Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

Cần có “đổi mới” ngay trong não trạng hầu hết “siêu quyền lực” các quốc gia!

Cần có “đổi mới” ngay trong não trạng
hầu hết “siêu quyền lực” các quốc gia!
Loài người dứt khoát có thể sống hòa bình hạnh phúc
nếu biết nghe theo tiếng gọi của trái tim nhân đạo (*).


Những sự kiện đang diễn ra trên thế giới chứng tỏ Loài người vẫn tiếp tục phạm vào những sai lầm lớn. Chính sự ngạo mạn, đi cùng sự kém minh triết và phi nhân đạo của những kẻ chiến thắng nên đã cố ý hoặc vô tình tạo ra chủ nghĩa bành chướng bá quyền các kiểu, chủ nghĩa phát xít, tệ sùng bái cá nhân, các căn bệnh cực đoan – chia rẽ trước đây và chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa bành chướng bá quyền hiện đại ngày nay. Tất cả dường như đang muốn tàn phá Trái Đất và tiêu diệt dần mòn Loài người. Muốn làm rõ nguyên nhân và tìm giải pháp khắc phục, trước hết ta hãy xem, Loài người đã và đang phạm những sai lầm cụ thể nào để dẫn thế giới đến tình trạng như hiện nay?
Thứ nhất là về thể chế chính trị, Loài người luôn giao động giữa 2 cực đoan: Hoặc là lạm dụng tự do dân chủ(thậm chí tự do cạnh tranh hết cỡ, như chủ thuyết tự do mới), hoặc là tập trung chuyên chế mù quáng (thậm chí trở thành phát xít, khi các nước độc tài đã lớn mạnh hoặc bị đe dọa sụp đổ). Hai thái cực này đã từng lần lượt thay thế nhau và luôn luôn đối đầu gay gắt rất khó dung hòa chủ yếu vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, hay dân tộc hẹp hòi, dù phần lớn đã chuyển từ công khai sang ngấm ngầm, nhưng vẫn đang công phá lẫn nhau dưới mọi hình thức.
Thứ hai là kiên định nguyên tắc mạnh được, yếu thua, thực chất là “Luật rừng”, có nghĩa hoặc là sống, hoặc là chết, bỏ qua tính NGƯỜI từ bi bác ái, nhân đạo, nên càng luôn tạo tình trạng đối đầu sung đột, dù bề ngoài có thể vẫn bắt tay nhau hữu nghị, hòa hoãn, mềm dẻo, với những lời hoa mỹ sáo rỗng . . . đã nhắm mắt và quên nhanh những tai họa khủng khiếp thủa trước và nguy cơ lại tái diễn các cuộc chiến đẫm máu . . .
Thứ ba là lẫn lộn các học thuyết quan trọng nhất, trong đó rõ nhất là học thuyết Mác – Lê (bản chất là Chia rẽ và Cực đoan) với học thuyết Hồ Chí Minh (mà cái gốc làĐoàn kết và Sáng tạo) (Xin tham khảo tài liệu nghiên cứu của Viện SENA, số 35, Điện Biên Phủ, Hà Nội).
Thứ tư là quá thiên về tiến hóa phát triển số lượng, bỏ qua hướng phát triển chất lượng, thậm chí nhắm mắt chạy theo GDP để làm cho chất lượng cuộc sống số đông trở nên ngày càng tồi tệ, nó bào mòn, phá hoại trở lại chất lượng của mọi thiểu số quyền lực, nhưng mọi chống trả của họ theo lối cũ mòn như hiện nay sẽ chỉ làm tình hình tồi tệ hơn. Đó là do: Lòng tham không đáy (Đã giầu “nứt đố, đổ vách” vẫn không thấy đủ; một số nước đã trở nên “khủng” (hoặc về dân số, đã gần 1,5 tỷ dân, hoặc về đất đai, đã chiếm tới hơn 1/10 thế giới) mà vẫn muốn bành chướng thêm . . .về lượng. Đó là do có lòng vị kỷ quá cao, không kiềm chế được lòng tham, hoặc tư duy chiến lược có sai lầm lớn.
Thứ năm là bị lôi cuốn quá mạnh về hướng phát triển vật chất đơn thuần, coi kinh tế là mục tiêu quan trọng duy nhất, lãng quên, thậm chí phá hoại phát triển tinh thần (phá hoại cuộc sống có văn hóa, tính nhân văn, lòng nhân đạo). Nói cách khác: Luôn bị lôi cuốn rất lệch theo hướng phát triển Trí tuệ khoa học (IQ Intelligence sciense technology), quá lơ là hoặc để thui chột hướng phát triển Trí tuệ xúc cảm (IE Intelligence Emotionlity).

Tổng hợp lại:
Nguyên nhân chính là Loài người còn vừa quá nhầm lẫn, vừa rất bồng bột, chưa nhận ra chính mình đang làm hại hoặc tiêu diệt bản thân mình.

Cụ thể là:

· Sự say mê cạnh tranh để hưởng thụ không biết kiềm chế, không điều tiết, thậm chí điên rồ, dẫn đến tàn phá Trái Đất, diệt dần mòn toàn Nhân loại.
· Thông minh quá hóa rồ (loại điên rồ cao cấp sâu xa khó nhận ra, nói khác đi cũng vẫn là do Trí tuệ IQ phát triển lấn át mất cả, hay làm đui mù Trí tuệ xúc cảm IE). Loài người đang tự tiêu diệt mình bằng những việc làm thiếu trí tuệ tổng hợp, bỏ qua lòng nhân đạo và tầm nhìn xa, trong đó nguy hiểm nhất là:
1/ Đang vô tình kích thích sự cạnh tranh và phân liệt giầu nghèo quá cái ngưỡng an toàn, thậm chí chủ tâm kích thích cho Thế giới đại loạn, tưởng nhầm rằng như vậy là để bản thân có thể hưởng lợi, hay “đại trị” được nước khác;
2/ Là con người mà nhiều nơi lại hành động thiếu trí tuệ, u mê điên rồ ngu xi như con vật;
3/ Say xưa thiếu cảnh giác lao vào các công nghệ mới GNR như công nghệ robot, công nghệ gene, và công nghệ nano (Robotics + Genetics + Nanotechnology ) bởi chúng có thể đang đe dọa làm biến dạng tự nhiên ở mức cao nhất mà Loài người chưa lường hết, cứ cắm đầu “sáng tạo” kiếm lời và mua vui trước mắt. Ví dụ: Trước đây là bom hạt nhân, nay lại đang chạy đua tạo ra trí tuệ nhân tạo để trang bị cho người máy (vì người máy không có trái tim người, nên rồi chúng có thể sẽ thống trị lại loài người);


Vậy để sửa sai, nên thế nào ?

Trên thế giới đã có những nhà hiền triết nói rất rõ rồi:
· Đức Phật Thích Ca đã nói: “Kẻ thù lớn nhất của mỗi đời người là chính mình” (tất cả lỗi lầm tai họa đều bắt nguồn đầu tiên từ chính con người, từ bản thân mình, dù vô tình), “Hãy tinh tấn (minh triết) để tự thoát khỏi khổ đau”;
· Platon cũng nói: “Điều cao cả nhất của cuộc sống là học làm người”, “Học để biết cái điều mà con người phải tìm đến” (chẳng hạn tìm đến sự minh triết, cần bằng, hài hòa, lòng nhân đạo, biết kiềm chế và các bên cùng thắng);
· Sau mấy chục năm đi tìm đường cứu nước, đã sống và làm việc tại các thuộc địa, tìm hiểu sự thật tại các trung tâm TBCN và CSCN lớn nhất thế giới, tiếp súc với đủ các loại người, từ những nhân vật có tên tuổi trên thế giới, đến anh công nhân làm việc trên boong tầu, hoặc dưới tầng hầm nhà hàng, nên có cái khác với hầu hết tất cả những lãnh đạo lớn khác trên thế giới, Hồ Chí Minh đã tiếp thu lòng Từ bi của Phật Thích Ca, tính Bác ái của Chúa Giêsu, phép Biện chứng của Kark Mac, chủ nghĩa Tam dân (Dân chủ, Dân quyền và Dân sinh) của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh đã nhận ra “Kẻ thù lớn nhất của mỗi đời người là chính mình” và cần phải “Học để biết cái điều mà con người phải tìm đến”, nên Người đã nói: Nếu các Vị ấy mà sống lại, họ sẽ là những người bạn tốt của nhau, còn tôi xin nguyện là người học trò của các Vị ấy. Vì vậy, cuối cùng, Hồ Chí Minh thực sự đã “Học được cái điều mà con người phải tìm đến” là “Đoàn kết, đại đoàn kết. Trân trọng, liên kết, thống nhất các mặt khác biệt, kể cả đối lập, để thực hiện mục tiêu chung: Hòa bình, Độc lập,Tự do, Dân chủ, Bình đẳng và Hạnh phúc”. “Trong khi cần đoàn kết để thực hiện mục tiêu chung mà cứ kêu gọi đấu tranh giai cấp (cứ trừ khử lẫn nhau) là một điều ngu ngốc” . . .Tuy nhiên trước thế kỷ XXI, Hồ Chí Minh đã là thiểu số thảm hại, kể cả trên đất Việt Nam, ngay giữa các đ/c của Người, bởi Thế giới, bao gồm cả TBCN và CSCN, đều chưa đủ minh triết để nhận ra những chân lý tổng quát mới mẻ này.

· Cụ thể hóa ra như sau:

1/ Hãy chắt lọc những điều tốt, loại bỏ những điều xấu của cả CNTB lẫn của CNXH, trong đó đảm bảo cạnh tranh tự do dân chủ trong công bằng bình đẳng xã hội, điều tiết phát triển cân đối hài hòa giữa Tri thức khoa học (IQ) và Tri thức xúc cảm (IE) . . Nói khác đi, ngoài luật pháp, trí tuệ, tài năng, sức sáng tạo và lòng dũng cảm . . .thì để “chiến thắng” một cách trọn vẹn và an toàn, con người còn cần có lòng nhân đạo (từ bi, bác ái, bao dung, che chở) và các mối quan hệ hài hòa, cân đối giữa con người với nhau và với môi trường đủ mức độ thông minh cần thiết để có được một cuộc sống hòa bình hạnh phúc thực sự và đảm bảo an toàn tự nhiên vững bền.
2/ Loại bỏ triết lý rất cực đoan Thắng – Thua, thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc triết lý “Các bên cùng Thắng” trên cơ sở luật pháp quốc tế, lòng nhân đạo phổ quát và mọi đối tượng được thụ hưởng công bằng bình đẳng dựa trên kết quả đóng góp công của có thực của mỗi bên. Lòng tham và thái độ cực đoan thường cản trở thực thi đạo lý “các bên cùng thắng”.
3/ Từ bỏ học thuyết Mác – Lê (Chia rẽ - Cực đoan).Phổ cập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh (Đoàn kết – Sáng tạo): “Đoàn kết, đại đoàn kết. Trân trọng, liên kết, thống nhất các mặt khác biệt, kể cả đối lập (dù quan điểm chính trị, sắc tộc, đạo giáo, lối sống, giầu nghèo . . . khác nhau), để dồn sức thực hiện mục tiêu chung: Hòa bình, Độc lập,Tự do, Dân chủ, Bình đẳng và Hạnh phúc”,
4/ Nếu các nước phát triển sau muốn vượt phương Tây hiện nay, thì không thể lặp lại con đường sai lầm của phương Tây đã trải qua (như TQ của Mao Trạch Đông và Tập Cận Bình đang làm, dù có thay đổi về hình thức bề ngoài với nhiều mưu cao kế sâu hơn). Còn nếu phương Tây muốn giữ vững ngọn cờ dẫn đầu thế giới văn minh của mình, thì không thể vẫn phạm sai lầm như kiểu cũ, như đã làm từ hôm nay trở về trước, mà cần thông minh, sáng tạo chuyển thật mạnh, thật dũng cảm, thật bản chất, như lời răn của các tiền bối của Loài người, như là/ và có thể theo kịp – tương ứng với - những thứ tuyệt diệu mà họ đã sáng tạo ra bởi IQ cao trong công nghệ thông tin và các kỹ thuật cao cấp khác của họ, (và đã từng vô tình giúp cho phần thế giới còn lạc hậu lâu nay đang vận dụng cho mục tiêu còn rất lạc hậu, thậm chí rất dã man của thế giới còn lạc hậu này).Cuối cùng, xin xem điểm 5 sau đây.
5/ Chừng nào Thế giới đã “phẳng”, đã hội nhập Toàn cầu, Trái đất đã thu nhỏ (bởi đã có InterNet và máy bay với tốc độ gấp 3 lần tốc độ âm thanh và còn nhanh hơn thế) nên đã trở thành “một ngôi Làng”, thì ta nên áp dụng có sáng tạo cách tổ chức quản lý của một quốc gia tiên tiến (do Liên hiệp quốc sẽ tuyển chọn) cho ngôi “làng toàn cầu” này. Nghĩa là nên sớm tiến tới thành lập hệ thống pháp quyền toàn cầu phục vụ phương thức “các bên cùng thắng” để tạo dựng cộng đồng hòa bình dân chủ hạnh phúc nhằm mục tiêu hướng tới của toàn Nhân loại thế kỷ XXI: không phải là “tàn sát nhau để sâu xé cái bánh Trái Đất đã có”, mà chính là “làm cho cái bánh Trái Đất to hơn để chia nhau hợp lý hơn”. Như nhiều người đã mấy lần đề cập: Tiến đến dựa vào trưng cầu ý dân để phân bố tổ chức quản lý lại Trái Đất sao cho tương đối hợp lý, sử dụng khai thác tối ưu nhất có thể, mặt khác đưa ra những “khoảng” định mức (giới hạn du di linh động được) những yếu tố được phân bổ quan trọng nhất của xã hội, của mỗi bang (tức mỗi nước theo cách gọi hiện nay) cùng trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi bang đối với toàn cộng đồng, tức là để tránh những sự vô lý do tự nhiên và nhân tạo đã xẩy ra trước đây, ví như có sự chênh lệch dân số hay diện tích sử dụng đất của các nước lớn bé hơn nhau gấp hàng trăm ngàn lần, cực kỳ bất hợp lý, nhưng nghĩa vụ bảo vệ và xây dựng ngôi “làng toàn cầu” thì cũng rất bất hợp lý, chỉ khác nhau theo sự tự giác, tự nguyện . . ., hoặc cộng đồng giúp lẫn nhau giải quyết những khó khăn mâu thuẫn cũ tồn đọng,. . .từ đó mới có thể trừ diệt tận gốc mọi tệ nạn của Loài người, như dịch bệnh, thiếu đói, tham nhũng tiêu cực, vi phạm nhân quyền, xáo trá bịa đặt, chiến tranh bành chướng xâm chiếm và khủng bố liều chết . . .đang diễn ra hiện nay. Tức là sẽ triển khai tư tưởng Đoàn kết và Sáng tạo để tổ chức lại và chinh phục thắng lợi Trái đất (dũng cảm từ bỏ dã tâm chinh phục lẫn nhau, thường không phải là giỏi hơn, mà chỉ là dã man thâm độc hơn). Sau khi, hoặc đồng thời với, việc dọn dẹp vứt đi các rác rưởi, xây dựng lại Hành tinh xanh, toàn Nhân loại sẽ hòa bình cùng vận dụng các Trí tuệ IQ cao và Tri tuệ IE minh triết hơn để tiến nhanh vào Vũ trụ.
Toàn thế giới hãy sớm tỉnh ngộ lại, từ bỏ những thứ “cũ kỹ hư hỏng” và cương quyết ra tay dành lấy những gì “mới mẻ tốt tươi”. Mỹ hiện vẫn đang đứng đầu toàn cầu, nên Mỹ cần tỉnh ngộ lại trước tiên, hãy chủ động kêu gọi trước hết các nước lớn phải thừa nhận những chân lý hiển nhiên nói trên và ngồi lại bàn cách triển khai. Liên hiệp quốc cần nhận rõ vai trò là bà đỡ đón nhận thế giới kiểu mới này.
Xin nhắc lại: Hãy tinh tấn dũng cảm từ bỏ ý đồ xâu xé chém giết lẫn nhau nhằm chiến thắng để dồn sức dũng cảm chinh phục Trái đất và Vũ trụ,.


