Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

Thời cơ ly khai với “nhóm lợi ích”

Ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Việt Nam vừa lên tiếng về 'sự thâu tóm quyền lực và bóc lột', cũng như 'các nhóm lợi ích' trong xã hội VN.
Mới đây, ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương đảng cộng sản Việt Nam, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương đã đăng một bài viết rất đáng chú ý trên tạp chí Cộng sản bàn về “lợi ích nhóm”, sự thâu tóm quyền lực và sự bóc lột.
Khác với những bài viết ngợi ca chế độ đã quá nhàm chán, ông Hoàng có vẻ tỏ ra đã “nhìn thẳng vào sự thật” khi công nhận “lợi ích nhóm đang diễn ra ở hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội”, và “tình hình xấu đã lan rộng, khá phổ biến và khá ngang nhiên, nghiêm trọng đến mức báo động.”
Để rồi như một nụ cười mỉm vào những người đang tuyên truyền cho sự lãnh đạo “sáng suốt, tài tình” của giới lãnh đạo đảng cộng sản, ông Hoàng cho biết:
“Nước ta sau mấy chục năm công nghiệp hóa, đến nay năng suất lao động xã hội vẫn thấp (vào loại thấp nhất khu vực Đông Á), hiệu quả đầu tư kém, nợ nần nhiều mà chưa rõ trả bằng cách nào, khi mà hiệu quả đầu tư (sử dụng nguồn vay ấy) còn kém; thu nhập thấp, sản phẩm công nghiệp xuất khẩu hầu như không có, các chương trình nội địa hóa không thành công, chủ yếu là làm thuê và cho thuê mặt bằng, nền kinh tế Việt Nam đang rơi vào “bẫy thu nhập trung bình thấp”. Nhìn lại nguyên nhân các nước bị “bẫy thu nhập trung bình” và nhìn lại tình hình nền kinh tế của ta thì thật đáng lo ngại.”
Ông Hoàng cũng đã không khỏi lo lắng khi “chủ nghĩa tư bản thân hữu” đang hoành hành ở Việt Nam. Bộ máy nhà nước đang trở thành công cụ cho một nhóm người, thực hiện độc quyền kinh tế kết hợp độc quyền chính trị.
Từ đó, nhà nước trở thành “bộ máy cai trị, tham nhũng và bóc lột nhân dân”, “dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, chế độ xã hội sẽ là một chế độ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng”, “dẫn đến nguy cơ mất độc lập, thậm chí là mất nước”.
Thực vậy, nhìn vào việc Trung ương đảng cộng sản, dưới sự khống chế, chi phối của “nhóm lợi ích” nào đó, đã không dám phản đối Trung Quốc, không dám công bố nội dung của Hội nghị Thành Đô 1990 là rõ, dù báo chí Trung Quốc, theo một số nguồn cần kiểm chứng thêm, đã tiết lộ rằng tại Thành Đô năm 1990, lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam 'đã đồng ý' là đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành 'một khu tự trị' của Trung Quốc.

Không có giải pháp

Trước thảm trạng của đất nước, dù đã có “ánh sáng của chủ nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh” soi đường dẫn lối, các lãnh đạo đảng cộng sản đã tỏ rõ sự bất lực khi tuyên bố treo thưởng một tỷ đồng cho ai hiến kế đổi mới chính trị, và hai tỷ đồng cho ai hiến kế đổi mới kinh tế.
Thế nhưng, về chính trị, làm sao chế độ độc đảng, độc tài, độc quyền có thể đảm bảo công bằng xã hội? Làm cách nào mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật nhưng chỉ có một nhóm nhỏ công dân vốn chính là giới lãnh đạo cộng sản được độc quyền nhà nước?
Về kinh tế, làm sao mọi thành phần kinh tế đều cạnh tranh bình đẳng trong khi vẫn phải đảm bảo kinh tế quốc doanh là chủ đạo?
Với một đề bài sai thì không thể có lời giải, không có gì ngạc nhiên khi các vị “giáo sư, tiến sỹ” đáng kính của Hội đồng lý luận trung ương đã phải “bó tay chấm côm” và mời người dân hiến kế.
Cần minh định rằng với người dân bình thường, cả đảng cộng sản Việt Nam đang là nhóm lợi ích lớn nhất, vì họ có quyền lợi và quyền lực từ việc độc quyền nhà nước, đứng trên pháp luật.
Thế nhưng, trong một nhóm lợi ích lớn thì cũng có nhiều nhóm lợi ích khác nhỏ hơn giành giật miếng bánh lợi ích với nhau, đơn giản vì chức tước, quyền lợi cũng chỉ có giới hạn, trong khi lòng tham của con người là vô hạn.
Với cá nhân ông Vũ Ngọc Hoàng, theo tôi, rất có thể ông đang ở trong “nhóm lợi ích” yếu thế hơn và sắp phải “ra rìa” nên ông đã phải có hành động bứt phá để chống lại “nhóm lợi ích” ghê gớm đang thâu tóm quyền lực kia.
Bài viết của ông cho thấy sự đấu tranh quyền lực dữ dội trong nội bộ đảng cộng sản trước đại hội 12, và có một nhóm đang dần thắng thế.
Nhưng cũng có thể ông là một người thực sự vì nước vì dân, trước khi kết thúc nhiệm kỳ cũng muốn nói thẳng nói thật để dân hiểu rằng ông không ở cùng phe với “nhóm lợi ích” đó.

