy hiểm. Người chỉ huy thuyền đi qua biển này cần phải cẩn thận. Nguy hiểm nhất là nơi có hòn đảo Áo Khí. Thủy trình đi khoảng 7 canh giờ từ đảo Áo Khí đến đảo Lạc Tế. Đảo này nhỏ mà bằng phẳng. Ven đảo có nhiều đá ngầm ngổn ngang, thuyền không đến được; thu hút không khí, dòng chảy ở bốn phía. Trên đảo có nhiều cây cỏ mọc cao hơn một trượng, có núi Đông Sư Tượng, nếu muốn đến thì phải theo dòng nước mà đi. Không thể đi ngược lên phía Bắc vì nhiều doi cát nổi chìm, dài khoảng 200 dặm. Đi lên phía bắc thì có đảo và trên đảo có núi Sa Mã Kỳ. Hai ngọn núi này đối mặt vào nhau (ngọn núi Sa Mã Kỳ và Đông Sư Tượng).
Toàn trang chữ Hán (đã dịch trong bài viết)
Theo đường thủy trình trên biển là phải đi bốn canh giờ mới tới địa đầu Sa Mã Kỳ, lại có những doi cát liên tục ở phía nam đến Việt hải (biển Việt) gọi là Trường Sa đầu (địa đầu Trường Sa). Cứ đi về phía nam thì lại thấy nhiều doi cát nổi lên, theo đó mà đi thì đến Vạn Lý Trường Sa. Phía nam Trường Sa có nhiều bãi đá ngầm lởm chởm, đi tiếp là đến biển Thất Châu, gọi là Thiên Lý Thạch Đường. Đây là đất nguy hiểm của vùng Nam Dương, hay có gió bão lớn ở ngoài biển, thuyền đi biển đậu ở ngoài này thường gặp bão gió. Có những thuyền đi lạc đường mà gặp phải nơi đó thì rất nguy hiểm. Một cửa Trường Sa nằm ở phía tây bắc cùng với đảo Nam Áo. Ở phía tây nam là đảo Đại Tinh (Biển bình lặng¬) tạo thành thế chân vạc ở cửa nam bắc, ước rộng phải đi chừng khoảng ngũ canh (đơn vị đo lường thời cổ thường tính theo giờ). Thuyền buôn của người Việt thường đậu ở đó; phía Nam là đảo Lã Tống (Lucson - Philipin), Văn Lai, Tô Lập. Thuyền buôn thường qua mấy nước đó để trao đổi buôn bán, khi xuất phát đều từ cửa Trường Sa mà đi. Nếu gặp gió bắc thì lấy chuẩn từ đảo Nam Áo. Gặp gió Nam, lấy đảo Đại Tinh làm chuẩn để tới Giang Tô, Triết Giang, Phúc Kiến (Quảng Đông). Nếu đi về phía Nam của Nam Dương phải đi từ cửa Sa Mã Kỳ (Đài Loan) đến các nước ở Lữ Tống (Philipin), giáp phía Tây Dương. Muốn đến Chiết Giang, Mân Việt… Nhật Bản phải đi theo hướng phía Tây biển Thất Châu, Côn Lôn rồi đến Vạn Lý Trường Sa ngoại (ngoài Vạn lý Trường Sa), qua cửa biển đảo Sa Mã Kỳ - đi theo đường thẳng dây cung mới an toàn. Từ Trung Quốc mà đến nước Indonesia phải đi phía ngoài Vạn lý Trường Sa. Nơi đây biển mờ mịt, không lấy gì làm chuẩn được cho nên muốn đi phải theo những doi cát ở biển Việt rồi mới đến Thất Châu Dương và từ đó đi tới Indonesia; Vùng biển này nước mênh mông nên giới hạn cũng mênh mông…”. (Trích sách “Danh hoàn Chí lược”).
Bản đồ chưa chú thích trong đó có ghi eo biển Quảng Nam và đảo Thất Châu Dương cùng bản đồ Việt Nam
Bản đồ đã chú thích trong đó có ghi eo biển Quảng Nam và đảo Thất Châu Dương cùng bản đồ Việt Nam
Thông qua tư liệu đã nêu ở cuốn sách này, giúp chúng ta có thêm những bằng chứng quý giá để góp phần khẳng định ngay từ thời nhà Thanh, các bản đồ của Trung Quốc đã vẽ các đảo trên vùng biển của họ chỉ có đảo Hải Nam, Đài Loan là gần với khu vực biển Việt Nam. Điều đó khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa (biển Thất Châu Dương, theo tên gọi trên bản đồ Trung Quốc thời nhà Thanh) là thuộc chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Đặng Hùng (Hội Khoa học lịch sử Việt Nam)
Vì sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn ‘quyết liệt’ ủng hộ Formosa Hà Tĩnh?
Thủ tướng Việt Nam dự lễ cắt băng khánh thành một tổ máy đốt than của nhà máy nhiệt điện Formosa ngày 17/9Lê Anh Hùng
22.09.2015
Formosa Hà Tĩnh, do tập đoàn Formosa đầu tư tại Hà Tĩnh, một tỉnh nghèo nằm ở phía bắc miền Trung, là một dự án đầy tai tiếng và mờ ám, khiến dư luận hết sức bức xúc và bất an suốt mấy năm qua:
Một doanh nghiệp Trung Quốc[i] được giao một phần lãnh thổ lên tới 3.300ha (bằng 1,2 lần diện tích Macao), bao gồm cả cảng nước sâu Sơn Dương, ở dưới chân Đèo Ngang, một vị trí cực kỳ xung yếu về an ninh – quốc phòng; [ii]
Hai văn bản quyết định đưa đến sự ra đời của dự án này đều do Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải thay mặt Thủ tướng ký: Công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2008 “đồng ý chủ trương cho Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa - Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh” và Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 “đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”;
Formosa Plastic Group, chủ đầu tư dự án Formosa Hà Tĩnh, là một tập đoàn Đài Loan - Trung Quốc chưa hề có kinh nghiệm gì về sản xuất gang thép.
Formosa Hà Tĩnh là dự án đầu tư nước ngoài được cả chính phủ trung ương lẫn chính quyền địa phương dành cho sự ưu đãi “vô tiền khoáng hậu”: thời hạn thuê đất là 70 năm, vượt quá 20 năm so với quy định của Luật Đất đai năm 2003; miễn tiền thuê đất trong thời hạn 15 năm và chỉ thu tiền thuê đất trong thời hạn 55 năm với giá rẻ mạt (80 đồng/m2/năm, giá thuê mặt nước là 10 triệu đồng/km2/năm); miễn thuế đối với các mặt hàng tạm nhập tái xuất; miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng tạo tài sản cố định; được Thủ tướng Chính phủ cho phép hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức ưu đãi cao nhất: chỉ 10% trong suốt thời gian thực hiện dự án (thuế suất thuế TNDN năm 2008 là 28%), miễn bốn năm đầu và giảm 50% trong chín năm tiếp theo; được nâng giới hạn cấp tín dụng lên 4 lần vốn tự có (coi như là được kinh doanh bằng vốn của Việt Nam); (…);
Formosa Hà Tĩnh đã cho xây dựng những công trình đáng ngờ như hầm ngầmhay cả toà nhà đúc bằng bê tông cực kỳ kiên cố, không có lấy một viên gạch nào;
PTT Hoàng Trung Hải đã cho phép Formosa Hà Tĩnh hoàn tất các thủ tục theo quy định để thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân và hộ gia đình công nhân thuê hoặc mua; còn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì đồng ý cấp cho Hà Tĩnh gần 300 tỷ đồng từ ngân sách trung ương để hỗ trợ dự án xây nhà ở cho công nhân, đặc biệt là hàng nghìn công nhân Trung Quốc, của BQL Khu kinh tế Vũng Áng.
Nhiều chuyên gia kinh tế đã lên tiếng cảnh báo về sự biệt đãi mà chính phủ Việt Nam dành cho Formosa Hà Tĩnh, một dự án như bao nhà máy khác của ngành công nghiệp thép vốn đang dư thừa công suất ở Việt Nam, tức là chỉ cán thép chứ không phải là luyện kim, khâu khó nhất trong ngành thép mà VN đang thiếu. Một khi Formosa Hà Tĩnh đi vào hoạt động thì hàng loạt doanh nghiệp thép trong nước đứng trước nguy cơ bị khai tử vì phải cạnh tranh trên một sân chơi không bình đẳng.