Người Hà Nội


(*) Đây là bức thư tác giả đã kính gửi các ông Obama, Ban Ki Moon, Tập Cận Bình, Putin và các Vị đứng đầu các nước còn lại,
Cùng tất cả công dân hành tinh từ Hà Nội, ngày 9 tháng 4, 2015.

Tàu Cộng hiện diện trên khắp lãnh thổ Việt Nam











Thứ Ba, 26 tháng 5, 2015

Hình ảnh công trường phi pháp của TQ ở Biển Đông



Phóng viên VietNamNet đã ra Trường Sa tận mắt ghi lại hình ảnh các công trình trái phép TQ xây dựng ở Gạc Ma, Huy Gơ.
Phó TT Mỹ: TQ thách thức tự do hàng hải Biển Đông
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sắp thăm VN



Theo chân đoàn công tác số 9 do Bộ TT&TT chủ trì đến cụm đảo Sinh Tồn trong hành trình "Đến với Trường Sa thân yêu 2015", phóng viên VietNamNet đã tận mắt chứng kiến các công trình TQ đang gấp rút xây dựng trái phép tại các bãi đá Huy Gơ và Gạc Ma.

Nằm trong cụm đảo Sinh Tồn, thuộc quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa, VN), đá Huy Gơ còn được gọi với tên khác là đá Tư Nghĩa, cách Gạc Ma khoảng 15 hải lý theo hướng Đông Bắc, bị TQ chiếm giữ trái phép từ ngày 28/2/1988.

Ban đầu, đá Huy Gơ là một bãi san hô chìm, chỉ nổi lên một phần rất nhỏ khi thủy triều xuống. Sau khi chiếm giữ trái phép năm 1988, TQ đã xây dựng đá Huy Gơ thành một đảo chìm nhỏ với cấu trúc 1 nhà 2 tầng kiên cố.

Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2014, sau khi xây dựng mở rộng các đảo Gạc Ma, Xu Bi, Vành Khăn... TQ tiếp tục huy động một lượng lớn tàu vận tải và thiết bị xây dựng hiện đại để mở rộng bãi đá Huy Gơ ra tới hơn 6 héc ta.

Tàu trọng tải trên 30 ngàn tấn và hệ thống băng chuyền đưa vật liệu xây dựng từ tàu lên bờ cũng được TQ sử dụng.

Hải trình của đoàn công tác số 9 đi giữa cụm đảo Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa, VN), ngang qua các bãi đá Huy Gơ và Gạc Ma đang bị TQ chiếm đóng trái phép.



Đứng từ đảo Sinh Tồn Đông, có thể nhìn thấy Huy Gơ ở khoảng cách rất gần.



Ngay khi tàu Trường Sa 571 đưa đoàn công tác số 9 đi ngang qua bãi đá Huy Gơ, phía TQ lập tức phát tín hiệu bộ đàm xua đuổi, đồng thời bắn pháo sáng cảnh cáo.




Từ khoảng cách vài hải lý vẫn có thể nhìn rõ các công trình xây dựng trái phép của TQ trên đá Huy Gơ đang được thi công ngày đêm, huy động tới 6 cần cẩu cùng hoạt động. Tất cả các công trình đều được sơn màu trắng nổi bật. Tàu vận tải hàng chục ngàn tấn được sử dụng để chở vật liệu ra đảo.




Ở phía cuối bên phải bãi đá, tháp quan sát không lưu đang được quây giàn giáo thi công và các đơn nguyên đã hoàn thiện, được trang bị các thiết bị radar, viễn thông trên nóc.



Tòa nhà trung tâm được xây theo cấu trúc đa giác với 5 tầng nổi, có cầu dẫn từ mặt đất lên tầng 2 để vận chuyển trang thiết bị hạng nặng. Mỗi góc tòa nhà là một hệ thống tháp chiến đấu, bố trí các lỗ châu mai ra tất cả các hướng xung quanh.









Các đơn nguyên liền kề vẫn đang được dựng giàn giáo để thi công. Vật liệu xây dựng liên tục được tầu vận tải chuyển lên bờ. TQ sử dụng công nghệ phụ gia bê tông đặc biệt để dùng nước biển trong quá trình trộn bê tông nên có thể thi công liên tục ngay cả trong mùa khô hạn ở Trường Sa.



Đầu còn lại của bãi đá, các khối bê tông đúc sẵn và nguyên vật liệu được sử dụng để tiếp tục tôn cao nền đá san hô, mở rộng đảo nhân tạo.

Sau khi ngang quá bãi đá Huy Gơ, tàu Trường Sa 571 của đoàn công tác số 9 tiếp tục hành trình khoảng 15 hải lý theo hướng Tây Nam đến đảo Cô Lin, ngang qua bãi đá Gạc Ma đang bị TQ chiếm đóng trái phép và xây dựng mở rộng.

Toàn cảnh các công trình xây dựng trái phép của TQ trên đảo Gạc Ma, bao gồm tòa nhà trung tâm cao 6 tầng, các tháp quan sát không lưu cùng các hệ thống cần cẩu, tầu vận tải hoạt động liên tục.


Tòa nhà 6 tầng được thiết kế với các tháp chiến đấu ở mỗi góc, bố trí lỗ châu mai phong tỏa khu vực xung quanh. Các đống vật liệu ngổn ngang cho thấy công việc xây dựng vẫn đang được tiến hành.


Đường dẫn đưa thiết bị trọng tải lớn lên tầng 2 khu nhà trung tâm cũng đã được hoàn thiện.



Phía trái đảo Gạc Ma, các tầu vận tải đang cập mạn để chuyển vật liệu lên bờ. Các cần cẩu, máy xúc, máy ủi liên tục hoạt động.



Hệ thống tháp trộn bê tông nằm giữa các đơn nguyên nhà độc lập, sử dụng công nghệ trộn bê tông bằng nước biển.


Nhìn bằng mắt thường từ đảo Cô Lin từ khoảng cách hơn 3 hải lý, có thể thấy rõ các công trình xây dựng mở rộng trái phép của TQ trên đảo Gạc Ma.



Huy Phong

Trung Quốc chuẩn bị cho một cuộc chiến?

Tin mới: Phó tham mưu trưởng Hải quân Mỹ Michelle Howard bày tỏ nghi ngờ về hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo ở của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian gần đây, đồng thời yêu cầu Trung Quốc giải thích rõ về hành động này. Mỹ cho rằng Trung Quốc trong năm nay đã bồi đắp thêm khoảng 8,1 km2 đối với các bãi đá mà nước này chiếm giữ (trái phép -PV) ở quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của ViệtNam). Giới chuyên gia quân sự cho rằng, trên một khu vực được đảo hóa đã đủ diện tích để xây cất 1 sân bay cho máy chiến đấu cất và hạ cánh, nhờ đó năng lực khống chế trên không, trên biển của Trung Quốc đối với Biển Đông sẽ tăng cao...Phiên điều trần của David Shear, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách an ninh Châu Á - Thái Bình Dương trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện ngày 13/5/2015 đặc biệt nhấn mạnh đến hoạt động cải tạo đảo của Trung Quốc ở Biển Đông. Ngoài ra, phiên điều trần còn trình bày các hoạt động của Bộ Quốc phòng Mỹ tại khu vực nhằm đảm bảo lợi ích của Mỹ và đồng minh, bạn bè tại khu vực...



Trung Quốc tăng cường diễn tập hải quân trên biển Đông

* David Archibald
Đâu là những nguyên nhân chính có thể dẫn đến một cuộc chiến do Trung Quốc phát động? Nhật Bản và Mỹ cần chuẩn bị những gì để đối phó nếu như kịch bản này xảy ra?

Tính chính danh của Đảng cộng sản Trung Quốc

Tính chính danh của Đảng Cộng sản Trung Quốc dựa trên cơ sở sự cải thiện liên tục về các điều kiện sống của phần lớn người dân Trung Quốc. Trong trường hợp không có sự cải thiện về kinh tế, một số lý do khác phải được đưa ra nhằm làm cho người dân tập hợp xung quanh sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Điều này có thể giải thích cho việc bất ngờ xây dựng các căn cứ tại quần đảo Trường Sa bắt đầu vào tháng 10/2014.
Nợ công của Trung Quốc đã tăng từ 7.000 tỷ USD vào năm 2007 lên 28.000 tỷ USD vào năm 2014. Đây là khoản nợ của một nền kinh tế có GDP 10.000 tỷ USD/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong vòng 7 năm qua chỉ đơn giản là được xây dựng dựa trên tài trợ của các khoản nợ. Nền kinh tế thực sự của Trung Quốc nhỏ hơn nhiều.
Chính phủ Trung Quốc nhiều khả năng thấy được nền kinh tế của mình đang thu hẹp và nhận ra rằng việc phát hành thêm nợ sẽ không có ảnh hưởng lên việc duy trì hoạt động kinh tế. Vì vậy, việc xây dựng các căn cứ đã được đẩy nhanh nhằm cho phép lựa chọn phát động chiến tranh của họ. Đây là vấn đề sống còn đối với giới tinh hoa lãnh đạo đảng. Họ đang đặt cược tất cả vào điều này. Nếu canh bạc này không phát huy tác dụng thì sau đó nhiều khả năng sẽ có một sự thay đổi chế độ khá hỗn loạn.

Vết thương chưa lành

Nhật Bản đã đối xử với Trung Quốc như dân tộc nhược tiểu trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai. Trước đó, Nhật Bản bắt đầu xử tệ với Trung Quốc bằng cách tấn công nước này vào năm 1895, không lâu sau khi Nhật Bản bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa. Tiếp theo đó là 21 yêu cầu của Nhật Bản đối với Trung Quốc vào năm 1915. Chính quyền Quốc Dân Đảng ở Trung Quốc bắt đầu xác định ngày Quốc nhục vào những năm 1920. Tiếp theo đó là sự kiện Mãn Châu (Mukden Incident) vào năm 1931 và Trung Quốc bắt đầu tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1937.
Trong suốt thời kỳ nghèo khó của những năm tháng dưới chế độ Mao Trạch Đông, người Nhật Bản đã được tha thứ (về những hành động của họ trong Chiến tranh thế giới thứ hai). Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình là những con người thực dụng. Hai người đã nói rằng Nhật Bản không thể bị trừng phạt mãi mãi. Sự thịnh vượng của Trung Quốc gần đây đã cho phép xu hướng bài Nhật sống lại như một hình thức tôn giáo của nhà nước. Ngày Quốc nhục một lần nữa được xác định là ngày 18/9. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chỉ đạo truyền hình quốc gia nêu bật chủ đề về cuộc xâm lược của Nhật Bản. Ngày nay, 70% thời lượng “giờ vàng” của truyền hình Trung Quốc là các bộ phim về Chiến tranh thế giới thứ hai. Có ít nhất 100 bảo tàng ở Trung Quốc được dành để trưng bày kỷ vật về sự xâm lược của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Chế độ tại Trung Quốc đang tạo ra và duy trì tâm ý chống Nhật nhằm cho mình một lựa chọn để đi đến chiến tranh.

Được công nhận như là cường quốc số một

Trung Quốc là một dân tộc đầy tự hào. Người dân Trung Quốc thực sự phẫn nộ với thực tế rằng Mỹ được coi là quốc gia số một trên hành tinh. Trung Quốc cũng nhận ra rằng để được công nhận là số một, họ phải đánh bại quốc gia số một hiện tại trên chiến trường. Đây là lý do tại sao Trung Quốc sẽ không chỉ từng bước leo thang gây hấn. Nước này cần một cuộc chiến vì lý do tâm lý của riêng mình.
Điều này có nghĩa rằng Trung Quốc sẽ tấn công Mỹ vào cùng thời điểm mà nước này tấn công Nhật Bản. Do các cuộc tấn công bất ngờ nhiều khả năng thành công hơn nên cuộc tấn công của Trung Quốc sẽ là một cuộc tấn công bất ngờ vào các căn cứ của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương, có lẽ còn xa hơn thế. Cuộc tấn công này nhiều khả năng sẽ bao gồm các cuộc tấn công mạng vào hệ thống tiện ích và thông tin liên lạc của Mỹ.
Trung Quốc đã cơ cấu lực lượng vũ trang của mình để có khả năng đáp ứng một cuộc chiến tranh ngắn, cường độ cao. So với bất kỳ quốc gia nào trên hành tinh này, Trung Quốc có thể là nước có sự chuẩn bị kỹ lưỡng nhất cho chiến tranh. Nước này có dự trữ ngũ cốc đảm bảo tiêu dùng trong một năm và thậm chí có cả dự trữ thịt lợn chiến lược. Trung Quốc vừa lấp đầy dự trữ dầu mỏ chiến lược của mình với trữ lượng khoảng 700 triệu thùng dầu.
Cuộc chiến tranh của Trung Quốc không liên quan gì đến việc đảm bảo các nguồn tài nguyên hay duy trì an toàn cho các tuyến đường thương mại của họ. Một số nhà phân tích phương Tây đã đưa ra các quan điểm đó nhằm giải thích cho những gì mà Trung Quốc đang làm. Bản thân người Trung Quốc đã không đưa ra lời bào chữa nào. Đối với Trung Quốc, sự toàn vẹn lãnh thổ là trên hết. Điều đó là thiêng liêng và không phải là với lý do thương mại tầm thường.