Nhưng… vẫn có lời giải

Tham nhũng chức vụ hiện đang được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một nguy cơ đối với sự tồn vong của Đảng này.
Thật ra, ông Vũ Ngọc Hoàng đã chỉ ra rất đúng và trúng lời giải cho tình trạng quốc gia hiện tại, ông cho rằng cần phải có:
“cơ chế kiểm soát quyền lực (bằng quyền lực nhà nước, quyền lực của nhân dân và công luận);
"cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi, minh bạch thông tin và quy định rõ trách nhiệm giải trình, điều trần;
"tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho báo chí vào cuộc, cho nhân dân thực hiện quyền tham chính;
"đổi mới căn bản công tác cán bộ, thực hiện tranh cử trước nhân dân đối với các chức danh bầu cử và thi tuyển công khai đối với các chức vụ quản lý;
"đồng thời thực hiện cơ chế giám sát hoạt động, kết quả công việc, thi hành việc bãi miễn và thay đổi vị trí công tác của cán bộ khi xét thấy không có lợi cho cuộc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.”
Tóm lại, những người trong đảng cộng sản đã biết rõ lời giải là phải thực sự dân chủ hóa để dân bầu ra lãnh đạo, có cơ chế tam quyền phân lập để kiểm soát và cân bằng quyền lực, báo chí phải được tự do…
Thế nhưng, khẩu hiệu xây dựng xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh” đã được hô hào hàng chục năm nay nhưng giới lãnh đạo đảng cộng sản vẫn chưa thực hiện.
“Nhóm lợi ích” đang khống chế cả cái đảng cộng sản ghê gớm đến vậy ư?

Hãy chủ động thoát ra

Trước hiểm họa cả dân tộc bị bóc lột, mất nước, những đảng viên cộng sản chân chính, yêu nước cần chủ động cùng nhau ly khai với “nhóm lợi ích” đang thao túng cả xã hội kia. Nếu không, họ sẽ bị nhân dân đánh đồng họ cũng tham tàn như “nhóm lợi ích” đó và họ sẽ có ngày bị dân phán xét.
Những đảng viên cộng sản nào còn tin tưởng vào chủ tịch Hồ Chí Minh, thật sự muốn đại diện cho công nhân, nông dân và người lao động thì cứ tách ra, lấy lại tên đảng Lao Động.
Những đảng viên cộng sản nào vẫn trung thành với chủ nghĩa xã hội thì hãy tách ra tái lập đảng Xã Hội.
Còn những đảng viên cộng sản nào có tư tưởng khác thì hãy cứ cùng nhau đứng ra lập đảng phù hợp với tư tưởng, chủ trương của mình.
Cần lưu ý rằng việc đa đảng ở Việt Nam đã có tiền lệ, đảng Dân Chủ, đảng Xã Hội đã cùng tồn tại với đảng cộng sản đến tận năm 1990. Sau này, Giáo sư Hoàng Minh Chính đã phục hoạt lại đảng Dân Chủ vào năm 2006.
Đến giờ này đảng Dân Chủ vẫn đang sinh hoạt công khai trong nước với cựu trung tá quân đội, Trần Anh Kim, làm phó Tổng thư ký.
Ngoài ra, trong bộ luật hình sự của đảng cộng sản không hề có điều luật nào cấm người dân thành lập đảng phái để thực hiện quyền làm chủ đất nước, tham gia chính trị.
Và theo điều 16 hiến pháp của đảng cộng sản, “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” nên những người công dân cộng sản có quyền lập đảng, sinh hoạt chính trị thì những công dân khác cũng có quyền này.
Để dân có thể tham chính như ông Vũ Ngọc Hoàng đề xuất thì không có cách nào khác là phải thành lập các chính đảng, vì không ai có thể ra ứng cử vào các chức vụ nhà nước nếu không có sự hỗ trợ của đảng mình trong các chiến dịch vận động tranh cử.

Nhớ bạn trong tù

Những người đã và đang là những tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, tù nhân tôn giáo thật ra cũng chỉ viết đến như ông Vũ Ngọc Hoàng mà thôi. Tuy nhiên, bài của ông Hoàng được đăng trên tạp chí Cộng sản. Còn bài viết của những người kia thì chỉ có các trang tin “lề trái” đăng tải, và họ bị sách nhiễu, đàn áp, bắt bớ một cách tàn bạo.
Giải pháp cho Việt Nam chỉ có thể là 'dân chủ' theo các nhà vận động nhân quyền và dân chủ hóa ở Việt Nam.
Và cũng qua bài viết của ông Hoàng, rõ ràng rằng chính cơ chế độc đảng tạo điều kiện thuận lợi cho các “nhóm lợi ích” sinh sôi phát triển mới là thủ phạm “lật đổ chính quyền nhân dân”, “phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”, gây mất ổn định chính trị, phản bội tổ quốc, phản bội lại bao hy sinh xương máu của ông cha.
Thủ phạm hoàn toàn không phải là những người vận động dân chủ ôn hòa như báo chí nhà nước tuyên truyền bấy lâu nay.
Viết đến đây, tôi nhớ đến các bạn trí thức của tôi là anh Trần Huỳnh Duy Thức, chị Tạ Phong Tần, anh Phùng Lâm vẫn đang chịu cảnh đọa đày của ngục tù bất công.
Nhưng hôm nay tôi nhớ nhiều nhất đến luật sư Lê Quốc Quân, giám đốc của công ty Giải Pháp Việt Nam, đang phải chịu một bản án mà trong đó người ta cáo buộc anh phạm tội “trốn thuế”.
Một vụ án và bản án mà chính những người tuyên án cho anh đã bị thế giới văn minh lên án.
Anh Quân đã nói với tôi một câu mà tôi còn nhớ mãi:
"Giải pháp cho Việt Nam chỉ có thể là dân chủ”.
Ngày 27/6/2015 này, anh Lê Quốc Quân sẽ mãn hạn tù và lấy lại tự do.
Và tôi cũng hi vọng rằng đất nước Việt Nam này sẽ không còn ai phải mang “danh hiệu” tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, hay tù nhân tôn giáo nữa.
Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc?