Bất chấp phản ứng gay gắt của dư luận trên cả báo chí “lề đảng” lẫn “lề dân”, cả PTT Hoàng Trung Hải lẫn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều tiếp tục thể hiện sự ủng hộ trước sau như một của họ đối với dự án Formosa Hà Tĩnh.
Mặc dù Thanh tra Chính phủ đã kết luận rằng việc chính quyền Hà Tĩnh cho Formosa Hà Tĩnh thuê đất trong thời hạn 70 năm là trái quy định của pháp luật, song Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn đồng ý bảo lưu, không xét lại việc chính quyền địa phương nâng thời hạn giấy phép từ 50 năm lên 70 năm một cách trái pháp luật.
Theo VTV, trong chuyến thăm Formosa Hà Tĩnh ngày 17/9 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã “khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ đối với việc Tập đoàn này xây dựng một nhà máy lọc hóa dầu có công suất tới 16 triệu tấn, với vốn đầu tư trên 12 tỷ USD tại Khu kinh tế Vũng Áng, cũng như tiếp tục tạo mọi điều kiện thuận lợi nhấtđể Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa thành công”.
Chưa hết, cho dù bận trăm công ngàn việc “quốc gia đại sự” trên cương vị đứng đầu bộ máy hành pháp của một quốc gia 90 triệu dân, song dường như để thể hiện sự ủng hộ quyết liệt của mình, ngài Thủ tướng Việt Nam vẫn dành thời gian thân chinh tới dự lễ… khánh thành một tổ máy đốt than của Nhà máy Nhiệt điện Formosa, một “biểu tượng” cho tinh thần “độc lập - tự chủ” của “đặc khu Trung Quốc” mang tên Formosa Hà Tĩnh.
Với những gì nêu trên và đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng tỏ rõ tham vọng bành trướng vốn đã kìm nén bấy lâu (như việc đưa giàn khoan HD-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, không ngừng bồi đắp các đảo đá mà họ xâm chiếm của VN ở Trường Sa, biến chúng thành những căn cứ quân sự liên hoàn, v.v.), dư luận hoàn toàn có quyền đặt câu hỏi: Vì sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn “quyết liệt” ủng hộ một dự án đầy tai tiếng và mờ ám như Formosa Hà Tĩnh?
______________
Ghi chú:
[i] Chính phủ Việt Nam vẫn coi Đài Loan là một vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc. Ngoài ra, theo chuyên trang Steel First ngày 4/10/2013 thì cả 4 công ty con của Formsa Plastic Group tham gia góp vốn vào dự án Formosa Hà Tĩnh – Formosa Plastics Corp, Nan Ya Plastics Corp, Formosa Chemicals & Fibre Corp và Formosa Petrochemical Corp – đều đã quyết định giảm cổ phần tại Formsa Hà Tĩnh từ 21.25% mỗi công ty xuống còn 14.75%. Trang mạng này còn đưa tin là một quan chức của Formosa Hà Tĩnh đã cho họ biết: “Mọi cán bộ công nhân viên của Formosa Hà Tĩnh đều bị cấm đưa ra bất kỳ bình luận nào với công chúng về việc chuyển nhượng cổ phần”. Họ đã và sẽ tiếp tục chuyển nhượng cho ai thì có Trời mới biết.
[ii] Vũng Áng nằm ngay dưới chân Đèo Ngang, nơi có địa hình vừa hiểm trở vừa gần như hẹp nhất Việt Nam, chỉ cần một lực lượng quân sự nhỏ là đủ sức chia cắt đất nước thành hai phần. Đặc biệt, cảng nước sâu Sơn Dương được coi là một trong 4 yếu huyệtcủa Việt Nam trên Biển Đông, cùng với Cam Ranh, Nam Du và Côn Đảo. Một khi có biến, với căn cứ quân sự trá hình của Trung Quốc ở Vũng Áng và căn cứ quân sự Tam Á trên đảo Hải Nam cách đấy không xa, Việt Nam dễ dàng bị chia cắt cả về đường bộ lẫn đường biển tại vị trí yết hầu này.
Trung Nam Hải đang toan tính gì với con bài Nguyễn Tấn Dũng?
Kết cục của chế độ cộng sản
Chủ nghĩa cộng sản là một sản phẩm quái thai trong dòng chảy của lịch sử nhân loại. Dĩ nhiên, như một quy luật tất yếu, nó đã và đang bị lịch sử vứt vào sọt rác.
Thành trì của chủ nghĩa cộng sản thế giới là Liên Xô đã sụp đổ cách nay ¼ thế kỷ. Giờ đây, số quốc gia lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm hệ tư tưởng chính thống chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay: Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cuba và Lào.
Cùng với xu thế dân chủ hoá trên toàn thế giới, người dân ở các quốc gia cộng sản còn lại đó đã bắt đầu thức tỉnh và lên tiếng đòi tự do, dân chủ và quyền con người chính đáng của mình. Việc Mỹ và Cuba vừa tuyên bố bình thường hoá quan hệ sau hàng thập kỷ ở trong trạng thái đối đầu là dấu hiệu mới nhất minh chứng cho xu thế không thể đảo ngược ấy.
Quá trình mở cửa hội nhập với thế giới trong bối cảnh cuộc cách mạng Internet và cách mạng truyền thông xã hội diễn ra ngày càng sâu sắc là nhân tố quyết định tạo ra những biến chuyển lớn lao trong lòng xã hội Việt Nam thời gian qua.
Ngày càng nhiều người dân Việt Nam công khai lên tiếng đòi xoá bỏ Điều 4 trong Hiến pháp, điều khoản hiến định vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng CSVN đối với nhà nước và xã hội. Điều mà chỉ mới cách đây mấy năm ít ai dám nghĩ tới thì nay người ta đã công khai bày tỏ thái độ. Đặc biệt, xu thế này ở Việt Nam lại diễn ra trong bối cảnh nhà cầm quyền cộng sản gia tăng chính sách đàn áp nhằm vào những tiếng nói đòi tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.
“Kẻ thức thời mới là tuấn kiệt.” Nay thì tiếng nói đòi đổi thay không chỉ vang lên trong đám thường dân, mà ngay cả trong giới cầm quyền cũng đã xuất hiện những lời lẽ bóng gió về đòi hỏi tất yếu đó.
Toan tính của Bắc Kinh
Hàng ngàn năm qua, Trung Quốc chưa lúc nào nguôi tham vọng thôn tính Việt Nam. Ngay cả trong những ngày tháng “mặn nồng” nhất của mối quan hệ hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em” giữa hai nước, họ cũng không một phút giây sao nhãng “sứ mạng cao cả”đó.
Cố nhiên, Bắc Kinh thừa khôn ngoan và thực tế để hiểu rằng chế độ cộng sản ở Việt Nam không tránh khỏi sụp đổ trong vài năm tới.
Khi sụp đổ tất yếu ấy diễn ra, chính quyền hậu cộng sản tại Việt Nam có nhiều khả năng sẽ là một chính thể dân chủ đi theo quỹ đạo của Mỹ và phương Tây. Đơn giản, người dân Việt Nam đã quá chán ngán với chế độ độc tài, còn Trung Quốc thì chưa bao giờ là niềm tin của họ, ngoại trừ những tên Việt gian bán nước.
Cơ may lớn nhất cho Trung Quốc lúc đó là nhân lúc Việt Nam rơi vào khoảng trống quyền lực, họ sẽ phát động một cuộc tấn công chớp nhoáng nhằm vào Trường Sa hòng kiểm soát hoàn toàn Biển Đông.
Để ngăn ngừa một Việt Nam hậu cộng sản đi theo quỹ đạo của Mỹ, việc Trung Quốc đưa quân vào Việt Nam phối hợp với đội quân Hán tặc và Việt gian tại chỗ là một khả năng thực tế, nhất là khi Trung Quốc đã và đang tìm cách khống chế một số vị trí hiểm yếu về an ninh quốc phòng ở Việt Nam như các khu rừng đầu nguồn ở một số tỉnh, Vũng Áng – Sơn Dương (Hà Tĩnh), Tây Nguyên (qua dự án khai thác bauxite), Hải Vân (qua hai dự án du lịch của người Hoa), Ninh Thuận (qua dự án điện hạt nhân Ninh Thuận do PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải làm Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước), các căn cứ quân sự dưới hình thức dự án kinh tế trá hình ở Lào và Campuchia, v.v.