Làm bẽ mặt các nước láng giềng

Tầm quan trọng của quần đảo Trường Sa và yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc là nó phân chia châu Á.
Trung Quốc tuyên bố rằng toàn bộ vùng biển nằm trong yêu sách của Trung Quốc là lãnh thổ Trung Quốc mà không phải chỉ là những hòn đảo. Khi Trung Quốc tìm cách thực thi tuyên bố đó, các tàu buôn và máy bay nước ngoài sẽ phải xin phép để đi qua vùng biển này. Các tàu chiến và máy bay quân sự không phải của Trung Quốc sẽ không được phép đi vào vùng biển này. Yêu sách của Trung Quốc mở rộng xuống tới 4 độ Nam, gần như tới đường xích đạo.
Quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ là Việt Nam, nước sẽ bị bao bọc trong vòng 80 km của đường bờ biển của mình. Nhật Bản nhận ra rằng các tàu thuyền của mình từ châu Âu và Trung Đông sẽ phải đi xa hơn về hướng Đông trước khi chỉ hướng Bắc quaIndonesia và Đông Philippines. Singapore sẽ bị ảnh hưởng xấu do thương mại qua nước này sẽ không còn.
Nhật Bản sẽ trở nên tương đối bị cô lập do máy bay của mình sẽ phải hướng xuống qua Philippines tới gần xích đạo trước khi bay về phía Tây.
Trung Quốc xếp hạng các quốc gia trên thế giới trên phương diện sức mạnh tổng hợp quốc gia, điều mà người Trung Quốc xem là sức mạnh để gây áp lực. Đây là sự kết hợp của sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và sự gắn kết xã hội. Khi nó được thực thi, yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc sẽ gây rất nhiều áp lực lên các nước láng giềng của nước này.

Cửa sổ chiến lược

Các chiến lược gia Trung Quốc nhìn thấy một cửa sổ cơ hội chiến lược cho Trung Quốc vào đầu thế kỷ 21, mặc dù họ không công khai chỉ ra cơ sở của quan điểm đó. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm rõ điều này. Thứ nhất, quan niệm chiến tranh là không thể tránh khỏi có ý nghĩa rất quan trọng để chiến thắng các trận chiến. Trong bối cảnh Trung Quốc được coi là có một nền kinh tế mạnh, đang tăng trưởng thì quan niệm về sự bất khả kháng này dẫn đến các cuộc phiêu lưu quân sự của Trung Quốc. Với nhận thức đó, Trung Quốc phải tấn công trước khi nền kinh tế của nước này thu hẹp do vỡ bong bóng bất động sản. Điều này giải thích sự gấp rút hiện nay của Trung Quốc trong việc xây dựng các căn cứ tại quần đảo Trường Sa.





Một vấn đề khác đặt ra với Trung Quốc là sự hung hăng và gia tăng chi tiêu quân sự đã làm cho các nước láng giềng của Trung Quốc phải tái vũ trang và thiết lập các liên minh. Sẽ là tốt hơn cho Trung Quốc nếu tấn công trước khi các nước láng giềng của mình vũ trang ngày càng lớn hơn.
Một khía cạnh cân nhắc khác là chu kỳ bầu cử tổng thống Mỹ. Tổng thống Obama được xem là một tổng thống yếu và Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tấn công trước khi nước Mỹ có tổng thống mới. Chủ nghĩa thu hồi lãnh thổ đã mất của Trung Quốc và nhận thức về cuộc chiến sắp tới với Trung Quốc vẫn còn khá phổ biến trong giới quân sự Mỹ. Tổng thống Obama đã gây ra một số tranh cãi khi có một số chính sách không nhất quán dẫn đến hỗ trợ Trung Quốc. Trong khi một nền kinh tế mạnh là cần thiết để chống lại Trung Quốc thì chính quyền của ông Obama đang làm hết sức mình để bóp nghẹt nền kinh tế Mỹ với các quy định về cắt giảm lượng khí thải CO2.
Tổng thống Obama đã trải qua thời thơ ấu ở Indonesia và có thể đã chứng kiến rất nhiều thái độ bài Hoa (người Trung Quốc đã và đang là các thương gia và chủ tiệm thành công hơn) trong chính những năm tháng đầu đời. Cũng giống như thời thơ ấu của Valerie Jarrett ở Iran, điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách của ông.

Bệnh tự kỷ nước lớn

Đây là một thuật ngữ được tạo ra bởi chiến lược gia Edward Luttwak để mô tả một thực tế rằng Trung Quốc dường như không quan tâm gì về tác động của các hành động của mình đối với các nước láng giềng. Trung Quốc tự coi mình là trung tâm của thế giới và hoàn toàn nhìn qua lăng kính lợi ích của riêng mình. Điều này dẫn đến hệ quả thực tế là Trung Quốc không thể chấp nhận được khả năng của những điều không diễn ra theo cách mà nước này muốn. Luttwak cũng cho rằng người Trung Quốc phóng đại tư duy chiến lược của riêng mình.

Chủ tịch Tập Cận Bình

Mặc dù việc chuẩn bị cho cuộc chiến này đã được bắt đầu vào những năm 1980, song sự hung hăng gia tăng gần đây được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình, người được coi là Thái tử đảng trong những năm đầu sự nghiệp, đã bị ấn tượng bởi cách cuộc chiến tranh với Việt Nam năm 1979 đã được sử dụng để củng cố quyền lực trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chủ tịch Tập Cận Bình đã tập trung được nhiều quyền lực hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Đặng Tiểu Bình. Ông đang sử dụng chiến dịch chống tham nhũng để thanh trừng đối thủ chính trị. Được biết các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ chỉ cầm quyền trong vòng mười năm trước khi rời chính trường. Chỉ trong hai năm trên cương vị Chủ tịch nước, những người ủng hộ Tập Cận Bình đã làm dấy lên khả năng phục hồi vị trí chủ tịch đảng (từng bị bãi bỏ bởi Đặng Tiểu Bình nhằm không để tái hiện một Mao Trạch Đông khác) nhằm giúp Tập Cận Bình có thể tiếp tục cầm quyền từ vị trí đó. Chủ tịch Tập Cận Bình đã trải qua một thời kỳ khắc nghiệt làm cho ông trở nên cứng rắn qua những sự từng trải trong cuộc sống. Ở tuổi 15, ông được gửi đến sống và làm việc với nông dân tại một vùng quê khô cằn sỏi đá sau khi cha của ông bị thanh trừng. Ông sống trong một cái hang. Người chị của ông đã tự vẫn trước sức ép của lực lượng Hồng vệ binh.

Nhật Bản

Nhật Bản nhận thấy rằng cuộc chiến tranh này đang được đẩy về phía mình và nước này đang tiếp cận nó với sự tiên lượng trước. Nhật Bản coi cuộc chiến này là không thể tránh khỏi, mặc dù gần đây Thủ tướng Abe đã diễn ra yêu cầu gặp Chủ tịch Tập Cận Bình ởIndonesia. Cuộc gặp đã diễn ra căng thẳng do Chủ tịch Tập Cận Bình muốn hàng chục nghìn người dân đất nước của Thủ tướng Abe phải trả giá. Thủ tướng Abe đã phát biểu trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ như là một phần của nỗ lực của ông nhằm đảm bảo rằng Mỹ và Nhật Bản sát cánh đối phó và đẩy lùi cuộc tấn công của Trung Quốc.
Mỹ
Mỹ tin rằng một trật tự thế giới dựa trên luật lệ cần phải được duy trì vì an ninh và thịnh vượng toàn cầu, trong đó có thịnh vượng của riêng Mỹ, vì điều đó dựa phần lớn vào thương mại thế giới. Vì vậy đối với Mỹ, cuộc chiến này sẽ xoay quanh việc duy trì sự tiếp cận đối với các lợi ích chung toàn cầu. Quân đội Mỹ đã không cập nhật cho công chúng nước này về tất cả sự chuẩn bị của Trung Quốc đối với chiến tranh, có lẽ bởi vì họ không muốn bị coi là làm leo thang căng thẳng. Tuy nhiên, quân đội Mỹ không còn nghi ngờ rằng Trung Quốc sẽ bắt đầu một cuộc chiến. Vấn đề chưa rõ chỉ là thời điểm.
Sự hung hăng của Trung Quốc hóa ra lại là may mắn đối với Hải quân Mỹ, một lực lượng trước đó đã thiếu một mối đe dọa đáng tin cậy và phải đối mặt với sự cắt giảm liên tục. Hiện có một xu hướng nhấn mạnh đến tính hiệu quả của các hệ thống vũ khí của đối phương. Người Trung Quốc có thể đã đọc được các báo cáo của Hải quân Mỹ về các hệ thống vũ khí của họ, điều có thể đã làm họ càng củng cố quyết tâm hơn nữa.

Cuộc chiến này sẽ được thực hiện như thế nào

Sẽ có hai chiến trường chính: Biển Hoa Đông ở phía Bắc của Đài Loan và Biển Đông ở phía Tây của Philippines.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku (lần cuối cùng bị Nhật Bản chiếm đóng khoảng 100 năm trước đây) và toàn bộ chuỗi Ryuku từ quần đảo Yaeyama ở cực Nam tới đảo Okinawa ở phía Bắc. Nếu Trung Quốc chiếm được quần đảo Senkaku, nước này cũng đồng thời có thể nắm giữ được quần đảo Yaeyama. Để đạt được điều đó, Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ quân sự tại quần đảo Nam Kỷ cách quần đảo Senkaku khoảng 300 km về phía Tây. Căn cứ này có thể tiếp nhiên liệu với 10 đường bay cho trực thăng cất cánh. Điều này cho thấy cuộc tấn công khởi đầu sẽ do trực thăng thực hiện bay vượt trên các tàu tuần duyên của Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku.
Trung Quốc có một hạm đội tàu đánh cá khá lớn và tàu buôn với sức vận chuyển lên tới 70 triệu tấn. Nước này đã sử dụng đội tàu đánh cá của mình để quấy rối lực lượng Cảnh sát biển Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku và tới tận phía Đông quần đảo Osagawa, trong đó có đảo Iwo Jima. Điều này cho thấy các tàu đánh cá có thể được sử dụng để đổ bộ các lực lượng đặc nhiệm của Trung Quốc nhằm tấn công các căn cứ của Nhật Bản trên một phạm vi rộng, điều được coi là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Những lực lượng này sẽ được sử dụng như vật hiến tế để gây ra tình trạng lộn xộn tối đa nhằm làm nhụt chí lực lượng quốc phòng Nhật Bản. Ở phía Bắc, cách thức của Trung Quốc sẽ là chiếm giữ và cầm cự chống lại sự phản công của Nhật Bản và Mỹ.
Tại Biển Đông, Trung Quốc đang xây dựng 7 pháo đài khổng lồ và một đường băng. Các pháo đài được thiết kế với tháp pháo phòng không đứng ở các góc nhằm giúp mỗi tháp pháo đều có phạm vi hỏa lực ít nhất là 270 độ. Các pháo đài dường như được thiết kế nhằm tấn công trừng phạt với cường độ lớn và cầm cự cho tới khi chúng được giải vây. Trung Quốc sẽ thắng nếu vẫn giữ được các pháo đài này cho tới thời điểm cuối cuộc chiến.
Trung Quốc nhiều khả năng sẽ bắt đầu cuộc chiến ở phía Nam với các cuộc tấn công nhằm vào các căn cứ của các nước khác trong quần đảo Trường Sa cũng như các căn cứ của Mỹ tại khu vực về phía Đông tới tận đảo Guam. Một cuộc chiến kéo dài sẽ có hại cho Trung Quốc do trên tuyến đường tiếp vận từ đảo Hải Nam tới quần đảo Trường Sa, tàu thuyền và máy bay rất dễ bị tấn công. Việt Nam đã và đang nâng cấp hệ thống radar của mình và nước này hy vọng tất cả các nước tham chiến không phải Trung Quốc sẽ chia sẻ thông tin mục tiêu. Hệ thống kiểm soát và cảnh báo sớm (AWACS) của Mỹ tại Philippinessẽ có thể theo dõi các mục tiêu Trung Quốc được trao đổi từ phía Việt Nam. Singaporenhiều khả năng sẽ vận hành các máy bay F-15 của mình ngoài khơi vịnh Cam Ranh. Máy bay Trung Quốc sẽ ở vào cuối tầm bay khi tới được quần đảo Trường Sa.
Lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đã nâng số lượng các căn cứ tại Philippines với mục đích gia tăng sức mạnh tấn công nhằm đánh bật Trung Quốc khỏi các pháo đài mới xây dựng của họ. Một số hệ thống vũ khí của Mỹ như tàu USS Zumwalt có thể sẽ phải được triển khai để đạt được mục tiêu này.
Trong bức tranh lớn hơn, Nhật Bản và Trung Quốc sẽ cố gắng để phong tỏa nhau, chủ yếu là bằng lực lượng tàu ngầm của mỗi nước. Hải quân Nhật Bản có chất lượng cao hơn Trung Quốc và rất nhiều khả năng sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến phong tỏa lẫn nhau này.
Ngành công nghiệp trên toàn châu Á sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc chiến này. Đặc biệt, ngành công nghiệp Trung Quốc nhiều khả năng sẽ bị đình trệ nhanh chóng, điều mà cuối cùng sẽ dẫn đến bất ổn xã hội. Cuộc chiến càng kéo dài thì vị thế tương đối của Trung Quốc sẽ càng tồi tệ. Thịt sẽ biến mất khỏi khẩu phần ăn của người Trung Quốc. Đậu tương không bán được sẽ chất đống trong các kho của Mỹ.
Việc loại bỏ các căn cứ của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa sẽ cho phép một giải pháp hòa bình dành cho bất cứ ai cuối cùng cầm quyền ở Trung Quốc. Đây sẽ là một trong những cuộc chiến tranh vô nghĩa, ngu ngốc và hủy diệt nhất trong lịch sử, song đó là những gì đang đến.
-----------------
(*) David Archibald thuộc Viện Chính trị Thế giới (IWP) tại thủ đô Washington. Bài viết đã đăng trên American Thinker.


(Theo Nghiên cứu Biển Đông)

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Phải thoát cái gông cùm Trung Cộng để dân tộc sống còn

Lê Hải Lăng


Nếu quan sát tinh tế. Sự kiện đã và đang xúc tiến cho thấy Trung Cộng dùng bốn mũi dùi chính trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự để thực thi mộng bành trướng xuống phía Nam mà Việt Nam là cái diện chính trong mưu đồ xâm lược. Ngoại giao 4 tốt, 16 chữ vàng hai đảng anh em xiết chặt là con dao ĐCSVN tự đâm vào yết hầu dân tộc.