Tác Giả: GS Nguyễn Văn Tuấn – Blog – 9 June 2015



Nếu được hỏi thời đại hay triều đại nào là huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, bạn sẽ trả lời ra sao? Trả lời câu hỏi này hơi khó, vì đòi hỏi kiến thức lịch sử tốt và đánh giá khách quan. Thế nhưng đối với ngài Tổng Trọng thì câu trả lời đã dứt khoát: Thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1). Ông giải thích rằng sở dĩ thời đại HCM là vàng son nhất vì VN từ một nước thuộc địa trở thành độc lập, tự do; vì phát triển theo xã hội chủ nghĩa; vì nhân dân từ nô lệ thành người làm chủ đất nước; vân vân.

Cố nhiên, đó là nhận xét và quan điểm của ngài. Có người đồng tình, nhưng tôi nghĩ số người không đồng tình chắc cũng ngang ngửa thậm chí cao hơn số người đồng ý. Những người không đồng tình chắc chắn xem xét đến những sự thật sau đây trong cách nhìn của họ:

Có ai dám chắc là nước ta đã độc lập, khi khái niệm này còn rất mơ hồ. Trong thực tế, VN lệ thuộc vào Tàu một cách đáng sợ về kinh tế và chính trị. Nước ta vẫn theo cái chủ nghĩa đã hết sức sống, mà chỉ cần đọc cái tên của chủ nghĩa đó là làm thế giới nhăn mặt. Khi mà người dân chưa được quyền đi bầu để chọn người xứng đáng thay mặt mình quản lí đất nước thì rất khó nói rằng người dân đã thật sự làm chủ đất nước.

Còn tự do thì chắc chắn nhiều người không đồng ý. Các tổ chức thế giới xếp VN vào những nước có hạn chế tự do báo chí nhất thế giới. Các nước cứ liên tục nhắc nhở VN nên tôn trọng quyền con người của công dân. Còn về kinh tế, cho đến nay, VN vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, và đang bị rớt vào cái bẫy thu nhập trung bình. Chẳng những nghèo, mà khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng gia tăng. Người dân hiện đang gánh trên vai hàng trăm loại thuế và chi phí, khổ hơn cả thời VN còn là thuộc địa của Pháp. Một vị thiếu tướng QĐND mới đây phát biểu rằng “Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa” (2).

Vị thế của VN vẫn còn rất thấp. Người VN cầm hộ chiếu VN ra nước ngoài không được chào đón thân thiện như người Nhật, Singapore, Hàn, Thái, Mã Lai, v.v. Hiện nay, VN đứng hạng 81 về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới, tức miễn visa, và thứ hạng này còn thấp hơn cả Lào (hạng 80) và Campuchea (hạng 79).

VN đang ở thế bất lợi trên trường quốc tế và không được cộng đồng quốc tế kính trọng. Ngay cả nước láng giếng nhỏ là Kampuchea đã bắt đầu khinh thường và lên lớp VN! VN còn bị xếp hạng vào nước bủn xỉn nhất nhì trên thế giới, chỉ biết ăn xin mà chẳng giúp ai.

Và, người ta khinh VN ra mặt. Mới đây thôi, một viên chức Nhật Bản đặt câu hỏi trước báo chí VN [mà có thể hiểu nôm na] rằng “các anh còn ăn xin đến bao giờ nữa”? Viên chức này còn lên giọng mắng VN như mắng con: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN”. Bất quá tam. Là người Việt Nam có tự trọng ai cũng cảm thấy nhục trước lời mắng mỏ đó.

Rất khó nói là thời đại huy hoàng khi mà đất nước đã bị mất mát về biển đảo cho giặc Tàu mà ngài xem là “anh em đồng chí”. Ngài cũng không nhắc đến những mất mát trên đất liền cũng cho cái đất nước mà một số người Việt ngọt ngào gọi là “đồng chí”, là “bạn”.

Ngài tổng không nói đến một thực tế rằng chưa có thời đại nào trong lịch sử dân tộc mà hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, và hàng trăm ngàn người chết trên biển cả và rừng sâu trên đường tìm tự do. Đó là chưa nói đến hơn 3 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến huynh đệ mà đến nay vẫn chưa được đặt tên.

Chưa có thời đại nào mà hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam bỏ quê đi làm vợ cho ngoại nhân Hàn, Đài, Tàu như hiện nay. Cũng chưa có thời đại nào mà nhân phẩm của người phụ nữ VN bị rẻ rúng và nhục nhã như hiện nay, được quảng cáo trên báo chí quốc tế như là những món hàng.

Những sự thật trần trụi và gần gũi đó (vẫn chưa đủ) cho thấy chúng ta khó có lí do để tự tuyên bố rằng thời đại HCM là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Vậy thì câu hỏi là thời đại nào đáng tự hào và huy hoàng nhất? Thoạt đầu, tôi nghĩ ngay đến triều đại Nhà Lý, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy triều đại Trần Nhân Tông mới là huy hoàng nhất. Ông là một vị vua anh hùng, vì đánh thắng quân Tàu và bảo vệ đất nước. Ông là một vị vua nhân từ, không trả thù giặc và đối xử đàng hoàng với đối phương trong nước. Ông là người có công chấn hưng Phật giáo và xiển dương văn học. Quan trọng hơn hết, ông là người xây dựng một nước Việt cường thịnh và bảo vệ sự vẹn toàn của tổ quốc. Ông còn nổi tiếng với câu nói “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.” Rất tiếc là ngày nay trong những người cầm quyền có còn mấy ai nhớ đến lời căn dặn của vua Trần Nhân Tông.

____

(1) Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại kỷ niệm sinh nhật Bác (VOV).

(2) “Cưỡi lên đầu nhân dân còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản…!?” (DT).