Mặc dù vậy, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc đưa quân vào nước khác ẩn chứa nhiều rủi ro, nhất là với một quốc gia có truyền thống chống Trung Quốc như Việt Nam. Trung Quốc hoàn toàn có thể bị sa lầy và dễ dàng đánh mất vị thế siêu cường, thậm chí bước sa chân đó có thể biến thành cơ hội “ngàn năm có một” để Mỹ và phương Tây xâu xé tanh bành một Trung Hoa Đại Hán đang ngày càng cho thấy là vấn đề lớn nhất của cả thế giới.
Thậm chí, ngay cả khi Trung Quốc đánh chiếm được Trường Sa thì chính phủ hậu cộng sản ở Việt Nam chắc chắn sẽ ở vào thế đối đầu với Trung Quốc. Lúc ấy, với sự hậu thuẫn của Mỹ và phương Tây, một cuộc chiến trường kỳ của Việt Nam hòng giành lại Trường Sa là khả năng gần như chắc chắn Trung Quốc sẽ phải đối mặt. Chưa biết thắng thua thế nào, nhưng cái giá mà Trung Quốc sẽ phải trả là không hề nhỏ.
Chính vì vậy, kịch bản khả quan nhất cho Trung Quốc trong bối cảnh chế độ độc tài toàn trị ở Việt Nam sắp sụp đổ là dựng lên một chế độ độc tài hậu cộng sản giống như Nga, trong đó nhân vật sắm vai “Putin của Việt Nam” là kẻ mà Trung Quốc dễ dàng khống chế và thao túng.
Nếu điều này xẩy ra, ngoài biển thì Trung Quốc có thể tiếp tục quá trình thôn tính Trường Sa theo chiến thuật “tằm ăn dâu” sở trường, trước phản ứng lấy lệ của lãnh đạo Việt Nam, cho đến khi họ kiểm soát hoàn toàn Trường Sa và đặt Mỹ và phương Tây vào tình thế đã rồi; trên đất liền thì Trung Quốc sẽ tiếp tục khống chế các vị trí các vị trí xung yếu về an ninh – quốc phòng nhằm khi chiến sự xẩy ra thì sẵn sàng cho phương án chia cắt Việt Nam thành nhiều phần mà không cần phải tốn nhiều công sức, thậm chí chỉ cần sử dụng lực lượng trá hình tại chỗ; và đặc biệt, nền kinh tế Việt Nam sẽ đi đến chỗ lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, tiếp nối quá trình vẫn đang diễn ra nhiều năm nay.
Một khi bộ máy lãnh đạo chóp bu hoàn toàn bị thao túng, các vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng trên cả nước bị khống chế và nền kinh tế trở thành “một bộ phận không thể tranh cãi của Trung Quốc”, Việt Nam coi như lọt hẳn vào quỹ đạo của Trung Quốc và việc đi đến chỗ trở thành một Tây Tạng hay Tân Cương mới của Đại Hán chỉ còn là vấn đề thủ tục.
Tại sao lại là Nguyễn Tấn Dũng?
Vấn đề lúc này đã trở nên rõ ràng: Ai sẽ là nhân vật sắm vai “Putin của Việt Nam” trong kịch bản thâm độc và xảo quyệt thể hiện đúng bản chất của Trung Quốc như trên? Xin thưa, nhân vật đó không ai khác hơn đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Tại sao lại là Nguyễn Tấn Dũng, nhân vật vẫn có những lời lẽ mạnh mẽ nhất nhằm vào Trung Quốc trong ban lãnh đạo Việt Nam hiện nay? Và chẳng phải bản thân Hoàn Cầu Thời Báo từng mấy lần lên tiếng “cảnh báo” về lập trường “bài Hoa, thân Mỹ” của ông ta đấy sao?
Xin thưa, bất chấp những tuyên bố “hùng hồn” của ngài Thủ tướng nhằm vào Trung Quốc, cũng như những lời “cảnh cáo” của báo chí Trung Quốc nhằm vào ông ta, Nguyễn Tấn Dũng vẫn là một trong những người Việt Nam lập nhiều “chiến công” nhất cho Trung Nam Hải kể từ năm 1945 đến nay. Xin đơn cử:
Trước kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XII (tháng 7.2007), ông Nguyễn Tấn Dũng đã nhất quyết đề cử ông Hoàng Trung Hải vào vị trí quan trọng thứ hai trong chính phủ: Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế. Mặc dù lúc đó một số cán bộ ở Ban Tổ chức Trung ương và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã gửi Tâm Huyết Thư cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư để tố cáo lý lịch người Hán của ông Hoàng Trung Hải, nhưng vẫn không ngăn chặn được. Ngoài ra, ông Nguyễn Tấn Dũng còn tin tưởng giao phó cho ông ta vô số trọng trách quán xuyến nền kinh tế khác. Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ có một người Hán nào, đặc biệt lại che dấu lý lịch với mưu đồ đen tối, leo lên đến vị trí gần như nắm trong tay cả nền kinh tế và gây ra không biết bao nhiêu tai hoạ cho Việt Nam (nhưng đặc biệt có lợi cho Trung Quốc) suốt từ năm 2007 đến nay.
Năm 2005, tức trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng ngồi lên chiếc ghế Thủ tướng, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ chiếm 15,9%, với giá trị nhập siêu là 2,67 tỷ USD. Chín năm dưới quyền lãnh đạo của ông ta, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam cứ tăng dần đều và đến năm 2014 thì lên tới 29,5%, với giá trị nhập siêu là 28,9 tỷ USD. Quý vị hãy hình dung thế này: cộng với giá trị nhập khẩu tiểu ngạch trá hình và hoạt động buôn lậu tràn lan từ Trung Quốc, ước chừng cứ 2 sản phẩm Việt Nam nhập khẩu từ bên ngoài thì có 1 sản phẩm “made in China”, và tỷ lệ đó vẫn đang tăng lên qua từng năm. Nếu xét thực tế phần lớn sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc là chất lượng thấp và độc hại thì đây thực sự là THẢM HOẠ đối với một nền kinh tế có độ mở nằm trong nhóm 5 nước cao nhất trên thế giới như Việt Nam.

Đồ thị: Tỷ trọng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam – Trung Quốc trong
tổng kim ngạch XNK của Việt Nam giai đoạn 2000÷2014 – Nguồn: VOA
Trong lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam, mặc dù bị Trung Quốc xâm lược và đô hộ nhiều lần, nhưng chưa bao giờ người Trung Quốc “cắm chốt” được ở bất cứ đâu trên mảnh đất phương Nam này. Song đến nay, nhờ “công lao” của cặp bài trùng Nguyễn Tấn Dũng – Hoàng Trung Hải mà Trung Quốc đã đặt chân vào và từng bước khống chế nhiều vị trí xung yếu về an ninh – quốc phòng ở Việt Nam: một loạt dự án thuê đất rừng đầu nguồn ở một số tỉnh, dự án khai thácbauxite ở Tây Nguyên, dự án Formosa ở Vũng Áng, hai dự án du lịch của người Hoatrên đèo Hải Vân, dự án điện hạt nhân ở Ninh Thuận, v.v.
Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhà thầu Trung Quốc trúng thầuđến 90% các dự án hạ tầng trọng điểm ở Việt Nam, với vô số hệ luỵ về an ninh – quốc phòng và những thiệt hại không thể đong đếm về kinh tế (chậm tiến độ hàng năm; chất lượng thấp; phụ thuộc vào Trung Quốc về phụ tùng và linh kiện thay thế, v.v.).
Với tư cách là người phụ trách Đảng uỷ Công an Trung ương kể từ năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng là nhân vật đóng vai trò quyết định trong chiến dịch đàn áp ngày càng khốc liệt nhằm vào phong trào chống Trung Quốc xâm lược ở Việt Nam nhiều năm qua. Những tiếng nói phản kháng Trung Quốc mạnh mẽ nhất như TS Cù Huy Hà Vũ, blogger Điếu Cày, nhà văn/blogger Phạm Viết Đào, blogger Anh Ba Sàm, nhà văn/blogger Nguyễn Quang Lập… đều lần lượt “được” ông ta cho vào “an dưỡng” trong tù. Mới đây, nhà văn/blogger yêu nước Phạm Viết Đào đã chỉ đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đã chỉ đạo lực an ninh dưới quyền bắt bỏ tù ông cũng như nhiều blogger khác.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chính là “tác giả” của bản Thông báo cấm biểu tình chống bành trướng Bắc Kinh do UBND Tp Hà Nội ban hành ngày 18/8/2011.