Về chính trị bọn hoạt đầu thời cơ trục lợi, bọn tay sai cài cắm làm lũng đoạn chia rẽ mọi cơ cấu từ trung ương tới địa phương. Về kinh tế bị lệ thuộc từ giao thương phân phối vô kiểm soát tới xây dựng phát triển càn bậy không đúng tiêu chuẩn, thực chất vì tham nhũng trong mọi đấu thầu. Tình trạng con đường theo Trung càng ngày càng đi vào ngõ cụt vì chính Bắc kinh phải đối đầu với tệ nạn tham nhũng nhất là trong quân đội. Phải gặp khó khăn trong việc kiểm soát làn sóng bạo động Tân Cương. Đã và đang gặp khủng hoảng chính trị Hồng Kông. Bị chống đối nặng nề một số nhược tiểu châu Phi khi dân địa phương nhận ra bộ mặt thực dân kiểu mới. Tốn nhiều công sức chi phí cho gián điệp và phô trương quân sự để chinh phục Đài Loan nhưng gặp thất bại não nề.


Thử hỏi tại sao ĐCSVN cứ vẫy vùng trong cái ao TC đục ngầu tanh tưởi máu?


Nói tóm lại kể từ khi ĐCSVN cai trị từ Bắc chí Nam đảng không có cả tâm lẫn tầm, không có tài lẫn trí trong quốc sách trị nước bình thiên hạ. ĐCSVN đi từ sai lầm này tới sai lầm khác, cứ sai lại đòi sửa cứ sửa rối lại sai chạy theo vòng tròn luẩn quẩn trong cái hệ thống chỉ biết đạp đổ mà chẳng biết xây dựng. Xã hội băng hoại trong mọi lãnh vực người cầm quyền cứ quy trách niệm lớp người đi trước hoặc là phủi tay đổ thừa chiến tranh. Nhưng không một ai tự nhận đảng không có năng lực lèo lái để chịu rút vào bóng tối. ĐCSVN còn ngồi trên đầu trên cổ nhân dân ngày nào là trừ gần 3 triệu đảng viên ra, không những đại đa số chịu cảnh nghèo đói lạc hậu mà còn bị ĐCSVN đưa đẩy tới họa diệt vong dưới thủ đoạn và âm mưu hai đảng gọi nhau là một nhà.


Cái gai nhọn cản bước tiến dân chủ hóa là một trọng tội ít ra trong lúc này khi giặc đã xây quân sự trên đảo, đã lợi dụng nhà cầm quyền địa phương sơ hở vì lợi nhuận cá nhân. Giặc âm thầm đóng chốt như Vũng Áng, Cửa Việt, Bình Dương, Bô Xít Tây Nguyên… Giặc áp đảo những kẻ sắp về vườn (lame duck) đi gặp gấp dàn cảnh tiếp đãi trọng thị để kẻ tay sai ngu muội cúi đầu ký hàng chục văn kiện bất lợi cho tương lai nước Việt.


Đất nước không đi lên được khi ĐCSVN tạo ra hàng trăm cánh tay nối dài hội, đoàn, tổ chức làm cái việc tuyên truyền củng cố thế lực cho đảng, bóp nghẹt mọi ngỏ ngách trí thức có khả năng khai phá sáng tạo. Ngay cả tới hàng ngũ báo chí chỉ làm một việc là cái loa mớm từng chữ của đảng thải ra cho nhân dân đọc. Làm sao có xiển dương hoằng pháp giáo huấn đạo đức khi đảng đưa hàng ngàn vạn công an mặc áo thầy tu giảng kinh Phật. Làm sao học được bác ái công bằng của Chúa khi đảng đưa du côn đập phá nhà thờ Thái Hà còn bắt giáo dân bỏ tù. Đặt câu hỏi vì đâu phi công tiếp viên đi nước ngoài buôn lậu trộm cắp. Tại vì ai hái ra tiền không tốn mồ hôi cho những người siêu mẫu chân dài bán dâm. Vì cơ quan cai trị nào mà bà mẹ hy sinh bằng cách tự tử viết giấy để lại cho chồng xin được cái hộ nghèo nuôi con. Tại cái chính sách mạnh ai nấy cướp nào khi một người đàn bà cởi truồng trước cổng cửa quyền khóc than mất đất, mất nhà chịu cảnh lang thang rách đói.


ĐCSVN hãy tự soi gương mà “định hướng” cái tội lỗi của mình. Người dân không cần đảng to mồm “định hướng xã hội chủ nghĩa” không tưởng để “sống mãi trong sự nghiệp” cái nhà tù “vĩ đại” có 3 triệu đảng viên “quang vinh” ngồi chễm chệ ngai vàng bệ ngọc bằng dùng thủ đoạn lừa dối và bạo lực để hút máu nhân dân... Người dân muốn theo xu thế thời đại chạy theo vận hành văn minh thế giới là xóa tan áp bức độc tài xây dựng tiến trình cho “TỰ DO” DÂN CHỦ”. Chỉ có chính quyền do dân ứng cử do dân bầu có tam quyền phân lập kiểm soát nhau mới có cơ hội phục hưng đất nước thịnh vượng. Lúc đó những tài năng con dân nước Việt khắp năm châu không cần ai kêu gọi hòa hợp hòa giải mà tự động về nơi chôn nhao cắt rốn góp sức phát triển mà không sợ bị thế lực đảng độc tôn đánh cướp. Quốc gia sẽ đóng vai trò vị trí mạnh trên chính trường thế giới khi có nhà nước do dân bầu, có đủ chứng cớ lịch sử để minh thị quốc tế Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.


Nhìn qua Miến Điện khi chính quyền độc tài quân phiệt thấy cái nguy cơ Trung Cộng. Họ đã biết hy sinh quyền lợi phe nhóm bằng cách cải đổi chính trị và mở rộng giao thương ngoại giao phát triển kinh tế theo chiều hướng kết hợp với Nhật, Âu, Mỹ. Nhờ cái thế đứng trên chân bốn kiềng. Họ đã từ từ thoát ra ảnh hưởng xích hóa trong tầm tay bọn bá quyền Bắc Kinh. Vậy chẳng lẽ nước Việt Nam cứ để hết thợ hoạn heo này tới cai cạo mũ cao su kia cai trị kiểu 4 tốt 16 chữ vàng, đi chầu dâng đất dâng biển trong bóng tối như Hội nghị Thành Đô. Chẳng lẻ 90 triệu dân chịu làm thân phận nô lệ Bắc thuộc lần thứ hai.


Trong bối cảnh hiện tại. Nếu nhà cầm quyền cứ khăng khăng đặt lợi ích hai đảng trên hết thì chính đảng vô hình chung đưa hai tay dâng trọn đất nước cho giặc mà giặc không tốn một viên đạn. Đã quá lúc phải nhìn vào thực trạng nước đã phủ lên chân rồi chứ không phải mới đến chân mà nhảy.


Thế thì nhảy thế nào để đổi thế cờ khi đã chịu tạm thời mất mã thua pháo. Phải dùng song xa (xe) chống tượng (voi) để cứu vãn tình thế. Không thể vơ cáo vơ cấu tuyên bố lưng chừng là không liên kết với một nước này để chống lại một nước khác. Chẳng lẻ các cường quốc Đức, Ý, Nhật, Anh trong khối G7 (Giant 7) có căn cứ quân sự Mỹ đóng trên đất của họ là chống lại các nước láng giềng đó sao.


Nói gần nói xa Việt Nam phải tạo thế liên minh chặt chẽ với các nước tiên tiến văn minh song song với việc thực thi quyền tự do dân chủ công bằng cho nhân dân mà ĐCSVN đã độc tôn độc tài cai trị hơn nửa thế kỷ. Tại sao cứ ôm chân cái tên TC chuyên môn ăn cắp kỹ thuật người khác đổ mồ hôi xương máu phát minh. Tại sao phải khăn quàng đỏ khi cuộc cách mạng văn hóa đã giết hàng triệu người và đạp đổ mọi di sản văn hóa. Giới cầm quyền biết mặc áo complet đi giày da “tư bản giẫy chết” thì phải sống và làm như thế mới được. Phải biết sách lược của các nước phương Tây tiêu biểu như Mỹ là vì quyền lợi chung mà dẹp bỏ tư thù trong quá khứ. Hơn ai hết Việt Nam cần tạo thế kiềng năm chân và đặt nặng trọng tâm vào cái dù Mỹ. Mỹ là con chim đầu đàn của khối NATO 28 nước. Mỹ là nước tài trợ nhiều nhất cho chí phí Liên Hiệp Quốc đóng trên phần đất của mình. Mỹ là nước đứng đầu ngọn sóng trong vụ Nam Tư khi cái sân sau của Châu Âu không tự giải quyết được. Khi TC to mồm chống chọi Mỹ đã thả bom Tòa đại sứ TC rồi sau đó lại đổ thừa là CIA cung cấp lộn bản đồ.


Quay qua chuyện Trung Đông. Sau 8 năm chiến tranh với Iran. Thay vì Saddam Hussein làm ăn với Mỹ như Saudi Á Rập, Jordan… có lợi đôi bên. Saddam đã tăng cường sức mạnh quân sự muốn làm vua trong vùng. Chuyện oái oăm thay chính ông Donald Rumsfeld trao bằng tưởng thưởng Saddam thời TT Reagan cũng là chính ông làm Bộ trưởng quốc phòng hạ bệ Saddam. Số phận Iraq ra sao đó là bài học cho ĐCSVN nhìn xa trông rộng quan thầy khi TC đối diện đương đầu làm chủ biển Đông với Mỹ. Trung Cộng muốn thống lĩnh Châu Á mà biển Đông là hiện tượng tương tự Kuwait.


Có phải chăng Mỹ để TC xây xong quân sự trên đảo mới dùng đệ tứ quyền nhà báo tự do quay phim trưng bằng chứng quảng bá cho quốc tế biết. Như vụ CuBa khi Xô Viết chuyển vận và đặt dàn phóng hỏa tiễn Mỹ đã có trong tay phóng ảnh chụp từ phi cơ thám thính tình báo U-2. Khi trưng bằng chứng đã để LHQ thấy rõ mà Xô Viết không thể phủ nhận chối cãi mà đành đoạn chịu tháo gỡ.


Trong phạm vi bài này cũng nên đề cập lại một vài trường hợp ngoại giao của Mỹ đôi khi khó tiên liệu. Lúc Mỹ đưa bà Đại sứ April Glaspie thiếu kinh nghiệm ngoại giao làm Đại sứ Iraq. Saddam tưởng chừng Mỹ coi nhẹ chuyện ông âm mưu chiếm Kuwait (cung cấp 5% lượng dầu thế giới tiêu thụ). Trong cuộc hội ý giữa bà Đại sứ và Saddam bà đã thẳng thừng trả lời: “Không có ý kiến về tranh chấp giữa Á Rập với Á Rập cũng như tranh cãi giữa Iraq với Kuwait.”


Từ đó Saddam hiểu lầm là Mỹ bật đèn xanh đứng ngoài nhìn Iraq dàn quân lên biên giới thâu tóm Kuwait. Thực sự Saddam tính toán sai lầm đến chết người.


Nhìn lại cảnh tượng biển Đông và Senkaku (Diaoyu). Mỹ đã công bố rõ rệt là không đứng về phía nào trong tranh chấp nhưng muốn ổn định hòa bình khu vực. Trong cái chiến thuật tằm ăn dâu và thái độ hung hãn miệng nói Phật tay giật cướp của TC, bắt buộc Phi và Nhật không thể ngồi yên mà tăng gia quốc phòng liên kết tập trận với Mỹ và đồng minh trong khu vực.


Mỹ đứng ngoài vòng tranh chấp nhưng Mỹ không thể để yên TC thực hành đường lưỡi bò chín đoạn. Lâu nay Mỹ coi đại dương là huyết quản trao đổi giao thương hoàn cầu. Không một nước nào khống chế tự do hàng hải kể cả Liên sô trong thời chiến tranh lạnh.


Quyền lợi thương mại thế giới mà Mỹ có chân trong G7, G20… Chờ xem TC có nuốt dược khúc xương biển Đông như Saddam muốn nuốt Kuwait thập niên 1990 không.


Việt Nam cần phải cải cách đa đảng đa nguyên để củng cố sức mạnh dân tộc đương đầu với Trung Cộng. Lá bài đã lật ngửa. Bộ mặt chứa đầy tham vọng liếm biển Đông trong đó có Hoàng sa, Trường Sa của Việt Nam đã lộ rõ chân tướng Trung Cộng miệng nói hòa bình an ninh khu vực tay lại khuyếch trương bành trướng quân sự để chiếm lĩnh. Việt Nam trong thế chẳng đặng đừng. Hãy dẹp bỏ kiêu ngạo chiến thắng người Việt giết người Việt trong quá khứ. Hãy quay lại khúc phim cái bè lũ giặc Hán từ khi bị dạy bài học tháng 2 -1979 tới bây giờ chúng đã đánh cướp đất đai biển đảo và phá hoại kinh tế, môi trường đến độ cả nước luân lý đạo đức mất đất sống chỉ vì cái quyền lợi gắn bó 2 đảng anh em.


Hãy nhìn vào “chân dung quyền lực” của siêu cường lãnh đạo thế giới mà tự kiếm tìm con đường dân chủ hóa đất nước để được ngồi dưới cái ô dù Mỹ mà bao nhiêu nước kết hợp làm ăn lợi lộc chung. Đó là thế tất yếu của Việt Nam trong hoàn cảnh hiện tại.


Phải thoát cái gông cùm Trung Cộng để dân tộc sống còn.


Ngày 24 tháng 5 năm 2015

Thư ngỏ của các Tổ chức Xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam gởi Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang

Kính gởi: Đại tướng Trần Đại Quang, bộ trưởng Công an nước CHXHCN Việt Nam.


Đồng kính gởi: Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước và các tổ chức nhân quyền quốc tế.


Thưa ông Bộ trưởng


Kể từ khi lên chức Bộ trưởng bộ Công an khoảng giữa năm 2011 đến nay, quả thật ông đã để lại dấu ấn lớn lao trên sự an sinh của Đồng bào và đặc biệt trên những con người bị ông lẫn ngành công an coi là “xâm phạm an ninh quốc gia”, “gây rối trật tự xã hội”.