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Phe thân Thanh Triều thắng thế gây mất nước


Luật sư Nguyễn Xuân Phước từ Texas viết về bài học Triều Nguyễn và xu hướng thân Trung Hoa đưa tới chỗ mất nước và so sánh với tình trạng lệ thuộc tư tưởng ngày nay:



Quan lại phong kiến Việt Nam
Năm 1802 Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long và chọn Phú Xuân làm kinh đô. Đến đời Minh Mạng cố đô Thăng Long đổi thành Hà Nội. Nhưng quá trình thống nhất và sự sai lầm trong việc chọn lựa con đuờng phát triển đất nước ở các triều đại nhà Nguyễn đã đánh mất cơ hội phục hưng tổ quốc, làm tiêu tán nội lực dân tộc, dẫn đưa đất nước đến giai đoạn đánh mất nền độc lập.

Khi Nguyễn Ánh phát động chiến tranh chống lại nhà Tây Sơn, ngài đã dựa vào hai thế lực ở nước ngoài. Ðó là lực lượng của người Tây phương và lực lượng người Trung Hoa.

Đứng đầu lực lượng Tây phương phò Nguyễn Ánh là đức giám mục Bá Ða Lộc. Nguyễn Ánh gặp giám mục Bá Ða Lộc khi ngài bôn tẩu ở Vọng Các, kinh đô của Xiêm La, tức Thái Lan. Từ đó, mối quan hệ của hai nguời trở nên mật thiết. Ðể vận động sự trợ giúp của Pháp quốc, Nguyễn Ánh đã giao hoàng tử Cảnh lúc mới lên bốn cho giám mục Bá Ða Lộc. Đồng thời giám mục có toàn quyền ký hiệp định với hoàng đế Pháp để giúp cho Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. Sau đó ông trở về Pháp để vận động viện trợ cho Nguyễn Ánh. Ngài đã thay mặt Nguyễn Ánh ký hiệp ước 1787 dùng các đảo Côn Sơn và các đảo ngoài khơi Đà Nẳng (là Hoàng Sa) để đổi lấy viện trợ quân sự. Nhưng việc thi hành hiệp ước 1787 với Pháp thất bại.

Sau đó giám mục Bá Ða Lộc đã bỏ tiền túi cũng như vận động tài chánh riêng để mua khí giới và đưa sĩ quan Pháp về huấn luyện cho quân Nguyễn Ánh. Những người Pháp giúp cho Nguyễn Ánh như Sạc Ne (Charner) và Sai Nhô (Chaigneau) đều được tham dự triều chính của vua Gia Long khi ngài lên ngôi.

Chúng ta có thể khẳng định rằng vua Gia Long là vị vua Á Châu đầu tiên biết xử dụng nhân tài Tây Phương để phục vụ cho đất nước.

Hai phe đấu đá
Người đầu tiên chịu ảnh hưởng Tây phương trong triều đình Gia Long là hoàng tử Cảnh. Hoàng tử Cảnh được vua cha Gia Long cho theo đức giám mục Bá Ða Lộc từ lúc ông mới 4 tuổi. Ở tuổi thơ ấu này, hoàng tử Cảnh rất dễ tiếp thu văn hoá và ngôn ngữ Tây phương. Có lẽ hoàng tử Cảnh là vị hoàng tử Á Châu đầu tiên được theo Tây học ở cuối thế kỷ thứ 18. Tuy lịch sử không nói nhiều đến cuộc đời của hoàng tử Cảnh, ngày nay chúng ta có thể suy luận được rằng hoàng tử Cảnh là người tiếp cận văn hoá tây phương rất sớm, thông thạo Pháp ngữ, Latin và có quan hệ rất tốt với Tây phương.

Ngoài ra, cánh quân sự trong triều đình Gia Long là thành phần chịu ảnh hưởng của Tây phương. Họ là những người trực tiếp xử dụng vũ khí của Tây phương. Đứng đầu cánh thân Tây phương này là tả quân Lê Văn Duyệt cùng các tướng lãnh như tiền quân Nguyễn Thành.

Phe thân Trung Hoa là những người Minh Hương đã gia nhập lực lượng của Nguyẽn Ánh để chống Tây Sơn. Người Minh Hương là những người Trung Hoa phục vụ cho nhà Minh xin tỵ nạn chính trị tại Đại Việt khi nhà Thanh diệt nhà Minh. Những người Minh Hương thoạt đầu là những người của tổ chức Thiên Địa Hội có ý chí phản Thanh phục Minh.

Tuy nhiên từ thời Khang Hy trở đi, nhà Thanh đã bắt đầu bị đồng hoá vào Trung Hoa và Khang Hy bắt đầu những chính sách kinh tế, chính trị làm cho Trung Hoa càng ngày càng phồn thịnh và phát huy văn hoá Trung Hoa lên cao độ. Do đó, ý chí phục Minh của những người Minh Hương không còn nữa. Sau hơn 100 năm sống ở Đại Việt, những người Hoa kiều nầy trở thành một bộ phận của dân tộc nhưng họ vẫn có những mối quan hệ chặt chẽ với mẫu quốc Trung Hoa. Tại Việt Nam lúc bấy giờ người Minh Hương trở thành một lực lượng có xu huớng thân Trung Hoa trong triều Gia Long.

Ðứng đầu lực lượng nầy là Trịnh Hoài Ðức, Lê Quang Ðịnh và Ngô Nhơn Tịnh. Ba ngưòi nầy là học trò xuất sắc của một nhà thâm nho gốc Minh Hương là Võ Trường Toản và cả ba được người đương thời gọi là Gia Định Tam Hùng. Cả ba đều tham gia hoạt động phò Nguyễn Ánh từ năm 1788.