Theo nhà báo Huy Đức: “Ngày 2.8.2011, Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: ‘Hà Nội không có chủ trương trấn áp người biểu tình. Để rồi, ngày 18.11.2011, từ chỗ coi những người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho người biểu tình là ‘gây rối Thủ đô’, là có ‘các thế lực chống đối trong và ngoài nước’. Dân chúng nào biết tác giả bản thông báo này là Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, phái viên của thủ tướng đặc trách an ninh, tôn giáo. Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc duyệt. Cho dù không có quan chức nào ở Hà Nội chịu ký, bản thông báo và những ‘tác phẩm báo chí’ bôi nhọ người biểu tình khác vẫn được phát trên các phương tiện truyền thông của Hà Nội. Từ đó, các vụ bắt bớ người biểu tình diễn ra khốc liệt liên tục vào các ngày chủ nhật.”
Cho đến nay, văn bản pháp lý quan trọng nhất của nhà nước Việt Nam nhằm khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa chính là Luật Biển do Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 21.6.2012. Tuy nhiên, mặc dù cố tạo ra vẻ ta đây là nhân vật chống Tàu mạnh mẽ nhất trong bộ máy, ông Nguyễn Tấn Dũng lại không hề để lại bất kỳ dấu ấn nào trong quá trình ra đời của đạo luật. Đây được cho là một chiến thắng cá nhân của ông Trương Tấn Sang, người lúc bấy giờ còn cho thấy lập trường chống Trung Quốc rõ ràng. Không những vậy, tuy đã gần 3 năm trôi qua kể từ khi đạo luật này được thông qua, chính phủ của TT Nguyễn Tấn Dũng vẫn chưa có bất kỳ động thái gì để triển khai thực hiện đạo luật đó, kể cả việc đơn giản nhất là ban hành nghị định hướng dẫn thực hiện.
Ông Nguyễn Tấn Dũng là một “bậc thầy” của trò “nói một đàng, làm một nẻo”. Điều này thì chẳng còn mấy ai lấy làm lạ nữa. Điều lạ ở đây là dường như ông ta càng “nói một đàng, làm một nẻo” thì lại càng có nhiều người tung hê và đặt niềm tin vào ông ta. Không ít người vẫn đang mơ màng là ông ta sẽ cải cách thể chế nếu nắm quyền hành trong tay, đơn giản là vì họ đã nhiều lần nghe ông ta hô hào “cải cách thể chế”, mà lần nào nghe cũng sướng tai. Xin hỏi, nếu ông ta thực tâm muốn cải cách thể chế, tại sao ông ta lại KHÔNG HỀ thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, điều mà ông ta đã lớn tiếng hô hào ngay từ những ngày đầu tiên của nhiệm kỳ thứ hai và hoàn toàn nằm trong phạm vi chức trách cũng như quyền hạn của ông ta. Kinh tế quyết định chính trị. Nếu ông ta thực tâm muốn cải cách thể chế chính trị, tại sao ông ta không tiến hành cải cách thể chế kinh tế để thúc đẩy cải cách chính trị? Tổng thống Obama từng hy vọng việc ký kết TPP với Việt Nam sẽ diễn ra trong năm 2013, vậy mà 2 năm sau đấy người ta vẫn chưa xác định được thời điểm ký kết. Nguyên nhân chủ yếu cho sự chậm trễ này là vì Việt Nam chậm tái cấu trúc nền kinh tế và thái độ “quyết liệt” của ông Nguyễn Tấn Dũng trong việc đàn áp những người con ưu tú của đất nước dám cất lên tiếng nói đòi cải cách hệ thống và chống bá quyền Trung Quốc. (Dĩ nhiên, đây là điều mà Trung Quốc hết sức mong muốn.)
Bên cạnh những gì đã trình bày trên đây là thực tế (i) hàng hoá Trung Quốc ngày càng tràn ngập thị trường Việt Nam, (ii) hoạt động buôn lậu hàng hoá từ Trung Quốc về Việt Namngày một phổ biến, (iii) làn sóng doanh nghiệp Trung Quốc thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam đang âm thầm diễn ra, (iv) các nhà đầu tư Trung Quốc đang ráo riết săn lùng bất động sản Việt Nam, và (v) người lao động Trung Quốc nhan nhản trên khắp lãnh thổ Việt Nam – tất cả đều diễn ra dưới quyền cai quản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thử hỏi, kể từ năm 1945 đến nay, liệu còn người Việt Nam nào lập được nhiều “thành tích” cho Trung Quốc hơn ông Dũng?
Những phát biểu hùng hồn của ông Dũng nhằm vào Trung Quốc và những lời “cảnh cáo”mà Hoàn Cầu Thời Báo nhằm vào ông Dũng chẳng qua chỉ là trò loè bịp dư luận do Trung Nam Hải giật dây, hòng tạo điều kiện cho con bài đắc dụng nhất của họ “ghi điểm” trong mắt công chúng Việt Nam hầu tiến tới thâu tóm ngôi vị tối cao tại kỳ Đại hội Đảng sắp đến.
Mặc dù đứng ở vị trí thứ ba hệ thống “ngôi thứ” của bộ máy, nhưng ông Tấn Dũng vẫn được đánh giá là nhân vật quyền lực nhất Việt Nam nhiều năm qua.Ông Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định trước Quốc hội hôm 19.11.2014 rằng quan điểm của ông ta trong quan hệ với Trung Quốc là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”.
Vậy ông ta sẽ “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” với Trung Quốc như thế nào một khi trở thành nhà lãnh đạo tối cao của Việt Nam?
Xin thưa, quá trình “Hán hoá” Việt Nam sẽ còn diễn ra nhanh hơn so với thời kỳ ông ta làm Thủ tướng, bởi lúc này chẳng còn thế lực nào ở Việt Nam đủ sức thách thức quyền lực của ông ta cả.
Hãy nhìn lại 9 năm dưới “triều đại” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xem Việt Nam đã bị “Hán hoá” đến thế nào để hình dung ra bộ mặt Việt Nam 10 năm tới dưới “triều đại” của Tổng Bí thư/Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng.
Dĩ nhiên, nếu trở thành Tổng Bí thư khoá tới, ông ta sẽ tiến hành cải cách thể chế “theo cách của 3X” vào cuối nhiệm kỳ để dọn đường cho mình trở thành “Putin của Việt Nam”.
Tác giả bài viết này là người vẫn đang theo đuổi vụ tố cáo đối với PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và (nguyên) TBT Nông Đức Mạnh kể từ năm 2008 đến nay, nhưng không hề được giải quyết đúng pháp luật, trong bối cảnh ngay cả ĐBQH Dương Trung Quốc, người tiếp nhận đơn thư của chúng tôi, cũng đã bị PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải khống chế và thao túng, mặc dù vụ việc đã được truyền thông quốc tế nhiều lần đưa tin.
Trong câu chuyện tố cáo, tác giả đã nêu rõ ông Hoàng Trung Hải (và sau lưng ông ta là Trung Nam Hải) đã gài bẫy và khống chế được ông Nguyễn Tấn Dũng. Vì thế, ông ta đã nhất quyết đặt ông Hoàng Trung Hải vào vị trí PTT phụ trách kinh tế, và ra sức bảo vệ nhân vật đầy tai tiếng và mờ ám này. Bản thân vợ tác giả, cô Lê Thị Phương Anh, nhân chứng sống của vụ án và từng là một mắt xích quan trọng trong đường dây ma tuý của PTT Hoàng Trung Hải, lại đang bị Công an Đồng Nai bắt giam và truy tố trái phép từ ngày 15.5.2014.
Bộ Ngoại giao Mỹ từng nêu vụ Lê Anh Hùng, người tố cáo cặp bài trùng Hoàng Trung Hải – Nguyễn Tấn Dũng, bị cưỡng chế vào trại tâm thần từ ngày 24.1 ÷ 5.2.2013 như một vụ vi phạm nhân quyền tiêu biểu của nhà cầm quyền Việt Nam trong năm 2013.