Hôm nay, nhân vụ các anh Nguyễn Chí Tuyến và Đinh Quang Tuyến, hai người đấu tranh dân chủ ôn hòa bị nhiều thuộc hạ của ông, giả dạng côn đồ, hành hung tàn bạo tại Hà Nội sáng ngày 11-05-2015 (anh Chí Tuyến) và tại Sài Gòn sáng ngày 19-05-2015 (anh Quang Tuyến), chúng tôi thấy cần gởi đến ông thư ngỏ này, trước là để cảnh tỉnh ông, sau là để cho toàn thể đồng bào và thế giới thấy được phong cách lãnh đạo công an cảnh sát, đường lối “bảo đảm an ninh đất nước” của ông và kiểu cách thực thi vai trò “giữ gìn trật tự xã hội” của thuộc hạ ông.


1- Duy trì khẩu hiệu “Chỉ biết còn Đảng thì còn mình”.


Cùng với lời thề công an “trung thành tuyệt đối với đảng Cộng sản”, với danh xưng công an là “thanh gươm, lá chắn” của đảng, khẩu hiệu trên đây, có từ thời Trần Quốc Hoàn, là một sự vô ơn trắng trợn đối với nhân dân, tập thể cao quý sản sinh và nuôi dưỡng công an, đồng thời là sự phỉ báng tàn tệ đối với chức năng và danh dự của ngành là chỉ phụng sự Tổ quốc và Nhân dân (như ở mọi quốc gia văn minh dân chủ). Khẩu hiệu có tính nguyên tắc ấy ngoài ra còn giết chết lương tâm của những con người đang làm một nghề tự bản chất là cao quý lẫn cần thiết, và do đó mở đường cho bao thái độ kiêu căng hống hách, tham nhũng tống tiền, ứng xử vô luật (sử dụng côn đồ), hành động ám muội (giả dạng côn đồ), tàn bạo đối với nhân dân.


2- Chà đạp văn hóa đạo đức Dân tộc:


Đó là phá đám tang của các đảng viên phản tỉnh như Trần Độ, Lê Hiếu Đằng, Trần Lâm, Hoàng Thị Ái Hoát…, thậm chí đám tang dân thường như của bà Hồ Nhu (Đặng Thị Tân) tại giáo xứ Cồn Dầu năm 2010. Công an cũng nhiều lần đốt phá nhà tang lễ của Đồng bào H’Mông tại Cao Bằng (tháng 3-2013, 10-2014, 2-2015). Đạo lý truyền thống “nghĩa tử là nghĩa tận” lần đầu tiên trong lịch sử Dân tộc, đã bị lực lượng này ngang nhiên phá nát.


Ngoài ra, công an còn nhiều lần xâm phạm lễ tưởng niệm các liệt sĩ chống Trung Quốc, tổ chức tại Hà Nội chẳng hạn, bằng cách tự mình hay dùng tay sai cản phá buổi lễ, chửi bới hành hung những người đi tưởng niệm. Những cuộc cướp bóc hỗn loạn tại các lễ hội như Khai ấn Đền Trần ở Nam Định năm 2014, Tưởng niệm Thánh Gióng ở Hà Nội năm 2015 (toàn những anh hùng chống Trung Quốc)… đã không thể xảy ra nếu không có sự dung túng của công an.


3- Đàn áp nhân dân đứng lên đòi quyền sống.


Các cuộc biểu tình đòi đất đai ruộng vườn của dân oan từ bắc chí nam như Văn Giang, Bắc Giang, Dương Nội, Tiên Lãng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Thủ Thiêm, Thủ Đức, Long An… đã mau chóng bị dẹp tan trong máu và nước mắt, trong đánh đập và bỏ tù nhờ bàn tay của những công an cảnh sát dân phòng lạnh lùng tàn nhẫn, mù quáng tuân theo lệnh trên hay mờ mắt vì món tiền thưởng. Cuộc xuống đường của hàng ngàn dân Bình Thuận tháng 4-2015 phản đối nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân gây ô nhiễm môi trường đã bị cảnh sát cơ động đối phó bằng dùi cui, súng chỉ thiên và lựu đạn cay. Những ai hỗ trợ công nhân đình công đòi quyền lợi cũng bị giam cầm, xử án như Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh (10-2010). Ngay những thiện nguyện viên cứu giúp dân oan như hai ông Hà Thanh và Tiến Sơn cũng bị hành hung (03-2015).


Người dân Hà Nội biểu tình bảo vệ cây xanh bị thóa mạ, tống lên xe đưa về đồn tra hỏi (04-2015). Nhiều biểu tình viên như Trịnh Anh Tuấn, Nguyễn Chí Tuyến còn bị công an giả dạng côn đồ hành hung thô bạo. Thậm chí trong những cuộc xuống đường chống quân xâm lăng, đòi quyền sống cho dân tộc, công an cũng không để yên cho người dân thể hiện lòng yêu nước.


4- Tra tấn, giết chết người bị tạm giam.


Từ nhiều năm nay, công an và đồn công an trở thành nỗi kinh hoàng khiếp đảm của dân lành. Theo báo cáo của chính Quốc hội ngày 10-04-2015, trong 3 năm qua, đã có hơn 260 người chết (thực tế hẳn cao hơn nhiều, trong đó có cả học sinh trung học) đang khi bị công an tạm giữ. Phần lớn họ bị bắt vào đồn vì những vi phạm nhỏ nhặt, nhưng rồi đã bị tra tấn đến chết để lấy khẩu cung. Điều đáng nói là nhiều người bị vu khống tự tử và ít có viên công an nào phải chịu trách nhiệm và bị xử lý đúng pháp luật.


5- Bạo hành đối với những người hoạt động nhân quyền:


Trước hết, đó là hăm dọa, cấm hành nghề hoặc áp lực đuổi khỏi ngành những luật sư bênh vực nhân quyền như Lê Trần Luật, Huỳnh Văn Đông, Võ An Đôn, Nguyễn Thanh Lương… Thứ đến, gây rối cuộc sống những ai hoạt động nhân quyền, như đối với bà Dương Thị Tân, anh Huỳnh Trọng Hiếu, không cho họ xuất cảnh (như linh mục Lê Ngọc Thanh, cô Huyền Trang, nhà báo Phạm Chí Dũng, giáo sư Nguyễn Huệ Chi)… Tiếp nữa, khóa cổng chặn đường những công dân muốn tham dự các cuộc gặp gỡ, hội họp về nhân quyền, thậm chí do chính khách hay tổ chức quốc tế tổ chức; rồi bao vây, hành hung, cướp giật điện thoại, máy ảnh của những ai đến tham dự các phiên tòa chính trị như vụ Lấp Vò, Đồng Tháp (8-2014), hay đến thăm các tù nhân lương tâm, như bạn bè ông Phạm Văn Trội (01-2014), ông Trần Anh Kim (01-2015). Ngang nhiên và tàn bạo hơn nữa là truy sát, đánh trọng thương như trường hợp các ông JB Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Bắc Truyển, Trương Minh Đức, Trương Văn Dũng, Hoàng Dũng, Nguyễn Văn Thạnh, các bà Trần Thị Nga, Nguyễn Hoàng Vi, gia đình ông Huỳnh Ngọc Tuấn….


Phục kích để bắt giam vô cớ rồi xử án vô luật như đối với Bùi Minh Hằng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, Phạm Minh Vũ, Đỗ Nam Trung, Lê Thị Phương Anh…


Các nhà hoạt động cho quyền tôn giáo cũng bị công an và tay chân côn đồ chặn đường gây sự như Hội đồng Liên tôn VN, nhiều chức sắc và tín đồ Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cao đài, Hòa Hảo. Đặc biệt công an kết hợp với côn đồ nhiều lần bạo hành đối với cộng đoàn Mennonite Bình Dương (2014-2015) hay các Hội thánh Tin lành tại gia.


Những nhà báo viết bài tố cáo công an tham nhũng, hối lộ, bạo hành, mua quan bán chức… rốt cục đã phải nếm cảnh lao tù như phóng viên Hoàng Khương và mới đây là chủ bút Kim Quốc Hoa báo Người Cao Tuổi.


6- Hành hạ các tù nhân lương tâm.


Thái độ đầu tiên của công an khi thẩm vấn dạng tù nhân này là dùng những biện pháp hèn hạ như lường gạt, tra tấn thể xác và bức bách tinh thần để họ phải nhận tội (chứng từ của Ls Lê Công Định và bà Lê Thị Phương Anh mới đây). Hai trường hợp bức cung nổi tiếng nhất là buộc Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải vào tội giết người để nay bị tuyên án tử.


Một khi họ đã thụ án, công an tiếp tục cưỡng buộc nhận tội những tù nhân bất khuất, bằng nhiều biện pháp bất nhân bẩn thỉu như bỏ đói (Đặng Xuân Diệu), nhờ tù nhân hình sự đánh đập (Hồ Thị Bích Khương), biệt giam kỷ luật (Nguyễn Đặng Minh Mẫn), cắt thăm nuôi (Đinh Nguyên Kha), không chăm sóc y tế đầy đủ (Nguyễn Xuân Nghĩa), đày đi thật xa gia đình (Mai Thị Dung, Tạ Phong Tần). Đặc biệt là đầu độc cho chết trong tù (như Huỳnh Anh Trí, Đinh Đăng Định).


Công an trại tù còn bóc lột tù nhân (chính trị lẫn hình sự) bằng cách bán hàng cantine với giá cắt cổ, đòi hối lộ để được chút thoải mái, nhất là cưỡng bức lao động khổ sai đến kiệt lực. Thành viên các trại cai nghiện, “trung tâm giáo dục” và “trường phục hồi nhân phẩm” cũng không thoát khỏi số phận bi thảm này.


Thưa ông bộ trưởng


Trên đây chỉ là liệt kê một số “thành tích” của ông và của ngành công an Cộng sản. Sự gia tăng con số khổng lồ của họ -trong đó phải kể đến sự gia tăng nhanh chóng số tướng công an trong thời bình và sự phân bổ các tướng lãnh này vào nhiều bộ ngành và địa phương- điều đó tạo một áp lực thường xuyên và khủng khiếp lên bộ máy nhà nước, lên cuộc sống người dân vốn không thể an bình để làm việc, đóng góp xây dựng xã hội.


Việc dùng công an để “đối thoại” bằng nắm đấm, dùi cui, nhà tạm giữ, đòn tra khảo với những người khác chính kiến và tiên thiên coi họ như kẻ thù chỉ làm suy giảm nguyên khí quốc gia, gây chán nản cho những công dân thiện chí, và dĩ nhiên chẳng thể nào làm Đất nước phát triển. Rõ ràng ông đang bôi tro trét trấu vào mặt chế độ mà ông phục vụ, đồng thời cho thấy công an chính là kẻ thù tàn hại Tổ quốc Dân tộc.


Tụt hậu toàn diện của đất nước, thất bại mọi mặt của các chính sách, sai lầm đủ thứ của nhà cầm quyền, tội ác tràn lan trong dân chúng và bất ổn triền miên trong xã hội, ông bộ trưởng và ngành công an gánh trách nhiệm không phải nhỏ về thảm trạng và tệ nạn đó.


Gieo gió gặt bão! Nhân nào quả ấy. Ông đừng tưởng bạo lực và dối trá có thể bình định được lòng dân đang phẫn uất và củng cố được chế độ đang suy tàn. Hãy nghĩ đến biết bao kẻ bá đạo trong lịch sử đã phải trả giá như thế nào để tự răn mình và dạy dỗ các thuộc cấp của ông. Bằng không thì thư ngỏ này sẽ trở thành một trong những bản cáo trạng cho chính ông!


Viết tại Việt Nam ngày 22 tháng 05 năm 2015.


Các tổ chức xã hội dân sự độc lập đồng ký tên:


1- Bạch Đằng Giang Foundation. Đại diện: Thạc sĩ Phạm Bá Hải.
2- Con Đường Việt Nam. Đại diện: Ông Nguyễn Công Huân
3- Diễn đàn Xã hội dân sự. Đại diện: Ts Nguyễn Quang A
4- Giáo hội Liên hữu Lutheran VN-HK. Đại diện: Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa
5- Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy. Đại diện: Hội trưởng Lê Quang Liêm.
6- Giáo hội Tin lành Mennonite VN Độc lập. Đại diện: MS. Nguyễn Hồng Quang.
7- Hội Ái hữu tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam. Nguyễn Bắc Truyển
8- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Kỹ sư Phạm Văn Trội.
9- Hội Bảo vệ Quyền Tự do tôn giáo. Đại diện: Cô Hà Thị Vân
10- Hội Bầu bí Tương thân. Đại diện: Nhà báo Nguyễn Tường Thụy
11- Hội Cựu Tù nhân Lương tâm. Đại diện: Bác sĩ Nguyến Đan Quế.
12- Hội Nhà báo độc lập VN. Đại diện: Tiến sĩ Phạm Chí Dũng
13- Hội Phụ nữ Nhân quyền. Đại diện: Bà Trần Thị Nga
14- Hội thánh Tin lành Chuồng Bò. Đại diện: Ms. Nguyễn Mạnh Hùng.
15- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa
16- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: Linh mục Phan Văn Lợi.
17- Phong trào Dân oan Liên kết đấu tranh. Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh.
18- Phòng Công lý Hòa bình Dòng Chúa Cứu Thế. Đại diện: Lm Đinh Hữu Thoại.
19- Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất. Đại diện: HT Thích Không Tánh.

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2015

Hồ Chí Minh, những ngày sinh và một lá số tử vi



Sắp đến 19/5 lại thấy báo chí, truyền hình bắt đầu "nhớ về Bác". Xét lại thì thấy mình chưa viết một bài nào về ông cụ bởi bất cứ bài nào viết về ông cụ dù là bất cứ ai viết và viết kiểu thì gì ở dưới cũng có rất nhiều tranh cãi thậm chí cắn xé lẫn nhau. Mình không thích viết ra để người ta tranh cãi nên vẫn chưa viết. Hôm nay thử viết một bài về cụ theo cách tiếp cận mới "ít tranh cãi" mà lại gắn với "sự kiện" xem sao, cho mọi người có cái đổi món.


-----------------------------------------------------------------------------------------


Ngày 19/5 cách đây 74 năm một tổ chức tên không hề lạ là Việt Minh đã ra đời tại Pác Bó Cao Bằng, song cho đến nay chẳng mấy ai chú ý tới cái ngày thành lập tổ chức này, tuy vậy không phải vì thế mà ngày 19/5 bị lãng quên mà nó đã trở nên quá quen thuộc với người Việt Nam với ý nghĩa là ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh. Liệu rằng đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử giống như ngày mất của ông trùng với ngày quốc khánh? Khi nói về cái ngẫu nhiên thường người ta bỏ qua luôn lý do xuất hiện của nó vì đơn giản nó xảy ra một cách "không cố ý" tuy nhiên lịch sử lại chưa đầy những hành động có chủ ý của con người. Và một trong những chủ ý như thế của Hồ Chí Minh đã tạo ra một "ngày sinh nhân tạo" cho mình.