Ấn Vàng của Hoàng đế Gia Long
Khi Gia Long lên ngôi, Trịnh Hoài Ðức được bổ nhiệm làm thượng thư bộ lại kiêm bộ hình và phó tổng tài Quốc Sử Quán. Lê Quang Ðịnh được làm Binh Bộ thượng thư, tương đương với bộ trưởng quốc phòng ngày nay. Ngô Nhơn Tịnh sau được thăng Công Bộ thượng thư. Cả ba ông đều dóng những vai trò quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Hoa.

Nhưng vai trò quan trọng nhất của Trịnh Hoài Ðức là được vua Gia Long ủy thác để dạy dỗ cho hoàng tử Ðảm. Hoàng tử Ðảm sau lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng.

Hai xu hướng thân Tây phương và thân Trung Hoa trong triều Gia Long xung đột gay gắt về vấn đề kế vị hoàng tử Cảnh sau khi hoàng tử qua đời. Khi Trịnh Hoài Đức thuyết phục được Gia Long phế dòng trưởng lập dòng thứ, vua Gia Long đã chọn Minh Mạng làm người kế vị. Khi Minh Mạng lên ngôi, dưới ảnh hưởng của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh, Việt Nam đã nghiêng hẳn theo mô hình Nho giáo của Thanh triều (Thanh Nho) để phát triển đất nước.

Sau khi phe thân Trung Hoa tạo được ưu thế trong triều đình thì thanh trừng bắt đầu xuất hiện. Tiền quân Nguyễn Thành, tổng trấn Bắc Thành, đã bị gièm pha đến phải uống thuốc độc tự vẫn thời Gia Long. Sau khi lên ngôi, Minh Mạng (1820-1840) triệt hạ dòng dõi của hoàng tử Cảnh bằng cách xử tử vợ và người con trưởng của hoàng tử Cảnh, giáng ngưòi con thứ làm thường dân.

Đối với Lê Văn Duyệt, Minh Mạng chưa dám làm gì và vẫn cho làm tổng trấn Gia Định Thành. Khi Minh Mạng ban hành lệnh cấm đạo thì Lê Văn Duyệt tại Gia Định vẫn chủ trương thân Tây phương và không thực hiện lệnh cấm đạo. Khi Lê Văn Duyệt qua đời, con nuôi là Lê Văn Khôi nổi dậy chống triều đình với sự giúp đỡ của một số người Tây phương trong đó có một linh mục Công giáo. Khi cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi bị dẹp tan thì Ming Mạng mới kết án Lê Văn Duyệt, tước hết các chức vụ và cho xiềng lăng của ông bằng xích sắt.

Về phương diện ngoại giao, Minh Mạng cho giảm dần quan hệ với Tây phương. Những ngườì Pháp làm việc với Gia Long chán nản bỏ về nước. Với những người Minh Hương thân Trung Hoa cầm nắm vận mạng của triều đình, Minh Mạng đã thi hành một loạt các chính sách ngoại giao đi ngược với đưòng lối của Gia Long. Từ một nền chính trị ngoại giao khai phóng của Gia Long với những quan hệ rộng rãi với các quốc gia trên thế giới, Minh Mạng và các vua kế vị Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883) cùng triều đình thân Trung Hoa đã bắt đầu một nền chính trị cục bộ, thiển cận với chính sách bế môn toả cảng, đoạn tuyệt với Tây phương, ban hành lệnh cấm đạo.

Mê văn chương xao nhãng quân sự
Do ảnh hưởng của Thanh Nho, triều đình nhà Nguyễn từ Minh Mạng trở đi chỉ chú trọng đến văn chương thi phú biền ngẫu, đi theo con đường trọng văn và xao lãng vấn đề quân sự và quốc phòng. Ðây là lý do, sau khi Gia Long băng hà, sức mạnh quân sự của triều Nguyễn suy giảm hẳn. Khi các tướng lãnh thuộc thế hệ Gia Long qua đời, các tướng lãnh thế hệ kế thừa không đủ tài thao lược để thực hiện chính sách quốc phòng hữu hiệu.

Lực lượng quân sự của Trương Minh Giảng không đủ khả năng duy trì guồng máy cai trị ở Nam Vang. Và Trương Minh Giảng đã bị người Miên đánh đuổi về nước dưới triều Thiệu Trị.

Đến thời kỳ Tự Đức, xu hướng thân Trung Hoa hoàn toàn nắm trọn quyền trong triều đình. Sự kiện này được xác định khi triều đình họp nhau bác bỏ bản điều trần canh tân đất nước của Nguyẽn Trường Tộ. Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) là một nho sĩ theo đạo Thiên Chúa. Ông nổi tiếng thông minh và hay chữ, được người đời gọi là Trạng Tộ. Ông cũng thông thạo nhiều ngôn ngữ Tây phương.

Cố Cung ở Bắc Kinh
Ông làm thông ngôn cho các giáo sĩ Thiên Chuá trong việc truyền đạo tại Việt Nam. Sau một thời gian đi chu du thế giới, đặc biệt là Pháp và Ý, ông trở về Việt Nam dành mấy năm trời đem tâm huyết của một người yêu nước viết nhiều bản điều trần cải cách và canh tân đất nước dâng lên Tự Đức. Nhưng triều đình Tự Đức với đầu óc cổ hủ của Thanh Nho không đủ tầm nhìn để hiểu được những thế lớn đang bùng ra trong thiên hạ thời bấy giờ. Sau hoàng tử Cảnh năm mươi năm, Việt Nam đã mất đi cơ hội phát triển một lần nữa khi triều đình nhà Nguyễn quay mặt trưóc những yêu cầu canh tân của Nguyễn Trường Tộ.