Dưới áp lực của dư luận, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn điềm nhiên tuyên bố dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên là “chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Với dự án khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine trên đèo Hải Vân thì mặc dù Bộ Quốc phòng đãchính thức có văn bản kiến nghị dừng dự án từ ngày 28.11.2014 song đến nay ông ta vẫn chưa hề hé răng lấy nửa lời, dù trước đấy ông ta đã hứa “sẽ xem xét lại”. Nếu đối thủ của ông ta không “xì” tin cho báo chí lên tiếng thì sẽ chẳng bao giờ có chuyện ông ta “xem xét lại” ở đây cả.
Tương tự, nếu đối thủ của ông ta không “xì” ra cho báo chí biết chuyện Cty Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đòi thành lập đặc khu kinh tế trực thuộc Văn phòng Chính phủ thì nay Formosa Hà Tĩnh đã trở thành một “tiểu quốc” của Đại Hán trực thuộc PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải rồi (dù trên thực tế nó đã trở thành đặc khu Trung Quốc từ lâu).
Đặc biệt, nếu truyền thông quốc tế không kịp thời loan tin thì âm mưu lập căn cứ tại Cửa Việt của Trung Quốc cũng đã trở thành hiện thực.
Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015
Cuộc xung đột Việt Chiêm trong tiến trình lịch sử dân tộc

Hoa Anh Đào
Trên lãnh thổ Việt Nam của chúng ta đã từng chứng kiến sự ra đời và phát triển của ba vương quốc. Đó là vương quốc Văn Lang ở phía Bắc ra đời vào khoảng thế kỷ VII trước công nguyên, vương quốc Champa ở miền Trung ra đời vào khoảng thế kỷ II sau công nguyên và vương quốc Phù Nam ra đời ở phía Nam vào khoảng thế kỷ I sau công nguyên. Sự hưng thịnh của các vương quốc này mỗi thời kỳ một khác, ví như trong khi Âu Lạc đang chìm trong Bắc thuộc thì ở phía Nam vương quốc Phù Nam phát triển rất rực rỡ, đã áp đặt sự cai trị ở rất nhiều nơi trong đó có một phần đất Champa và Chân Lạp… Nhưng đến trước khi Âu Lạc giành được độc lập từ tay bọn đô hộ Trung Quốc thì Phù Nam đã suy yếu và diệt vong.
Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người Kinh (tức người Việt), Champa là của người Chiêm và đất Nam Bộ ngày nay thuộc quyền sở hữu của Chân Lạp (tức Campuchia sau này), cách nhìn này dễ gây ra tâm lí tỵ hiềm trong lòng dân tộc. Khi tìm hiểu về tình hình quản lý ở đồng bằng hay miền núi trước đây thì thấy rằng sự chặt chẽ hay lõng lẽo có sự khác nhau ở từng vùng miền, nhưng lãnh thổ của quốc gia chung gắn bó với hai trung tâm chính trị của đất nước ở phía Bắc là Thăng Long (Hà Nội), phía Nam là Chà Bàn (thành Đồ Bàn, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định ngày nay). Giữa Đại Việt và Champa luôn luôn có sự tranh chấp. Sự tranh chấp đó là không thể tránh khỏi bởi tư duy bành trướng của giai cấp phong kiến hai nhà nước, luôn luôn xảy ra trình trạng xung đột tùy vào sự hưng vong của hai tập đoàn phong kiến ở hai miền, trong khi nhân dân chỉ muốn hòa bình, an cư lạc nghiệp. Lý giải vì sao trước đây là ba vương quốc cùng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam, mà sau này thống nhất thành một quốc gia duy nhất, điều đó có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất được giải thích như sau: Đây là thời kỳ đất nước phát triển dưới chế độ phong kiến ở cả hai vùng, trong bối cảnh âm mưu bành trướng xuống phương Nam của phong kiến Trung Quốc, là nguy cơ thường trực, đe dọa sự sống còn của các dân tộc ở Việt Nam, đặt trách nhiệm nặng nề cho hai nhà nước phong kiến Đại Việt và Champa. Trong hoàn cảnh đó, xu hướng đối kháng phong kiến là rất nguy hiểm cho cả hai phía. Do đó, vấn đề hội nhập để tồn tại và phát triển là xu hướng vận động thực tế khách quan của lịch sử, tạo nên sắc thái mới của nền văn hóa đa dân tộc của Việt Nam.
Xưa nay khi nói về cuộc xung đột Việt – Chiêm trong lịch sử dân tộc thì người ta thường tránh né không dám nhìn thẳng vào sự thật. Qua bài viết lần này, chúng tôi có tham vọng cung cấp cái nhìn toàn cảnh hơn về sự đụng độ của 2 tộc người trên đất nước ta. Từ đó, đưa ra những ý kiến đánh giá khách quan và trung thật nhất của vấn đề này.
I. Sự thành lập các vương quốc cổ của người Việt và người Chiêm.
Sự ra đời vương quốc Văn Lang của người Việt.
Người Lạc Việt và một bộ phận người Tây Âu (hay còn gọi là người Âu Việt) ở vùng Việt Bắc và Đông Bắc. Hai thành phần Việt tộc này sống xen kẽ ở nhiều nơi ở phía Bắc nước ta. Cùng với sự phân hóa xã hội bước đầu, do tác động trực tiếp của nhu cầu đoàn kết trị thủy, làm thủy lợi và chống xâm lấn đã dẫn đến sự ra đời của một nhà nước đầu tiên của nước ta. Đại Việt sử lược, bộ sử xưa nhất còn lại của nước ta cho biết: “Đến đời Trang Vương nhà Chu, ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối thắt nút, truyền được 18 đời, đều xưng là Hùng Vương”. Vua Trang Vương nhà Chu là ông vua ở ngôi vào khoảng năm 696 đến 681 trước công nguyên. Như vậy là một nhà nước đã ra đời trong lịch sử Việt Nam vào thế kỷ VII trước công nguyên. Không rõ Đại Việt sử lược đã dựa vào đâu, song việc đặt sự ra đời của nhà nước Văn Lang vào khoảng giai đoạn đầu của văn hóa Đông Sơn là điều có thể chấp nhận được và phù hợp với nguồn tư liệu khảo cổ.
Sự ra đời vương quốc Champa của người Chiêm.
Theo Tiến sĩ Sử học Huỳnh Công Bá, trong cuốn Lịch Sử Văn Hóa Việt Nam cho rằng: “Sức sản xuất của cư dân Sa Huỳnh không kém gì sức sản xuất của cư dân Đông Sơn. Chắc rằng trong xã hội Sa Huỳnh thời đó đã xuất hiện tầng lớp quý tộc có nhiều của cải. Tầng lớp đó chắc hẳn đã có nhiều quyền lực đối với xã hội. Cư dân văn hóa Sa Huỳnh thời đó chắc hẳn đã hoặc đang chuẩn bị bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước sơ khai”. Vậy là trước khi bị nhà Hán xâm lược thì cư dân Champa mà chủ yếu có hai bộ lạc sinh sống: bộ lạc Cau (Kramuka vams’a) và bộ lạc Dừa (Nakirela vams’a). Bộ lạc Cau cư trú trên vùng Bình Thuận – Ninh Thuận – Khánh Hòa – Phú Yên ngày nay và bộ lạc Dừa cư trú trên vùng Bình Định – Quảng Ngãi – Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay. Tuy vậy lúc đầu không có một vương quốc chung cho cả hai. Bộ lạc Cau ở phía nam đèo Cù Mông đã lập riêng cho mình một tiểu quốc vào khoảng đầu công nguyên. Trong lúc tiểu quốc Nam Chăm (Panduranga) phát triển vài ba thế kỳ thì thế kỷ II, đời Sơ Bình (190 -193) nhân lúc nhà Đông Hán suy sụp, Trung Quốc loạn lạc, nhân dân Tượng Lâm ở nơi xa nhất đã đạt được thắng lợi trước tiên. Họ đã nổi dậy, giết huyện lệnh, giành quyền tự chủ và lập quốc. Cuộc khởi được tiến hành trong hoàn cảnh hết sức thuận lợi, dân Giao Chỉ và Cửu Chân cũng đang đứng lên đấu tranh chống sự thống trị hà khắc của phong kiến phương Bắc, đánh phá châu thành, giết thứ sử Chu Phù năm 190 khiến trong mấy năm liền nhà Hán không lập nổi quận trị. Người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Tượng Lâm có tên là Khu Liên (có sách viết là Khu Quỳ, Khu Đạt, hay Khu Vương) lên làm Vua. Vương quốc mới lập của dân Tượng Lâm trong một thời gian dài được các thư tịch cổ Trung Hoa gọi là nước Lâm Ấp; sách Thủy kinh chúgiải thích rõ, Lâm Ấp là huyện Tượng Lâm, sau bỏ chử Tượng, chỉ gọi là Lâm Ấp. Nhưng thực ra, tên gọi vương quốc của người Chăm chính là Champa, lấy tên một loài hoa đẹp và rất được yêu thích của người phương Nam: hoa Đại (tên khoa học là Michelia Champacca Linnae)[5: tr 111]. Trong thời gian về sau, các quan lại Trung Quốc thường đem quân đánh để chiếm lại vùng đất này nhưng đều bị thất bại vì Lâm Ấp dựa vào địa thế hiểm trở để chống lại. Năm Vĩnh Hòa thứ 3 (Tấn Mục Đế), năm 347, vua Lâm Ấp là Phạm Văn nhận thấy dân các huyện còn lại của Nhật Nam hết sức oán hận thái thú Hạ Hầu Lãm, Phạm Văn xuất quân đánh chiếm được quận Nhật Nam, báo với thứ sử Giao Châu là Châu Phồn đòi lấy phía Bắc dãy Hoành Sơn làm biên giới phía Bắc của Lâm Ấp. Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Quảng Bình chép: “Lũy cũ Hoành Sơn (Hoành sơn cổ Lũy) ở phía Bắc huyện Bình Chính, từ trên núi Ba Hi chạy ngang đến suốt biển. Tương truyền lũy này là do Phạm Văn vua nước Lâm Ấp đắp để làm đường phân giới Giao Châu Lâm Ấp”. Sau đó phong kiến Trung Quốc tấn công với ý định chiếm lại Nhật Nam nhưng bị vua Phạm Văn đánh bật trở lại, Con Phạm Văn là Phạm Phật kế vị (349 – 380) nhiều lần cho quân đánh chiếm vào quận Cửu Chân nhưng không thành công.