Sinh nhật chính trị


Sẽ là không ngoa chút nào khi nói ngày sinh nhật 19/5 của chủ tịch Hồ Chí Minh là là sinh nhật chính trị vì nó tạo ra hoàn toàn vì mục đích chính trị.


Bây giờ chúng ta quay về thời điểm lịch sử xung quanh tháng 5/1946. Vào ngày 6/3/1946 Hồ Chí Minh cùng Jean Sainteny đã ký kết hiệp định sơ bộ Pháp-Việt. Theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và trong khối Liên Hiệp Pháp. Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc để giải giáp quân đội Nhật . Hiệp định này được xem là một nước cờ chính trị của cả hai bên nhằm mưu đồ lợi ích riêng. Chính vì thế mà nó bị các đảng phái khác ra sức công kích dữ dội xem nó là "Hiệp ước bán nước" khiến ông Hồ phải đứng ra thề trước quốc dân đồng bào trong một cuộc mit tinh ở Nhà hát lớn: “Hồ Chí Minh không bán nước!” Những diễn biến này đặt ông trước những tình thế nhạy cảm tiếp theo.


Sau Hiệp định Sơ bộ, quân Pháp bắt đầu vào miền Bắc và sớm gây sự. Quân Tưởng rút dần nhưng chậm. Cao ủy Pháp D’Argenlieu đề nghị gặp Hồ Chí Minh trên Vịnh Hạ Long. Cuộc gặp gỡ đi đến các thỏa thuận: Mở cuộc đàm phán trù bị ở Đà Lạt. Khi trù bị kết thúc sẽ mở đàm phán chính thức ở Paris. Phía Pháp đồng ý mời một đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sang thăm Pháp. Cùng dịp này, Chính phủ Pháp mời Hồ Chí Minh sang thăm Pháp với danh nghĩa thượng khách của nước Pháp. Đây là cơ hội lớn để đề cao vị thế của Việt Nam, tranh thủ dư luận Pháp, tranh thủ đấu tranh về vấn đề Việt Nam trực tiếp với Chính phủ Pháp, tránh giáp mặt với thực dân Pháp ở Đông Dương.


Trong lúc Hồ Chí Minh chuẩn bị chuyến đi thì Cao ủy Pháp D'Argenlieu, mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 từ ngày 14/5/1946. D'Argenlieu đến Vientiane ngày 17/5/1946, đến Hà Nội chiều ngày 18/5/1946. Trên danh nghĩa, D'Argenlieu là cao uỷ, đại diện chính phủ Pháp tại Đông Dương. Việt Nam là một quốc gia trong Liên Bang Đông Dương nên theo nghi thức ngoại giao, để đón tiếp cao ủy, phía Việt Nam phải treo quốc kỳ trong ba ngày để đón D'Argenlieu. Dư luận trong nước thì vẫn còn đang sôi sục vì Pháp đã chiếm lại Nam Bộ, quả này mà dân thấy treo cờ ra với lý do chào đón "toàn quyền" thì thể nào "bọn phản động" cũng có cớ sẽ làm rùm beng lên công kích chính phủ Việt Minh bán nước cho mà xem :D. Đúng là một bài toán khó cho ông Hồ và các đồng chí của mình.


Quân đội Pháp thì muốn tổ chức lễ đón D'Argenlieu thật long trọng để phô trương thanh thế và khẳng định sự quay trở lại của Pháp. Họ mời Hồ Chí Minh tới dự vào ngày 19/5/1946. Ngày 18 sau khi nhận được giấy mời ông Hồ liền cử bộ trưởng Phan Anh tới dự và sau đó yêu cầu thư ký Vũ Đình Huỳnh mời các lãnh đạo trong chính phủ và các đoàn thể tới Bắc Bộ Phủ dự lễ sinh nhật mình vào ngày hôm sau. Theo Hồi ký "Tháng tám cờ bay" của Vũ Đình Huỳnh có đoạn:


“Khi tôi báo tin về ngày sinh của Bác, mọi người cằn nhằn sao nước đến chân mới nhảy. Anh Trường Chinh nói rằng tôi đã biết ngày sinh của Bác mà không nói trước. Tôi thưa lại: Bác vừa bảo thì tôi đến đây ngay”.


Chi tiết này cho thấy ngày sinh nhật đùng một cái được đẻ ra này chắc đến 100% là sinh nhật giả. Vì đâu mà ông Hồ lại sinh khéo thế đúng vào dịp có "việc phải xử lý". Hôm sau, cả Hà Nội bừng lên màu cờ, biểu ngữ chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tối 19/5, lễ mừng chính thức được tổ chức trọng thể tại Bắc Bộ Phủ. Không khí tưng bừng, quan khách tấp nập. Các đoàn thiếu nhi gõ trống ca vang trong phủ. Trong không khí rộn ràng đó, Cao ủy D’Argenlieu và Ủy viên Cộng hòa Sainteny mang hoa đến "chúc mừng sinh nhật Hồ chủ tịch".


Hiệu quả của việc lựa chọn ngày sinh cho mình của Hồ Chí Minh đã giúp ông đi một nước cờ ngoại giao có ý nghĩa cả về mặt đối nội và đối ngoại. Đối với dân chúng ông đã tìm được một lý do để treo cờ "đón giặc Pháp" là để mừng thọ “cha già dân tộc” mà họ không hề nghi ngờ gì về mục đích của nó, điều ấy cũng tạo thêm hậu thuẫn cho bản thân ông và Việt Minh, giúp đo được sự ủng hộ của dân chúng đối với mình, cũng như kiềng mặt các đảng phái đối lập. Đối với các đồng chí là cơ hội biểu dương lực lượng, cho họ được chào mừng ngày thành lập Việt Minh. Còn đối với Pháp ông đã đảo ngược thế cờ, đổi vị thế chủ và khách với phía Pháp, tránh không đến dự buổi lễ phía Pháp tổ chức mà lại kéo hai đại diện chính của nước Pháp đến chào mình, nói theo kiểu vẫn thấy trong phim Tàu là "hạ thấp oai phong của địch nâng cao uy thế của ta", tạo bước đệm tốt cho chuyến thăm của ông sang Pháp sắp tới. Nói chung là một mũi tên trúng nhiều con chim và từ sau sự kiện đó thì ngày 19/5 được chính thức hóa trở thành ngày sinh Hồ Chí Minh.


Tự vẽ rồng


Từ những dữ kiện trên có đủ kết luận là ngày 19/5 thực tế là một ngày sinh nhật chính trị, vậy còn những dữ kiện nào khác về ngày sinh Hồ Chí Minh đã được biết tới trong các hồ sơ lưu trữ?







Căn cứ theo lá thư Nguyễn Tất Thành tại Marseille ngày 15/9/1911 gửi tổng thống Pháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris lấy từ cuốn Ho Chi Minh: A Life của William J.Duiker thì phía dưới lá thư ký: Nguyễn Tất Thành, Sinh tại Vinh, 1892 con trai ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp và Trung Quốc.


Theo Jacques Dalloz trong cuốn " Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale " ( Người Việt trong hội tam điểm thuộc địa ) thì trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15/2/1895.


Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, thì ngày sinh là 15/2/1895 ( trùng với ngày khai ở trên ).


Hộ chiếu Tổng lãnh sự quán Trung Hoa tại Singapore cấp ngày 28/4/1930 cho Tống Văn Sơ ghi năm sinh là 1899.


Còn theo sử gia Daniel Hémery, dựa theo các nguồn của kho lưu trữ của chính phủ Pháp có một tờ khai tại sở cảnh sát Paris năm 1902, Hồ Chí Minh lại khai là sinh ngày 15/01/1894.


Cũng theo ông này thì có một nguồn tin khác nữa là khai sinh của Hồ Chí Minh được những người làm chứng ở Kim Liên xác nhận đã được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tức khoảng 40 năm sau) thì chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung vào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm 1894.


Trong cuốn truyện "những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" dưới bút danh Trần Dân Tiên ông Hồ đã nêu ra một triết lý:


"Một nhà họa sĩ vẽ giỏi không bao giờ vẽ nguyên cả một con rồng, mà vẽ con rồng khi ẩn, khi hiện giữa những đám mây".





Có lẽ ông đã vận dụng nguyên lý này để chỉ đạo các hành động và tư tưởng của mình nên đã chủ động tạo ra rất nhiều đám mây xung quanh bản thân mình cả trong điều kiện phải lẩn tránh sự theo dõi chú ý của kẻ thù cũng như xây dựng hình ảnh vị lãnh tụ tối cao trong dân chúng. Những cuốn truyện ông tự viết về mình với hình ảnh vị cha già, người đại diện của giai cấp cần lao với phong thái "bình dị cận nhân" dưới các bút danh khác nhau tôi thấy nó có thể xếp cùng loại với truyền thống vẽ rồng thường thấy trong lịch sử Việt Nam đời xưa như việc Lý Công Uẩn muốn dời đô thì "phịa" ra chuyện thấy rồng bay lên ở thành Đại La, Nguyễn Trãi bôi mỡ lên lá theo chữ "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần" để kiến ăn theo hình chữ đõ, dân chúng thấy đó là điềm trời ứng như thiền sư Vạn Hạnh cho khắc bài sấm trên cây gạo bị sét đánh nói về việc nhà Lý thay nhà Tiền Lê. Hay như Lê Lợi "dựng" lên chuyện "trả gươm cho rùa" và nay chúng ta có "Di tích lịch sử Hồ hoàn kiếm" đều nhằm tạo ra hình ảnh của các vị "chân mệnh thiên tử" có tư cách chính danh để cầm quyền, là những công cụ lối cuốn đám đông bằng sự sùng kính thần thánh của người làm chính trị trong một đất nước lạc hậu. Vậy cho nên đến tận bây giờ xung quanh ông vẫn là những đám mây huyền ảo. Người ta biết về ông không khác gì hơn biêt về một điệp viên. Và quả thực cũng đúng như vậy. Qua sự sai khác giữa các thông tin trong các hồ sơ mà ông tự khai cho thấy từ khi còn rất sớm ông đã có ý thức "bảo mật thông tin" của một "điệp viên" khá rõ rệt.

Dữ liệu từ những ký ức

Dữ liệu mà một điệp viên tự khai thì độ tin cậy không thể cao vì mục đích của thông tin đó tự thân nó không phải cung cấp sự thật. Vì thế muốn biết ngày sinh thực của Hồ Chí Minh thì bắt buộc là phải có thao tác khai phá dữ liệu kiểu "data mining". Phân tích từ chính thông tin của ông lúc "sơ hở" so sánh các nguồn tư liệu khác nhau và tìm kiếm gián tiếp qua thông tin của những người thân cận với ông. Khi đi tìm dữ liệu về năm sinh của ông manh mối đầu tiên mà tôi phát hiện ra là một chi tiết khi ông trả lời phỏng vấn tạp chí "Ngọn lửa nhỏ" vào năm 1923 của Liên Xô:


“Vào trạc 13 tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe về những từ ngữ tiếng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái đối với chúng tôi lúc ấy, mọi người da trắng đều được coi là người Pháp – thể là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ngữ ấy” .


Theo thông tin từ cuốn "Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế" của Nguyễn Đắc Xuân, một người đã lần gặp gỡ, phỏng vấn và ghi âm rất nhiều lời kể của những người sống ở Huế có mối liên hệ với gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc cũng như bạn học cùng với Hồ Chí Minh ở trường Pháp Việt Đông Ba và quốc học Huế ngay sau thời điểm 1975 có xác nhận thời điểm gia đình ông Hồ chuyển đến Huế là khoảng thời điểm 1905. Trong cuốn đó cũng có phần trao đổi giữa ông Xuân và "nhân chứng"


Lời kể cụ Hồ Đắc Định (87 tuổi) - “Lúc cụ Hồ còn là câu học sinh Nguyễn Sinh Côn ở trường Đông Ba và trường Quốc Học tôi có biết nhưng ít khi gặp nhau chuyện trò. Tuy vậy, trong gia đình tôi thì không thể quên được người học sinh ấy. Bởi vì cuộc đời học vấn của cụ Hồ lúc ấy có liên quan đến ông anh tôi là thầy trợ Hồ Đắc Quỳnh. Trước đây mấy người cháu của tôi đi tập kết (Hồ Đắc Nga làm ở báo Độc Lập) gửi thư về bảo tôi viết chuyện ấy. Nhưng tôi không viết. Anh lạ gì người Huế mình có thói quen rất sợ mang tiếng “thấy sang bắt quàng làm họ”. Bây giờ thì cụ Hồ đã mất gần mươi năm rồi, đối với anh là học trò cũ, tôi không thể từ chối được.Tôi kể anh nghe rồi anh coi chọn sử dụng được cái gì thì tuỳ ý anh.

-“Lúc vào học trường Pháp Việt Đông Ba trình độ Pháp văn của anh Côn còn kém lắm. Từ điển rất hiếm và học sinh cũng chưa có thói quen tra Từ điển. Gặp chữ gì khó hiểu anh Côn cũng hỏi thầy. Một hôm mới vào lớp anh Côn thấy dòng chữ kẻ phía trên tấm bảng đen trước mặt, anh đứng dậy hỏi thầy:

- “République Francaise,Liberté-Égalité-Fraternité, nghĩa là gì, thưa thầy?”

Anh tôi- cụ Hồ Đắc Quỳnh - vốn là một học sinh thông minh, mới 23 tuổi đã đỗ Thành chung, tuy vậy anh cũng chưa hiểu hết câu tiêu ngữ này. République Francaise là nước cộng hoà Pháp nhiều người đã hiểu. Còn ba chữ kia thì sao? Vì tình trạng đất nước mình lúc đó không có những từ tương đương với những từ Pháp ấy. Cuối cùng anh tôi giở Từ điển ra xem và đọc nguyên văn bằng tiếng Pháp cho anh Côn và cả lớp đều nghe. Nghe xong anh Côn vẫn chưa thỏa mãn. Hết giờ anh Côn và một số học sinh đi theo yêu cầu thầy giáo giải nghĩa thêm bằng tiếng Việt nữa. Khi anh hiểu mấy chữ ấy rồi thì anh rất thích thú. Anh nói với bạn bè anh sẽ học tiếng Pháp cho thật giỏi để hiểu được văn minh, lịch sử nước Pháp. Ngoài giờ học ở trường anh còn xin đi học cours du soir (Lớp chiều) với thầy Ưng Dự (lớp học chiều ấy mở ngay ở ngã tư Trần Hưng Đạo-Phan Đăng Lưu ngày nay)" .