Điều bất hạnh hơn cho dân tộc là lúc ấy giáo điều Thanh Nho đã bắt đầu rã mục. Triều đình nhà Thanh đang trên đà phá sản. Năm 1839 chiến tranh nha phiến bùng nổ, nhà Thanh phải ký các hiệp ước biên giới nhượng đất cho Anh và Pháp. Với hiệp ước Nam Kinh, Anh chính thức chiếm đóng Hương Cảng năm 1842. Với hiệp ước Hoàng Phố 1844, Pháp chính thức đặt chân lên lãnh địa Trung Hoa. Ở mạn bắc, năm 1850 quân đội của Nga Hoàng tràn xuống Hắc Long Giang chiếm đóng Mãn Châu, quê hương của nhà Thanh. Từ 1854 đến 1860, Hồng Tú Toàn và phong trào Thái Bình Thiên Quốc đã chiếm gần một nửa Trung Hoa. Cuối cùng, cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 của phong trào cách mạng Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tôn Văn đã lật đổ triều đình phong kiến Mãn Thanh để xây dựng chế độ Cộng Hoà.

Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn vẫn còn như mơ ngủ. Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ năm 1860, tức là 20 năm sau khi nhà Thanh bị liệt cường xâu xé và đang dãy chết, triều đình Tự Đức vẫn còn cho người sang Trung Hoa cầu viện. Những tiếng nói đòi cải cách của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch trở thành nổi trăn trở kéo dài hàng thế kỷ của nhiều thế hệ. Ý hệ Thanh Nho làm triều đình nhà Nguyễn u mê đến nổi không thấy được một thế giới mới đang ra đời với cuộc cách mạng kỹ nghệ đang đẩy xã hội Tây phương lên đỉnh cao của sự phát triển. Và cuộc cách mạng kỹ nghệ đó làm thay đổi cục diện thế giới, cùng lúc làm thay đổi lịch sử nước Việt.

Khi Pháp tấn công Nam Kỳ thì triều đình hoàn toàn không có đủ năng lực quân sự và chiến lược quốc phòng để đối phó. Những võ tướng uy tín trong triều như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản (cũng gốc người Minh Hương) dù thừa khí phách của nho gia nhưng không đủ tài thao lược quân sự để lãnh đạo cuộc chiến tranh chống xâm lược. Khi Pháp chiếm Sài Gòn thì súng ống và đạn dược của quan quân Triều đình có rất nhiều nhưng quân đội ô hợp không có khả năng chống trả quân xâm lăng. Hậu quả tất nhiên là đất nước đã mất vào tay thực dân.

Với Hoà Ước Nhâm Tuất 1862 và hoà ước Patenôtre 1884, công cuộc thống nhất đất nước của Gia Long được coi như cáo chung. Việt Nam bước qua trang sử mới, đó là trang sử nô lệ. Và sau 1000 năm giành được độc lập từ Trung Hoa thời Ngô Quyền, nước Đại Việt lại một lần nữa mất quyền tự chủ.

Cái nhục mất nước, tụt hậu của dân tộc Đại Việt ở thế kỷ 19 phát xuất từ nhiều yếu tố lịch sử khác nhau.

Thế nhưng sự chọn lựa mô hình phát triển đất nước, sự ỷ dốc vào Thanh triều trên mặt trận ngoại giao và văn hoá thời kỳ hậu Gia Long, chính sách giao thương phụ thuộc kinh tế Trung Hoa và sự tin tưởng mù quáng vào giáo điều Thanh Nho bất chấp các bản điều trần yêu cầu canh tân của các sĩ phu tiến bộ, là những yếu tố quyết định đưa đất nước vào giai đoạn nô lệ.

Ngày nay, nếu thay giáo điều Thanh Nho bằng giáo điều Cộng sản, thì tình trạng Việt Nam gần như tương tự.

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Học giả Trung Quốc: Việt Nam muốn không bị đánh, phải "ngoan"?!



(GDVN) - Họ có súng ống, vũ khí tối tân hiện đại thật đấy, nhưng người Việt lại luôn biết "lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo".
Tuần báo Bắc Kinh: Phải buộc Việt Nam lệ thuộc về kinh tế, văn hóa?!Tuần báo Bắc Kinh: Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc?!"Trung Quốc cấm đấu thầu tại Việt Nam, gây áp lực kinh tế"


Tham vọng bành trướng, bá quyền sẽ không còn chỗ đứng trong xã hội văn minh.


Tờ Đông Phương Nhật báo xuất bản tại Hồng Kông ngày 9/6 đăng bài phân tích của Ngưu Bạch Vũ, một chuyên gia về quan hệ chính trị Trung - Mỹ bình luận, giới chức Trung Quốc đang nghiên cứu áp dụng Binh pháp Tôn Tử để đối phó với Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam, trong đó "với Mỹ dùng mưu, với Nhật Bản dùng ngoại giao còn với Việt Nam thì dùng quân sự"?!

Ngưu Bạch Vũ dẫn Binh pháp Tôn Tử: "Thượng binh phạt mưu, kỳ thứ phạt giao, kỳ thứ phạt binh, kỳ hạ công thành" và diễn giải ý nghĩa: Kẻ cầm quân thượng sách là dùng mưu, kế đến sử dụng ngoại giao, thứ nữa dùng binh và cuối cùng (hạ sách) mới là công thành.

Ông Vũ lý luận, sở dĩ Bắc Kinh tính toán tới thủ đoạn "phạt binh" tức dùng vũ lực với Việt Nam là vì "tính đặc thù quan hệ Việt - Trung và tương quan lực lượng 2 bên". Quan hệ Trung - Việt khác với quan hệ Trung - Mỹ ở chỗ, Bắc Kinh và Washington là 2 cường quốc hạt nhân phụ thộc nhau rất lớn về kinh tế, nếu dùng quân sự thì cả hai đều phải trả giá quá đắt.