II. Những cuộc giao tranh của người Việt và Chiêm trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Mở đầu cho cuộc đụng độ lịch sử này là sự kiện năm 347, vua Champa là Phạm Văn đã đánh chiếm được toàn bộ quận Nhật Nam do nhà Hán lập ra, Champa còn nhiều lần cho quân đánh chiếm quận Cửu Chân, nhưng đều bị đánh bại. Về sau núi Đồng Trụ được coi là giới hạn phía Nam của nước ta thời Bắc thuộc với vương quốc Champa. Đến thời điểm bây giờ, việc xác định địa điểm chính xác của núi Đồng Trụ còn dựa nhiều vào truyền thuyết. Nhưng khởi nghĩa Hai Bà Trưng thì đã được chính sử ghi lại rõ ràng, các cuộc khởi nghĩa này đã nổ ra ở Nhật Nam (Nghệ An xưa). Như vậy có lẽ vào thế kỷ I, sông Lam là biên giới của quận Cửu chân và quận Nhật Nam (hiện tại vẫn có nhiều cơ sở khoa học để chứng minh rằng dòng chảy phần Hạ lưu sông Lam xưa khác với bây giờ, nếu điều đó là sự thật thì việc xác định ranh giới xưa là rất phức tạp). Từ thế kỷ II, III, IV nhiều cuộc nổi dậy và xâm lấn đã nổ ra. Các cuộc nổi dậy và xâm lấn này do các lãnh chúa và thủ lĩnh địa phương người Chăm ở đồng bằng ven biển Hà Tĩnh cầm đầu. Nhưng các lãnh chúa này đã bị đánh bật về phía Nam Sông Lam (theo An Tĩnh cổ lục) (Các lãnh chúa vùng đồng bằng ven biển Hà Tĩnh vì trong số họ một số là người Champa, một số chưa thể khẳng định được là người Việt hay người Champa, kể cả Mai Thúc Loan).
Đầu thế kỷ VI, Lý Bí khởi nghĩa ở Cửu Đức (Nghệ An) lập ra nước Vạn Xuân (544 – 602). Nhưng rồi vua Champa là Can-Thực-Luật-Bạt-Ma lại vượt qua Sông Lam. Các thế kỷ VIII (780), IX (802 – 803) quân Champa lại tiếp tục chiếm đóng Châu Hoan và Châu Ái nhưng rồi lại bị quân Đường đánh bật về phía Nam Sông Lam.
Thế kỷ X, Đinh Bộ Lĩnh lập nước Đại Cồ Việt. Lúc này ranh giới của Đại Cồ Việt và Champa gọi là Nam Giới. Các sách An Tĩnh Cổ Lục, Phong thổ ký, các huyện Hà Tĩnh đều nhắc đến cửa Nam Giới và núi Nam Giới là giới hạn phía Nam của Đại Cồ Việt thời kỳ này. Đối chiếu với địa hình thì cửa Nam Giới chính là cửa Sót ngày nay, nơi sông Hà Hoàng (bao gồm Sông Nghèn và Sông Sót ngày nay) đổ ra Biển. Như vậy vào thời điểm bấy giờ có thể cửa Sót còn nằm về phía Nam của núi Nam Giới (Thạch Hải, Hà Tĩnh ngày nay). Điều này là có cơ sở vì theo Địa chí Can Lộc thì “Sông Nghèn có thể là dòng chảy chính của Hạ Lưu sông Lam ngày xưa”.
Năm 981, Đại Cồ Việt sau nhiều lần bị Champa quấy rối, Lê Hoàn lần đầu tiên đem quân đi chinh phạt Champa, chiếm được Địa Lý Châu (Quảng Ninh, Quảng Bình). Champa đã phải dời kinh đô (Indrapura) từ miền Đồng Dương vào thành Phật Thệ (Vijaya, tức Bình Định ngày nay). Sau đó Lê Hoàn trả Địa Lý Châu lại cho Champa. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt: Champa từ trước vẫn là một nước lớn (đối với Đại Cồ Việt) nhưng từ sau sự kiện này đã trở thành một “tiểu quốc” chịu thần phục Đại Cồ Việt.
Năm 1011, vua Lý Thái Tổ cho đem quân đánh Champa ở trại Bố Chính (Quảng Bình ngày nay).
Thời Lý Thái Tông, Champa lại bỏ triều cống và hay cho quân ra quấy nhiễu biên giới, Vua cho đóng mấy trăm chiến thuyền đặt hiệu là Long, Phụng, Ngư, Xà, Hổ, Báo, Anh vũ, luyện tập quân bộ tinh nhuệ. Đầu năm 1044, Vua thân chinh cầm quân đánh Champa theo đường thuỷ tiến vào cửa biển Ô –Long (nay là Tư Hiền, Thừa Thiên Huế). Quân Champa đại bại, hơn 3000 quân bị giết, 5000 người bị bắt sống, vua Champa là Sạ Đẩu (Jaya Simhavarman II) bị tướng Champa là Quách Gia Di chém đầu ngay tại trận và đem dâng thủ cấp để xin hàng. 5000 tù binh bị bắt đưa về nước ta vào trấn Vĩnh Khang (phủ Tương Dương, tỉnh Nghệ An) và trấn Đăng Châu (Quy Hoá), ban cho họ ruộng đất, lập thành phường ấp làm ăn sinh sống.