Nếu kết hợp lời kể này với điều "bộc bạch" của Hồ Chí Minh trong bài phỏng vấn ở trên ( tôi dùng chữ bộc bạch vì trong câu trả lời không có tính khai báo mà nó là chia sẻ về một ký ức thời niên thiếu, độ tin cậy cao hơn ) ta có thể thấy là thời điểm ông Hồ lần đầu nghe mấy chữ "Tự do, bình đẳng, bác ái" là khi ông khoảng 13 tuổi, và đó cũng là thời điểm đó không thể sớm hơn năm 1905 được ( nếu ông sinh năm 1890 thì lúc đó ông phải ít nhất là 15 tuổi chứ không phải trạc 13 tuổi ). Lấy 1905 trừ đi 13, chấp nhận sai số cộng trừ 1 thì năm sinh của ông sẽ rơi vào khoảng 1891 hoặc 1892.

Những cuốn hồi ký

Khi nghiên cứu lịch sử ngoài các hồ sơ lưu trữ, các tư liệu được giải mật thì các cuốn hồi ký cũng là một nguồn tư liệu hết sức quan trọng. Trong số các cuốn hồi ký hot thì gần đây nhất là "Đèn cù" của Trần Đĩnh cũng có nhắc đến chi tiết về năm sinh của Hồ Chí Minh:


"Tháng 3, Tố Hữu triệu tập mấy người lập nhóm viết tiểu sử Hồ Chí Minh với danh nghĩa Ban nghiên cứu lịch sử đảng. Gồm Tố Hữu, Phạm Bình (Ban nghiên cứu lịch sử đảng), Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh và tôi. Hai nhà văn vào tận quê Cụ sưu tầm tài liệu. Phạm Bình cung cấp tài liệu. Tôi viết. Cố nhiên cũng sưu tầm cả tài liệu. Hai nhà văn trở ra với nhiều điều giật gân. Cụ sinh năm 1891! Cụ Khiêm, anh trai Cụ nói thế, có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng. Báo cáo với Cụ thì Cụ nói của người ta thế nào thì cứ để thế không sửa gì hết. Hai nhà văn và tôi bảo nhau: Bác muốn dân dễ nhớ nên lấy tròn 1890".


Điểm lưu ý trong đoạn trên là Trần Đĩnh khẳng định "có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng" vậy bằng chứng đó là gì? Chúng ta có thể tìm thấy một sự tương thích về mặt nội dung trong thông tin của Trần Đĩnh và thông tin từ một người họ hàng của Hồ Chí Minh là nhà văn Sơn Tùng.

Trong ký lục về buổi nói chuyện của Sơn Tùng ngày 27/4/2001 tại Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Đào tạo có đoạn:

" Thế kỷ 19, Bác Hồ sinh ra năm 1891, tôi nói đây là nói nghiên cứu từ gốc. Bây giờ nói Bác sinh năm 1890, nhưng tôi nghiên cứu tử vi của Bác thì Bác sinh năm 1891. Bác đi làm cách mạng, Bác khai 1890, nhiều người chúng ta khi đi học, đi hoạt động cũng khai bớt hoặc thêm tuổi như thế. Bác sinh năm 1891. 1895 Bác vào Huế, tuổi ta là 5 tuổi, tuổi bắt đầu có trí nhớ, tuổi mà người ta dễ nhớ nhất là tuổi này, tuổi lên 5 đến lên 10. Bác 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế khi ông Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho tôi cuốn “Tất Đạt tự ngôn” là tháng 6-1950. Sau đó ít tháng thì cụ qua đời. Trong “Tất Đạt tự ngôn” thì cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ."

Ông Sơn Tùng có nhắc đến cả tử vi của Hồ Chí Minh như vậy thì ngoài chi tiết về năm sinh 1891 thì ông chắc chắn còn biết cả ngày tháng thâm chí là giờ sinh ( không biết thì không thể lập được là số tử vi ). Lá số tử vi này do ai lập? Ngay trong đoạn sau của bài nói chuyện trên cũng có đề cập thêm một lần nữa về lá số tử vi của Hồ Chí Minh qua lời kể của ông cả Khiêm trực tiếp kể cho ông ( Sơn Tùng ) nghe:

"Lúc đến chân Đèo Ngang, đường lúc đó có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Đến chân Đèo Ngang, có bãi cỏ rất bằng, mẹ bác mới đặt gánh xuống, cha bác xếp ô lại bảo: chỗ này phằng phiu, nghỉ lại đây ăn cơm nắm, để rồi leo đèo, Bác ngồi xuống thì ôm bàn chân rộp, còn chú Thành thì nhảy chơi, mới hỏi cha:

-Thưa cha, cái gì ở trên kia mà đỏ, lại ngoằn ngèo như rứa? Cha bác nói:

Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên đó, lên cái đường mòn đó.

Thế rồi chú Thành mới ứng khẩu luôn một bài thơ. Sau này bác ghi lại trong cuốn sách “Tất Đại tự ngôn” này:

“Núi cõng con đường mòn

Cha thì cõng theo con

Núi nằm ì một chỗ

Cha đi cúi lom khom

Đường bám lì lưng núi

Con tập chạy lon ton

Cha siêng hơn hòn núi

Con đường lười hơn con”

Nói về văn, thơ, tôi là anh thanh niên năm 1950 tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “Tất Đại tự ngôn” của người anh ruột Bác Hồ viết lúc 5 tuổi thì tôi hơi sững sờ. Ông Khiêm nói tiếp:

Lúc đó, cha bác mới mở cái ví vải lấy lá số tử vi của con ra xem, bác mới biết cha đã lấy tử vi cho các con. Cha bác nói với mẹ:

Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn với ông ngoại đã nói như thế không nhầm.

Như vậy là ông Nguyễn Sinh Sắc đã lập là số tử vi cho cậu con trai của mình. Điều này cũng không có gì là khó hiểu bởi Nguyễn Sinh Sắc vốn là bậc túc nho, nói đến Nho là nói đến "Tứ thư, ngũ kinh", trong mấy sách này "Dịch quán quần kinh chi thủ" đứng đầu bảng là Kinh Dịch vốn là cha đẻ của mệnh lý học. Từ cái gốc Dịch thì tỏa ra là các môn lý số khác như Tử vi, Thái Ất, Phong Thủy etc.., tầng lớp sĩ phu có danh vọng hồi xưa có lẽ ông nào cũng thông thạo Nho, Y, Lý, Số cả. Cái tên chữ "Tất Thành" ông đặt cho con trai phải chăng là đã ước đoán được con đường của cậu con trai mình qua sơ đồ mệnh lý "Đa gian truân, hựu tất thành"?

Theo Thiếu Lăng Quân ( tên thật là Nguyễn Tài Tư , còn có một tên khác là Hồ Chí Trung cũng là họ hàng gọi Hồ Chí Minh bằng bác, tác giả của "Ba mươi năm mong đợi Bác về tập hồi ký 400 trang viết tay chưa xuất bản" ) kể về vế lá số Tử Vi của cậu bé Nguyễn Sinh Cung là:

"Cụ Nguyễn Sinh Sắc có lấy lá số Tử Vi ngay và cụ Sắc cũng có đưa lá số này ra để giải đoán với các bạn bè như cụ Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý".

Sau này ông Khiêm cải táng mộ cho mẹ là bà Hoàng Thị Loan về núi Đại Huệ, người biết về Phong Thủy sẽ luận ra viễn án của ngôi mộ bà Loan là dãy núi Hồng Lĩnh như một đàn ngựa đang rong ruổi, minh đường là dòng sông Lam vắt qua, tiền án là ngọn rú Dầu, phân tích này chứng tỏ là ông Khiêm cũng được truyền lại các kiến thức Phong Thủy từ cha mình và các bậc tiên nho khác.

Tư duy dịch lý phương đông

Là một người có gốc cựu học vững vàng Hồ Chí Minh có lẽ còn giỏi lý số dịch học hơn cha và anh trai mình. "Dĩ bất biến ứng vạn biến" là câu nói khá nổi tiếng mà ông dặn dò một nhà nho khác là Huỳnh Thúc Kháng trước khi lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau đã khắc họa sâu sắc nguyên lý dịch học "Bất dịch, Biến dịch và Giản dịch". Ông cũng đã vận dụng điều này qua những phát biểu khác nhau, có nhiều cái bất biến được ông khẳng định như:

"Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi".

"Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết phải giành cho được độc lập".

"Không có gì quý hơn độc lập tự do".

Rõ ràng là với ông những khái niệm "Tự do, Độc lập, Thống nhất" ở trong ông là những khái niệm bất di "bất dịch", trong khi đó ông lại hết sức cơ mưu quyền biến, uyển chuyển "biến dịch" trong sách lược chính trị ngoại giao cũng như cách ứng xử. Và đời sống sinh hoạt của ông thì vô cùng "đơn giản, cơ động" rất đậm chất "giản dịch", người ta vẫn hay nói về "sự giản dị của Bác Hồ" như một thói quen sinh hoạt mà ít đề cập tới rằng nó có thể là một triết lý sống hay là một thái độ triết học nữa . Trong tiếng Hán thì chữ giản dị và giản dịch là cùng một từ 簡易, trong câu văn Việt tùy theo context mà phiên âm ra là giản dị hay giản dịch . Vì đã đi khắp nơi, uống cả mực Tàu và mực Tây nên trong số đồ nghề ông sử dụng có đầy đủ các thể loại Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Hoa và ông cũng không đề cao duy nhất một loại mực nào. Ông thường làm những điều tưởng chừng như rất nghịch lý nhưng đem lại hiệu quả khá cao:

Dùng chủ nghĩa cộng sản làm phần mềm để xây dựng và tập hợp lực lượng nhưng lại customize nó bằng cách viết ra một cương lĩnh mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa khi thành lập Đảng cộng sản Đông Dương khiến ông bị các đồng chí của mình là Hà Huy Tập, Trần Phú phê phán gay gắt là "chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh" kéo theo việc ông bị mất ảnh hưởng trong đảng của mình thời gian sau đó. Tuy nhiên sau này nhờ vào đường lối dân tộc và bộ máy tổ chức kiểu cộng sản mà ông giành được mục tiêu của mình còn những người đã từng phê phán ông thì đều đi vào con đường thất bại và chết sớm.

Ông trích dẫn Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền Pháp vào Tuyên ngôn độc lập Việt Nam chứ không phải lời nói nào đó của Marx hay Lenine. Theo hồi ký "Con rồng An Nam" thì Hồ Chí Minh nói với Bảo Đại là ông cho mấy lời đó vào để "làm đẹp lòng người Pháp và người Mỹ" , ông cũng có lần đề nghị Bảo Đại phục vị còn ông sẽ đứng sau làm thủ tướng với lý do mà ông thổ lộ với Bảo Đại là người Pháp, người Mỹ họ không tin ông vì "họ thấy tôi quá đỏ" ông sẵn sàng lùi lại sau để phương Tây thấy chính phủ của ông "bớt đỏ đi" . Trước khi chết Bảo Đại còn trả lời nhà sử học trẻ Frédéric Mitterand ( cháu của Tổng thống François Mitterand ) trong một cuộc phỏng vấn trực tiếp được phát trên truyền hình Pháp nhiều lần trong đó có đoạn:

Bảo Đại: "Vâng, xin đừng quên rằng cụ Hồ xuất thân từ một gia đình quan lại. Và cụ đã đối xử với tôi như tôi còn làm vua. Cụ cấm những người xung quanh cụ gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, và luôn luôn gọi tôi là Hoàng thượng"

Gửi thư cho cả 2 ông trùm của 2 phe thù địch là Truman và Stalin đề nghị công nhận độc lập của Việt Nam .

Hợp tác với sĩ quan OSS của Mỹ và sau này là đi dây với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mâu thuẫn Xô-Trung cực kỳ gay gắt, hai ông lớn đều tranh nhau vị trí thống soái lãnh đạo cách mạng thế giới cùng muốn lôi kéo "thằng em út" nhưng ông Hồ đã không để bên nào lôi được mình sang hẳn một phe.

Về đối nội thì ông không thể hợp những người "đồng chí cộng sản" Trotskyist khác đường lối như Tạ Thu Thâu nhưng lại sẵn sàng sử dụng cựu đảng viên Quốc dân đảng như Nguyễn Bình làm tư lệnh thống nhất các lực lượng vũ trang miền Nam.

Trong buổi phỏng vấn ngày 25/6/1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: Ce fut un patriote et nous le pleurons... Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés. Tạ Thu Thâu là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt ).

Trong "Tứ trụ triều đình": Giáp, Duẩn, Đồng, Chinh thì hai người có vẻ thân thiết với ông hơn là Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng đều là người của "Tân Việt cách mạng đảng" trước rồi thành đảng viên CS sau chứ không phải đi theo CS ngay từ đầu như các ông Trường Chinh và Lê Duẩn.

Ông có thể một phát phong ngay cho một anh giáo dạy sử Võ Nguyên Giáp chưa từng qua trường lớp quân sự nào quân hàm đại tướng tổng tư lệnh trong khi sẵn sàng bỏ qua không cần dùng một anh "thừa tướng" đã từng trải qua "Hoàng Phố quân sự học hiệu" và "Vạn lý trường chinh" như Nguyễn Sơn. Ông cũng đặt tên lại cho ông Võ-Nguyên Giáp là Văn, phải chẳng đó chính là vì ông muốn nhắc nhở vị tướng của mình một nguyên lý của Dịch là "Trong văn có võ, trong võ có văn", "trong quân sự có chính trị, trong chính trị có quân sự" và kẻ cầm quân không hiểu đạo lý này sẽ không thể thành tướng tài được.

Tất cả những việc ông làm đều cho thấy ông là người thực dụng không câu nệ hình thức, cái gì cũng có thể sử dụng được cốt sao được việc, cốt sao đạt được những mục tiêu bất biến của mình, và qua mỗi hành động đó đều có một nguyên lý nhất quán xuyên suốt mà ông cố gắng vận dụng và thực hành đó là " dung thông những cái trái khoáy, đối lập nhau, khai thác những ưu điểm của sự đối lập đó theo khía cạnh có lợi nhất trên toàn cục thay vì độc tôn một mặt nào đó, loại bỏ cái cái còn lại". Những lời sau đây của ông có thể minh họa cho lập luận này:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Jesus có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jesus, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.