Quan hệ Trung - Việt cũng khác quan hệ Trung - Nhật ở chỗ, tương quan lực lượng quân sự giữa Tokyo với Bắc Kinh không chênh lệch là bao, nếu Trung Quốc dùng vũ lực với Nhật Bản thì chưa chắc thắng nổi. Quan trọng hơn, sau lưng Nhật bản là Mỹ với một hiệp ước đảm bảo an ninh ràng buộc. Một khi xảy ra xung đột quân sự, Mỹ sẽ nhảy vào. Đó là lý do tại sao tranh chấp lãnh thổ ở Hoa Đông dù rất căng thẳng nhưng chỉ dừng lại ở "phạt giao" chứ rất khó rơi xuống ngưỡng "phạt binh" - dùng vũ lực.

Tuy nhiên, quan hệ Trung - Việt thì "đơn giản hơn nhiều", Ngưu Bạch Vũ nhận định. Thứ nhất, thực lực (kinh tế, quân sự) của Việt Nam kém Trung Quốc, thứ 2 quan trọng hơn là "tranh chấp lãnh thổ Trung - Việt" (thực tế là Trung Quốc xâm lược quần đảo Hoàng Sa, 7 bãi đá ở Trường Sa của Việt Nam và nhảy vào tranh chấp cả vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam - PV) lại không liên quan gì đến Mỹ, Nhật Bản.

Một số học giả, quan chức và giới truyền thông nhà nước Trung Quốc luôn tỏ ra diều hâu, hiếu chiến với láng giềng, lúc nào cũng chỉ thích nói chuyện bằng nắm đấm.


Ngưu Bạch Vũ cho rằng, một khi Trung Quốc dùng vũ lực với Việt Nam thì Bắc Kinh khỏi lo Mỹ sẽ can thiệp quân sự, thậm chí Bắc Kinh còn tự tin hơn khi ây áp lực ngoại giao, kinh tế và quân sự để "chiến thắng Việt Nam"!? Không chỉ có vậy, Trung Quốc còn có thể chuyển hóa mâu thuẫn nội bộ, tăng cường tự tin cho giới chức cầm quyền thông qua cuộc xung đột với Việt Nam. Vì vậy Bạch Vũ cho rằng nguy cơ mâu thuẫn Trung - Việt có thể bùng phát thành xung đột quân sự cục bộ rất cao.

Tàu thuyền của Việt Nam đang thực thi pháp luật, ngăn cản và kêu gọi giàn khoan Trung Quốc 981 cùng "hạm đội" tàu hộ tống rút khỏi vùng biển Việt Nam và đang bị Trung Quốc hành hung, gây hấn, theo Ngưu Bạch Vũ có thể dẫn đến 1 cuộc hải chiến quy mô nhỏ.

Vũ thừa nhận có không ít người cho rằng nếu Trung Quốc dùng vũ lực với Việt Nam sẽ bị lên án ỷ lớn hiếp nhỏ, nhưng kết luận: "Đó là thực tế tàn khốc. Khủng hoảng Ukraine đã cho người Trung Quốc thấy, luật chơi trên sân khấu chính trị quốc tế không hề thay đổi. Một nước nhỏ mà ở cạnh một nước lớn đang giở mình trỗi dậy, nếu không muốn bị đánh thì hãy ngoan ngoãn nằm im, chớ để nước lớn phiền lòng"!? Một quan điểm cực kỳ ngông cuồng, hiếu chiến.

Ngưu Bạch Vũ có lẽ chưa từng học lịch sử của chính dân tộc mình hay vì lý do chính trị phải bẻ cong ngòi bút theo ý đồ của thế lực nào đó. Vũ hãy nhớ rằng, dù rất nhiều lần bị gã hàng xóm lớn xác ức hiếp, nhưng chưa bao giờ người Việt biết khuất phục. Họ có súng ống, vũ khí tối tân hiện đại thật đấy, nhưng người Việt lại luôn biết "lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo" để bao đời nay vẫn vững vàng nền độc lập tự chủ dù ai đó lúc nào cũng rắp tâm bành trướng, đồng hóa, chia rẽ...đối với láng giềng.

Trận Bạch Đằng, Đống Đa, Chi Lăng vẫn còn đó, Ngưu Bạch Vũ và những tay bút tuyên truyền cổ súy quan điểm diều hâu hiếu chiến ở Trung Quốc hãy đọc lại để tránh cho những người dân lương thiện của nước họ phải bỏ mạng vì bị xúi giục hay cưỡng ép tham gia một cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược nước khác.

Và những người như Ngưu Bạch Vũ nên tìm đọc lại câu chuyện của cụ Thám hoa Việt Nam Giang Văn Minh khẳng khái đáp lại vế đối trịch thượng, ngỗ ngược của Sùng Trinh nhà Minh để thấy được ý chí độc lập tự chủ của người Việt muôn đời không thay đổi:


Theo Wikipedia:

Vào thời điểm Thám hoa Giang Văn Minh đi sứ Trung Quốc, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả nhà Hậu Lê và nhà Mạc) với mục đích để cuộc chiến tranh Lê-Mạc kéo dài. Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638.

Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) lấy lý do “Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc.

Đồng thời, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau:

“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”"

Nghĩa là: Đồng trụ đến giờ rêu vẫn mọc.

Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong).

Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại bằng câu:

"Đằng Giang tự cổ huyết do hồng"

Nghĩa là: Bạch Đằng thủa trước máu còn loang.

Vế đối này vừa chỉnh, vừa có ý nhắc lại việc người Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng.

Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem là cái tát thẳng vào mặt hoàng đế nhà Minh trước đông đảo văn võ bá quan và sứ bộ các nước. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận bỏ qua thể diện, bất chấp luật lệ bang giao, đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Nhưng Minh Tư Tông vẫn kính trọng ông còn cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và đưa thi hài ông về nước. Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu ông và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là "Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ").
Hồng Thủy

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

BÁO TÀU CỘNG KÊU GỌI "HẢI CHIẾN" ĐỂ CHIẾM VĨNH VIỄN TOÀN BỘ "QUẦN ĐẢO NAM SA"!