Dưới thời Trần, sau khi Chế Mân dâng hai châu Ô và châu Lý cho nhà Trần làm sính lễ thì người Việt đã di cư vào hai vùng đất này để khai phá. Theo đánh giá chung của nhiều nhà sử học, hai châu Ô, Lý mà nhà Trần đã đổi thành Thuận – Hóa là dải đất từ Nam Quảng Trị vào đến Bắc Quảng Nam ngày nay. Vấn đề được đặt ra là địa bàn thực tế phía nam của châu Hóa thời Trần. Theo khảo cứu của học giả Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời, thìTrà Kệ là huyện Quảng Điền về sau, Bồ Đài là huyện Phong Điền ngày nay, Bồ Lãng ở vùng thượng du sông Hương, Sa Lệnh là phía đông Huế, Thế Vang là huyện Phú Vang, Lợi Bồng tương đương với huyện Hương Thủy, và huyện Tư Dung thì Ông cho rằng đặt vào khoảng huyện Phú Lộc ngày nay. Và cũng theo Đào Duy Anh, biên giới phía Nam của châu Hóa thời thuộc Trần vào đến sông chợ Cửi, tức sông Thu Bồn của Quảng Nam – Đà Nẵng. Phan Khoang, trong Việt sử xứ Đàng Trong, cho rằng “huyện Phú Lộc, huyện Phú Vang thuộc tỉnh Thừa Thiên ngày nay và huyện Hòa Vang, huyện Đại Lộc, phủ Duy Xuyên thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay là đất Hóa Châu xưa”. Vậy biên giới phía Nam của châu Hóa thời Trần là ở đâu? Và người Việt đã vượt qua đèo Hải Vân để khai triển vùng đất Bắc Quảng Nam mà Champa đã giao cho nhà Trần chưa? Những vấn đề này đã được Tiến Sĩ Huỳnh Công Bá qua sự khảo cứu của mình đã làm rõ ngọn ngành những vấn đề này. Qua sự tìm hiểu của mình, bằng những tư liệu khi đi thực địa tại vùng đất này, Ông cho rằng: “Qua các tư liệu trên, cho thấy ít nhất là khoảng 10 năm sau ngày đám cưới Huyền Trân – Chế Mân, đã có người Việt đến khai khẩn vùng đất Bắc Quảng Nam. Địa bàn khai phá lúc bấy giờ diễn ra trên địa bàn trong điểm của đồng bằng sông Thu Bồn và ở phía nam sông này, thuộc đất của huyện Duy Xuyên về sau. Như vậy biên giới phía nam của châu Hóa thời Trần không dừng lại ở Bắc sông chợ Cửi (Thu Bồn). Căn cứ vào bản cổ chỉ của tộc Trà làng Phú Xuân (thuộc tổng Quảng Hóa, phủ Duy Xuyên) lập ngày 21 tháng 9 năm Thái Đức 3 (1780), vốn là một tộc họ người Chăm ở lại khai thác đất đai cùng người Việt nơi vùng “tam giác châu” Ô Da – Thu Bồn. cho biết đến đến cuối thời Trần, do chiến tranh Chiêm – Việt, ông tổ tộc này phải bỏ chỗ ở cũ là làng La Vân (tức Phú Xuân về sau), chạy vào làng Đồng Dương (ở phía Nam sông Ly Ly), là thôn nhà của ông Chế Tịnh (một người Chăm khác) ở trọ, chúng tôi cho rằng biên giới phía nam của châu Hóa lúc bấy giờ có khả năng đến sông Ly Ly (Hương An)”. Và cũng theo Tiến Sĩ Huỳnh Công Bá đi đến nhận định rằng: “Trong buổi đầu quốc gia Đại Việt, Bắc Quảng Nam đã thuộc về Thuận – Hóa. Nếu Thuận Hóa là “phên dậu phía Nam” của nước Đại Việt thì huyện Điện Bàn chính là “phên dậu của phên dậu”, một thời làm “cột mốc biên giới” che đỡ cho cả Thuận – Hóa trong công cuộc tái thiết xây dựng, và một thời gian dài sau đó sẽ trở thành “hành lang quân sự” của những cuộc chiến tranh”
Dưới thời Hồ, để ổn định biên giới phía Nam do Champa trước kia thường xuyên đánh phá ở thời Trần mạt, Hồ Quy Ly muốn làm cho Champa suy yếu và thần phục nhà Hồ để tránh hậu họa về sau. Vì vậy năm 1402, nhà Hồ cho xây dựng con đường Thiên lý từ thành Tây Đô đến Hoá Châu, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đời Hán Thương năm Thiệu Thành thứ 2 (1402), Nhâm Ngọ, tháng 3, sửa đường sá từ thành Tây Đô đến Hoá Châu, dọc đường đặt phố xá để truyền thư, gọi là đường thiên lý”.
Tháng 7 năm 1402, Hồ Quý Ly cử đại binh đi đánh Champa và thắng trận. Phủ biên tạp lục cho biết: “Vua nước ấy là Ba- Đích lại dâng đất Chiêm Động và Cổ Luỹ Động. Quý Ly nhận chia làm 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt An phủ sứ lộ Thăng Hoa, biên làm quân ngũ, khuyên dân nộp trâu thì cho quan tước để lấy trâu cấp cho dân di cư”.
Theo như sự khảo cứu của Học giả Đào Duy Anh, trong Đất nước Việt Nam qua các đời, thì lộ Thăng Hoa nằm ở phía Nam sông Chợ Cửi đến sông Bến Ván tương đương với vùng đất Nam Quảng Nam ngay này. Cũng theo Ông thì châu Thăng là miền Thăng Bình và Duy Xuyên. Châu Hoa là miền Tam Kỳ. Ba huyện Lê Giang, Đô Hòa và An Bị của châu Thăng tương đương với ba huyện Lễ Dương tức huyện Thăng Bình, Huyện Duy Xuyên và Huyện Quế Sơn ngày nay. Châu Hoa thì tương đương với phủ Tam Kỳ thời Nguyễn, tương đương với huyện Hà Đông, tức thành phố Tam Kỳ ngày nay, miền nguồn Chiên Đàn và miền nguồn Hữu Bang. Châu Tư thì thuộc trong phạm vi của hai huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh trong lưu vực sông Trà Khúc, ở miền Bắc tỉnh Quảng Ngãi, huyện Trì Bình ở dưới, huyện Bạch Ô ở trên. Châu Nghĩa trong phạm vi của lưu vực sông Vệ và huyện Mộ Đức hiện ở miền Đông Nam tỉnh Quảng Ngãi.
Như vậy dưới thời nhà Hồ, trong một thời gian biên giới về phía Nam của Đại Việt đã vượt qua sông Trà Khúc hơn 50km về phía Nam đến huyện Mộ Đức thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Nhưng sau đó trong khi Đại Việt bị quân Minh xâm lược thì Champa đã nhân cơ hội đó chiếm lại 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa.
Trong những đời vua đầu của thời hậu Lê, sau khi mới giành được độc lập, việc nội trị được ưu tiên hàng đầu nên trước những hành động quấy rối của Champa ở biên giới, vua Lê Nhân Tông chỉ cho quân đánh vào thành Đồ Bàn, bắt được vua Champa là Ba Đích Lại đưa về Thăng Long và lập cháu (gọi chú) của Ba Đích Lại là Maha Quý Lai lên thay chứ không lấy lại Chiêm Động Cổ Luỹ (4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa mà nhà Hồ đã sáp nhập trước đây).
Đến năm 1470, vua Champa là Bàn La Trà Toàn, một mặt cầu viện nhà Minh, mặt khác xuất 10 vạn quân ra cướp Hoá Châu. Để chấm dứt sự quấy phá của Champa, vua Lê Thánh Tông thân chinh đem 26 vạn quân đi đánh Champa. Vua cho vẽ bản đồ Champa để biết rõ những nơi hiểm yếu của vương quốc này, vua Trà Toàn bị đánh bại. Sau chiến thắng này, vua Lê Thánh Tông cho một số quân đóng tại kinh đô Champa chứ không rút hết về nước như trước nữa. Trong khi khi vua Lê Thánh Tông đánh vào kinh đô của Champa thì một viên tương của Champa là Bố Trì Trì đem quân chạy về phía Nam đèo Cả, tự lập làm Vua, xin sắc phong được nhà Lê đồng ý. Với ý định tạo nên sự yên ổn lâu dài ở phía Nam, vua Lê Thánh Tông cắt phần đất ven biển từ đèo Cù Mông tới đèo Cả (hay Đại Lãnh) lập nên một nước riêng gọi là nước Hoa Anh. Lại lấy phần thượng nguyên ở phía tây Hoa Anh – vùng Cheo Reo để Lập nước Nam Bàn.
Như vậy Chiêm Thành ngăn cách hẳn với Đại Việt bằng hai nước, tuy nhỏ nhưng cũng là tấm đệm từ miền núi ra đến biển. Điều này cũng được Lê Quý Đôn ghi lại ở Phủ biên tạp lục:“Tháng 2 đánh thành Chà – Bàn. Quân Thuận Hoá bắt sống được Trà Toàn. Tướng nước ấy là Bố Trì chạy đến Phan Lung, giữ đất ấy xưng vương, chỉ còn lại được 2 phần 5 đất nước, sai người vào cống. Bèn phong Bố Trì làm Chiêm Thành vương, lại phong Hoa Anh vương và Nam Bàn vương, chia làm 3 nước”.