Chính vì thế nên ông nói "đạo đức cách mạng" là "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" cái này toàn là ngôn ngữ nho giáo từ học thuyết họ Khổng mà ra chứ không "tự mình sáng tạo" ra những thứ kiểu "làm chủ tập thể" như ông Lê Duẩn. Rồi cái khẩu hiệu "Độc lập- Tự Do- Hạnh Phúc" này chẳng phải đâu xa, vốn chính là "Dân tộc độc lập-Dân quyền tự do-Dân sinh hạnh phúc" mà ông đã "thuổng" nó từ "Chủ nghĩa Tam dân" của Tôn Trung Sơn đúng như tinh thần của đoạn văn trên.

Người ta có thể lý giải cho những hành đông này của ông bắt nguồn từ phép biện chứng của chủ nghĩa Marx vì chính Engels đã từng nói "Everthing exists in pair" ( mọi thứ tồn tại theo cặp ở thế lưỡng trị ) tuy nhiên theo tôi có lẽ nó bắt nguồn từ lối tư duy "Lưỡng tại song hành" đẻ ra từ học thuyết âm dương thì đúng hơn, bởi phép biện chứng của Marx không nhấn mạnh rằng các mặt đối lập có chứa đựng các yếu tố của của mặt đối lập kia như học thuyết âm dương "Trong âm có dương và trong dương có âm" dù nó có đề cập đến việc chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập.







Những dẫn chứng hơi dài dòng vừa rồi của tôi là để chứng minh một niềm tin là Hồ Chí Minh là người am tường dịch lý một cách sâu sắc và có vận dụng dịch học vào việc tạo ra sự nghiệp chính trị của mình. Điều này chưa từng đề cập đến trong các tài liệu nghiên cứu về ông do giới sử học trong và ngoài nước tiến hành, có lẽ bởi với hệ thống lý luận XHCN thì dịch lý là sản phẩm của chế độ phong kiến nên không thể đưa nó vào tài liệu nghiên cứu chính thống, còn với giới nghiên cứu phương Tây thì "học thuật của phương Đông" không phải là thứ được đánh giá cao.

Nếu không thừa nhận điều này thì sẽ khá khó khăn trong việc lý giải tại sao Hồ Chí Minh có khả năng tiên đoán trước một số điều ( vốn đã được kiểm chứng bằng dữ liệu chính xác ) . Ở đây tôi xin trích ra một đoạn trong hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh, một cuốn hồi ký cũng từng gây xôn xao văn đàn và xã hội cả ảo lẫn thực.

Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt Đại chiến Thế giới thứ hai và Cách mạng tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950); năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).

Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài “Diễn ca lịch sử nước ta”: “Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”, thì ở Hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu cường trong phe Đồng Minh là Stalin, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh chấm dứt năm1946.Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán dẫn rất thô sơ, lại đoán thời cuộc thế giới chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh chống phát-xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!

Trần Quốc Vượng kết luận: cụ Hồ có tử vi.Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở Thư viện Quốc gia có cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư nói sách không còn. Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho cụ Hồ đọc rồi. Sách đang ở chỗ cụ Hồ.

Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết: “Năm 1945, khi quân Tưởng đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:

‘Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?’

‘Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là các chú.’ Ông Hồ trả lời như vậy”.

Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngày nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “các chú”.

Chi tiết nói về khả năng tiên đoán tương lai của Hồ Chí Minh không phải chỉ một mình Nguyễn Đăng Mạnh nhắc đến mà nó được nhiều người khác từng tiếp xúc với ông nhắc lại nhiều lần trên các phương tiện thông tin chính thống, chỉ có thông tin về việc ông Hồ nghiên cứu tử vi là thông tin mới. Dù rằng "môn dự đoán dựa trên dịch học" chưa được xác lập là một môn khoa học thực sự bởi cái mã nguồn của nó vẫn chưa được public để trở thành open source mọi người cùng nghiên cứu nhưng có một thực tế là công chúng vẫn đã và đang thừa nhận năng lực này ở một số nhân vật lịch sử được tôn xưng là "Thượng thông thiên văn, hạ tường địa lý, trung tri nhân sự, huyền cơ tham tạo hóa" như Thiệu Ung ở Trung Quốc và Nguyễn Bình Khiêm ở Việt Nam.

Khác với Thiệu Ung chuyên tâm vào học thuật, chú trọng soạn thảo các trước tác dịch học, Nguyễn Bỉnh Khiêm không để lại trước tác dịch học nào cả ( có một số tác phẩm được cho là của cụ nhưng chưa có bằng chứng xác thực, có thể người đời sau tạo ra mượn danh cụ để lấy uy ) nhưng ông lại được xem là người đã sắp xếp thế các thế lực chính trị tạo nên cục diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16 qua việc "chỉ dẫn" cho các tập đoàn Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn. Cũng có những ví dụ khác về những "trí thức cổ trang" có bản lĩnh "chọc trời khuấy nước, khuynh đảo thiên hạ" là "bậc thầy của đế vương" từng dùng cái năng lực "thần cơ diệu toán" của mình can dự một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lịch sử lập nên các triều đại kéo dài mấy trăm năm như Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lưu Bá Ôn mà học thuật của mấy đồng chí này không gì khác ngoài mấy món "Âm dương dịch lý, ngũ hành vật luận".

Bất kể ai xuất phát từ quan điểm chính trị nào mà nói đều phải thừa nhận rằng Hồ Chí Minh cũng là một nhân vật "hùng tài đại lược" có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Căn cứ vào những hệ quả mà ông tạo ra đối với lịch sử ( tôi không nói về việc nó là tiêu cực hay tích cực, cái này tùy quan điểm lập trường của các phe phái theo các xu hướng chính trị khác nhau, tôi chỉ nói về mức độ sâu và rộng của ảnh hưởng đó ) thì bản lĩnh của ông so với các nhân vật đã nêu cũng không kém chút nào, thì không có gì là phi lý nếu cho rằng bản lĩnh ấy một phần bắt nguồn từ học vấn về dịch lý cũng như năng lực thực hành nó của ông.

Quay trở lại với chủ đề về ngày sinh, tôi đồng tình với kết luận của Giáo sư Trần Quốc Vượng qua lời kể của Nguyễn Đăng Mạnh, vì như tôi như đã dẫn chứng ở trên, tôi tin rằng Hồ Chí Minh có căn bản dịch lý vững vàng và theo logic đó ông cũng am hiểu tư vi, tất nhiên ông là người biết rõ về ngày tháng năm sinh của mình, chỉ có điều ông không muốn người khác biết. Song không phải là không ai biết thông tin đó. Ngoài những người trong gia đình ông Hồ thì trong giới nghiên cứu tử vi lý số Việt Nam nhiều người có biết những thông tin này.

Giai thoại và thực tế

Có một lần tôi đọc được đâu đó trên một trong các diễn đàn lý số mà người viết ( có lẽ đã cao tuổi và đang sống ở hải ngoại ) kể là ông được cụ Ba La, người được xem là vua tử vi rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975 lấy tên làng Ba La-Hà Ðông làm tên hiệu, không ai biết được tên tuổi thật của cụ, vốn là sĩ phu thế hệ Cần Vương, Duy Tân sau khi thất bại chạy sang Tàu cụ Ba La sau lại về ngồi xem số ở chợ Hà Đông trước 1954 trực tiếp thuật lại là:

"Nhà tôi có vườn rộng, các ông ấy ông Võ -Nguyễn Giáp và ông Nguyễn - Hồ Chí Minh vẫn tới chơi xem số “, ” các ông ấy xuất thân ở miền đất xấu, gặp nhiều tai ương, chẳng được lâu, đất Việt ta thời xưa từ Thanh Hóa trở ra đất rộng sông dài, dựng nghiệp lâu dài được, miền Nghệ Tĩnh đất hẹp, bốc lên rồi tắt rất nhanh, chẳng quá hai ba giáp”.


Không cần để tâm đến phán đoán của cụ Ba La thì cũng đã có dữ liệu củng cố thêm khả năng Hồ Chí Minh có nghiên cứu tử vi của chính mình để ứng dụng nó vào sự nghiệp là rất cao và có lẽ ông đã khá thành công trong việc này.

Một lá tử vi mẫu trong sách

Vậy rốt cuộc thì Hồ Chí Minh sinh ngày nào và lá số tử vi của ông ra sao?

Trong cuốn "Tử Vi Đẩu Số Tân Biên" của một nhân vật tên tuổi trong làng tử vi là Vân Đằng Thái Thứ Lang ở phần phụ lục có 4 lá số mẫu dành cho những người nghiên cứu học cách lập đoán trong đó có 2 lá số làm cho người ta chú ý bởi cách ám chỉ của tác giả. Dù không nói trắng ra nhưng những thông tin mà tác giả đưa ra dường như khẳng định 100% rằng đó là lá số của Bảo Đại và Hồ Chí Minh. Thái Thứ Lang vốn là người cùng quê Nam Đàn với Hồ Chí Minh và cha của ông còn được cho là bạn của Nguyễn Sinh Sắc nên đó là lý do mà những người đọc sách này tin tưởng rằng nguồn tin của ông là chân thực. Ngoài ra còn một lý do nữa mà người ta tin vào thông tin của Thái Thứ Lang vì ông này là nhà sư, người xuất gia thì sẽ không phạm giới luật vọng ngôn, tức là ông sẽ nói những thông tin mà ông nghĩ trong đầu là đúng chứ không bịa đặt ( dù có thể điều ông ấy nghĩ chưa chắc đã đúng :D ) .

Đây là là số của Hồ Chí Minh do tôi chụp lại từ cuốn sách xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn này.






Theo những thông tin trên đó thì Hồ Chí Minh sinh vào giờ Mão ngày 6/6 (Âm Lịch ) năm Tân Mão ( 1891).

Lá số này có một số điểm khá tương hợp với miêu tả của Thiếu Lăng Quân về băn khoăn của các ông Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý khi họ luận đoan lá số của Nguyễn Sinh Cung rằng họ đều thừa nhận đây là lá số Tử Vi của một con người không bình thường, song các ông không lý giải được vì sao với một con người an thủ Mệnh, Tài, Quan là các chính tinh: Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Liêm, Phá... như vậy mà Cung Điền trạch lại Vô chính diệu.

Thực tế sau này đã cho thấy cho thấy Hồ Chí Minh uy quyền bao trùm thiên hạ mà trong tay lại không có tài sản gì, cung Điền Sản rất mờ nhạt thì có thể giải thích được băn khoăn ở trên.

Luận đoán thêm một chút là thấy cung Thân trùng với cung Thiên Di, lại có phá quân thủ tọa đắc địa có vẻ ứng với cuộc đời suốt đời làm chuyện canh cải, bôn ba khắp năm châu bốn biển đầy sóng gió của ông Hồ nhưng ông đều vượt qua được.

Khả năng vượt khó của ông cũng thể hiện trong sự nghiệp chính trị của mình. Nếu xem xét toàn bộ thế tam hợp của 3 cung: Mệnh, Tài, Quan thì cái thế tam hợp này là thế lấn lướt tình thế. 




Thế tam hợp trong Tử vi có 4 thế: Thế bình thuận, an hòa; Thế đối nghịch ; Thế bị lấn át và Thế lấn lướt ( hoàn cảnh ). Từ lý "Quan phương thập dụ" ( mười nguyên tắc căn bản khi luận đoán bản phương của lá số tử vi ) mà xét thì lá số này có bản phương "Do nội tự cường" ( Mạnh từ bên trong, lực từ gốc rễ mà ra ) là thế của người bản lĩnh rất cao cường luôn chủ động lấn lướt mọi hoàn cảnh, tức là không phụ thuộc hoàn cảnh để nó khuất phục mà còn có khả năng áp đặt hoàn cảnh…Ở trên có mấy ví dụ về cách ông Hồ ứng biến với tình thế hay nhìn thấy trước được cục diện chiến tranh.

Kết

Đối với Tử vi mà nói thì cùng một lá số nhưng mỗi ông luận một kiểu tùy vào trình độ và cả trường phái nữa ( có rất nhiều cách xem, nhiều trường phái trong tử vi, đông phái nhất là ở Đài Loan ). Nhất là khi luận về mấy ông làm chính trị thì yếu tố tình cảm yêu ghét, sùng bái, hận thù các kiểu xen vào lại chi phối rất nhiều, và có nhiều cách luận giải khác thì lại chỉ ra những điểm không tương thích với vận mệnh của ông Hồ. Cá nhân tôi thì tuy không khẳng định 100% nhưng đánh giá rằng thông tin về ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh là 6/6 âm lịch 1891 có độ chân thực với xác suất khá cao.

Dù vậy nếu có được thêm các dữ kiện đầy đủ hơn để có câu trả lời chính xác hơn nữa thì càng tốt, bởi tìm kiếm sự thật là nhu cầu vốn có của con người, thông tin về một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng toàn cầu như Hồ Chính Minh không đơn giản chỉ là ngày giờ ông đến với thế giới này mà nó còn liên quan đến rất nhiều sự kiện lịch sử khác trước đây và sau này nữa.

Chính vì lý do đó nên hôm nay tôi viết bài này với mong muốn cung cấp thêm một số thông tin vốn dĩ chưa được hoặc ít được nhắc tới về Hồ Chí Minh xem như một thao tác xử lý ảnh "xóa mờ, khử nhiễu" bức chân dung của ông để những ai có cùng mối quan tâm có thể thảo luận. Đây là một case study rất đắt giá. Hy vọng các bạn yêu thích nghiên cứu lịch sử hay lý số dịch học và tử vi sẽ cung cấp thêm cho tôi một số thông tin khác mà các bạn có, chẳng hạn như lá số được cho là của Hồ Chí Minh mà 2 ông Sơn Tùng và Thiếu Lăng Quân đang giữ. Tôi đã tìm thông tin liên lạc của họ trên mạng nhưng không tìm được để hỏi trực tiếp.





P/S: Đối với các bạn chưa tìm hiểu về dịch học và tử vi, các bạn có thể bỏ qua các các đoạn dẫn giải của tôi về các nội dung này, không cần focus nhiều vào chúng bởi các bộ môn này được xếp vào loại huyền học chứ không phải khoa học, nó có cách tư duy và phương pháp luận hoàn toàn khác với phương pháp luận của khoa học hiện đại. Dưới con mắt của khoa học còn rất nhiều điều về các môn huyền học chưa được làm sáng tỏ. Dù sao với đại đa số mọi người mà nói thì chúng ta chỉ nên tin vào những thứ mà mình đã hiểu rõ và lấy nó làm căn cứ cho nhận thức của mình. Đối với cái ta chưa hiểu hãy xem nó có giá trị tham khảo. Ở đây là giá trị tham khảo hữu ích mà nó mang lại là có một logic dẫn đến dữ kiện về ngày sinh thực sự của Hồ Chí Minh, đó có thể là mối quan tâm chung của nhiều người .
Nguồn Facebook