Vua Lê cho những viên quan Champa đã đầu hàng giữ những chức vụ quan trọng đối với vùng đất mới. Ba Thái được cử làm Đại Chiêm đồng tri châu, Đa Thuỷ làm Thiêm tri châu. Vua có dụ: “Đại Chiêm và Cổ Luỹ trước là đất của ta, gần đây bị mất về nước Chiêm Thành, nay lấy lại được hết. Ai dám không theo lệnh thì chém trước tâu sau”. Vùng đất này được đặt làm đạo Quảng Nam, chia làm ba phủ, chín huyện. Các sở đồn điền cũng được lập ra để dân nghèo từ miền Bắc vào cùng với những kiều dân cũ đã có ở đó từ trước cùng khai khẩn, sinh sống.
Trong cuốn sách Vương quốc Champa của Giáo sư Lương Ninh có dẫn của Đại Nam nhất thống chí như sau “Trong cuộc hành quân này, quân Đại Việt còn vượt qua đèo Cù Mông, tiến tới núi Đá Bia (Thạch Bi). Núi Thạch Bi ở phía đông huyện Tuy Hòa, phía bắc đèo Cả, thuộc thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phù Yên ngày nay. Núi này có một chi, đến bờ biển thành hai… có một khối đá lớn, quan đầu về phía đông như hình người… Vua Lê sai mài vách núi dựng bia đá để chia địa giới với Chiêm Thành”. Vậy thì phải chăng lãnh thổ Đại Việt về phía nam dưới thời Lê Thánh Tông kéo đến ngang núi Thạch Bi? Qua quá trình tìm hiểu như sau, theo như Đại Việt sử ký toàn thư cho biết “Tháng 3 ngày 1, hạ được thành Chà Bàn, bắt sống hơn 3 vạn người…”, “ngày mồng 2 vua thấy đã phá được thành Chà Bàn rồi, xuống chiếu đem quân về”, từ thành Chà Bàn đến núi Thạch Bi phải qua đèo Cù Mông, đi qua tỉnh Phú Yên và xuống gần hết tỉnh Phú Yên mới tới đèo Cả trong đó có núi Thạch Bi. Trong vòng một ngày quân Đại Việt không thể kéo quân đến nơi đây được. Đại Việt sử ký toàn thư như chúng ta đã biết là được ghi chép dưới thời Lê nên những sự ghi nhận trên là đáng tin cậy. Lý giải vì sao Đại Nam nhất thống chí lại cho chép vụ việc này thì Tiến Sĩ Huỳnh Công Bá cho rằng: “qua quá trình mưa gió đã bào mòn, lồi ra trên đỉnh núi một tảng đá bằng hoa cương không bị bào mòn trông giống như một tấm bia, sau đó người dân trong vùng đã thiêu dệt thành truyền thuyết rằng vua Lê Thánh Tông đã cho người mài đá và khắc chữ lên phiến đá đó để đánh dấu cương giới phía Nam của đất nước mà sau này Đại Nam nhất thống chí viết thời nhà Nguyễn đã có sự lầm lẫn đáng tiếc, đã ghi chép vụ việc này mà giáo sư Lương Ninh đã dẫn”. Vả lại giáo sư Lương Ninh cũng viết: “Với ý định tạo nên sự yên ổn lâu dài ở phía nam, vua Lê cắt phần đất ven biển từ đèo Cù Mông tới đèo Cả (hay Đại Lãnh) lập nên một nước riêng gọi là nước Hoa Anh.” Điều này cho thấy phần đất phía Nam đèo Cù Mông Đại Việt không hề quản lý, thì sự ghi chép của Đại Nam nhất thống chí về địa giới phía Nam với Chiêm Thành là núi Thạch Bi là sự lầm lẫn hết sức đáng tiếc.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá ở tuổi 34. Theo ông là những người bộ khúc( phụ tách địa phương) ở Tống Sơn và nhân dân xứ Thanh Hoa. Nguyễn Hoàng dựng dinh ở Ái Tử (Quảng Trị), lôi kéo được đông đảo nhân dân vào Thuận – Quảng với những chính sách ưu đãi, khoan hoà. Đại Nam thực lục tiền biên cho biết:“ Chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được nhân dân mến phục, bấy giờ thường xuyên là chúa Tiên. Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy”.
Như vậy, từ những duyên cớ mà lịch sử, Nguyễn Hoàng với sự kiện vào trấn thủ ở vùng Thuận – Quảng, đã đặt những viên gạch đầu tiên trong sự nghiệp gây dựng nên xứ Đàng Trong.
Cũng trong năm 1558, người Chăm Hoa Anh thường xuyên quấy rối, cướp bóc dân cư người Việt làm ăn sinh sống ở đây, nên Nguyễn Hoàng sai Lương Văn Chánh tiến quân vào Hoa Anh, tới sông Đà Rằng đối phó với quân Champa, sáp nhập vùng đất này vào lãnh thổ xứ Đàng Trong.
Đến năm 1611, quân Champa ở Hoa Anh lại quấy nhiễu đánh phá, Nguyễn Hoàng sai Văn Phong vào Phú Yên đánh dẹp và thu phục tiểu quốc Hoa Anh vào lãnh thổ Đàng Trong. Mở rộng Đàng Trong từ đèo Cù Mông đến đèo Đại Lãnh. Năm 1653, vua Champa là Bà Tấm đem quân vào đòi lấy Phú Yên, chúa Nguyễn Phúc Tần sai Hùng Lộc Hầu làm thống binh đem 3.000 quân đi đánh, thu phục vùng đất Khánh Hòa ngày nay. Năm 1675, Người Champa thường xuyên cho quân đánh phá đất Phú Yên, Nguyễn Phúc Tần cho quân đánh, Vua Chăm là Bà Bật phải xin hàng, dâng đất cho chúa Nguyễn từ sông Phan Rang trở ra, Chúa Nguyễn đặt làm phủ Thái Ninh và dinh Thái Khang để trấn thủ.
Tháng 2 năm 1693, nhân vua Champa là Bà Tranh chủ động tấn công vào vùng Khánh Hòa ngày nay (tuyên bố bỏ lệ triều cống, “làm phản, hợp quân, đắp lũy, cướp giết cư dân ở phủ Diên Ninh), chúa Nguyễn Phúc Chu đã ra lệnh cho Nguyễn Hữu Cảnh chỉ huy quân đánh dẹp, sáp nhập vùng đất còn lại của Champa, lập nên phủ Bình Thuận. Như đã trình bày kể từ sau năm 1471 trở đi, Champa đã không còn tồn tại với ý nghĩa là một vương quốc độc lập nữa mà trở thành một đơn vị hành chính đặc biệt nhất của Đại Việt – một phủ có quyền tự trị tương đối và vẫn thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với Đại Việt.
Về vấn đề vương quốc Champa vẫn còn tồn tại như một đơn vị hành chính đặc biệt cho đến thời kỳ Minh Mạng (1833) chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu để sáng tỏ hơn.
THAY LỜI KẾT LUẬN
Như vậy, sự xung đột của hai nhà nước phong kiến Đại Việt và Champa là không thể tránh khỏi, bởi trong tư duy của giới lãnh đạo phong kiến thì tư tưởng bành trướng luôn đóng vai trò chỉ đạo, tùy thuộc vào sự hưng vong, sức mạnh của mỗi vương quốc qua các giai đoạn mà ưu thế giữa hai bên có sự thay đổi, trái ngược lại với sự đối kháng đó thì người dân chỉ muốn sinh sống hòa bình, mưu kế sinh nhai. Trong khi đó thì phong kiến Trung Quốc luôn rình rập âm ưu bành trướng xuống phương Nam, là nguy cơ thường trực, đe dọa sự sống còn của cả dân tộc. Do đó vấn đề hội nhập để cùng tồn tại và phát triển là xu hướng vận động thực tế khách quan của lịch sử. Việc phong kiến Đại Việt thắng thế hơn so với Champa và từng bước quản lý vùng đất này ở các giai đoạn sau tuy nó thuộc vào nhận thức chủ quan là thôn tính của giai cấp phong kiến nhưng nó phù hợp với xu thế chung của dân tộc là thống nhất, cố kết dân tộc để cùng nhau chống lại mối đe dọa thường trực là âm mưu bành trướng về phương Nam của phong kiến Trung Quốc. Việc Champa suy yếu và lần lượt sáp nhập thống nhất vào Đại Việt là kết quả tất yếu của một quá trình, hình thành nên sự cố kết dân tộc, pha trộn bản sắc văn hóa giữa các cộng đồng dân cư cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Bài do tác giả gởi đến nghiencuulichsu
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