Xin chuyển một bài không thể bỏ qua: “Trung Quốc Binh Khí Đại Toàn” trên báo điện tử Trung Quốc, do Gs Vũ Cao Đàm dịch. Đây là bằng chứng rõ ràng về ý đồ xâm lược, ỷ mạnh hiếp yếu của bọn Hán tộc
Đấy cũng là một bài học để đời cho bọn TS , BN cho Hán cộng phải dứt khoát ném chủ trương “4 tốt, 16 chữ vàng” vào cầu tiêu; hãy quay về với đất nước, dân tộc Việt,đánh đuổi bọn giặc cướp đất, cướp biển đảo và âm mưu thôn tính cả nước ta!

...


QUẦN ĐẢO NAM SA

(Gs Vũ Cao Đàm dịch nguyên bản tiếng Tàu trên báo điện tử Trung Quốc Binh Khí Đại Toàn).

Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được.

Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.

Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.

Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được

Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.

Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.

Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :
1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.
2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.

Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.
Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.

Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.

Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.

Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.

Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.

Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.

Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.c
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.
Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải.

Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết.

Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng.



Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc.



Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.
Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta.



Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh.

Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.
Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”.

Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.

Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”.



Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm

“chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình,

chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipines, Malaysia, Bruney… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc.

Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt.

Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối.

Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ.

Nếu Việt Nam nguyện làm đầu tiên thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa. ./.

(Nguồn: www.thanhnientudo.com )



Việt Anh
Chia Sẻ Cộng Đồng
THANHNIENTUDO.COM

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Thông điệp cho Putin từ Biển Đông


Trung Quốc ngày càng lên gân lên cốt ở châu Á (đặc biệt là Biển Đông), đây là thông điệp cho Tổng thống Putin để hiểu tình hình phía Đông và tìm kiếm...
Thời báo Hoàn Cầu lại xúi Bắc Kinh bắn hạ máy bay Úc nếu vào Trường SaReuters: Việt Nam tìm kiếm nguồn cung chiến đấu cơ phương TâyMỹ cần dùng các đòn bẩy kinh tế ngăn chặn Trung Quốc bành trướng Biển Đông


Tổng thống Nga Vladimir Putin. Ảnh: Politico.


Ngày 4/6 nhà báo Urs Schoettli, biên tập viên tờ nhật báo Thụy Sĩ Neue Zurcher Zeitung bình luận trên trang Mydigitalfc về thông điệp cho Tổng thống Nga Vladimir Putin từ việc Trung Quốc ngày càng chứng minh sức mạnh cơ bắp của họ ở khu vực châu Á. Putin nên cân nhắc tìm kiếm sự ổn định và hợp tác từ biên giới phía Tây của mình thì hơn.

Quan hệ giữa Nga và các nước châu Âu đang ở mức thấp nhất kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, trung tâm của mọi tranh cãi là khủng hoảng Ukraine. Tuy nhiên những phản ứng từ tranh chấp giữa phương Tây và Moscow đang ngày càng lan rộng và sâu hơn. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, vẫn có nhiều hy vọng về một trật tự thế giới mới, trong đó Nga sẽ đóng một vai trò hàng đầu.

Cuộc khủng hoảng tại Ukraine đã khiến các nước công nghiệp G-8 tẩy chay Nga trở thành G-7, người ta có thể xem xét việc loại trừ Nga khỏi G-8 là một hình phạt nhỏ. Tuy nhiên điều quan trọng là cần phác họa một bức tranh toàn diện về địa chính trị toàn cầu để có thể hiểu đầy đủ ý nghĩa sự ghẻ lạnh giữa Nga và các nước láng giềng còn lại ở châu Âu.

Nga chưa bao giờ xem chính mình là một quốc gia châu Âu "thuần chủng" như Pháp, Anh hay Đức. Xét về nền văn hóa, lịch sử, nhân khẩu học và tất nhiên là cả kích thước địa lý thì Nga là một đế chế trải dài trên 2 châu lục Thời Peter Đại đế và Catherine Đại đế, Nga đã xem mình là một thành viên lớn trong các hoạt động chiến tranh và ngoại giao ở châu Âu.

3 lần Nga đã đóng vai trò quyết định trong việc hình thành số phận của châu Âu và duy trì sự đa dạng của nó, bao gồm "các cuộc chiến tranh của Napoleon và 2 cuộc Đại chiến thế giới". Xuất phát từ bối cảnh đó để trả lời các câu hỏi về những tác động lâu dài cũng như ý nghĩa của sự "tha hóa" quan trọng trong quan hệ giữa Nga với châu Âu, cũng như giữa Nga với Mỹ hiện nay.

Những năm gần đây, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã thể hiện mối quan tâm rất lớn đối với việc cải thiện quan hệ giữa Moscow với Bắc Kinh. Đáng chú ý nhất, năm ngoái Trung Quốc và Nga đã ký kết một thỏa thuận cung cấp năng lượng khí đốt tổng trị giá 400 tỉ USD cho Trung Quốc, một thỏa thuận "đồ sộ" nhất trong lịch sử. Trong khi về mặt ngoại giao chính thức có thể vẽ nên 1 bức tranh lạc quan về quan hệ Trung - Nga thì thực tế phức tạp hơn nhiều.

Trước hết cần phải nhớ rằng trong nhiều thập kỷ không có sự cố trên đường biên giới dài giữa Trung Quốc và Nga, nhưng xu hướng nhân khẩu học và sự gia tăng lớn về sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc đã phải đặt ra câu hỏi về tính bền vững của đường biên giới hiện nay sẽ nổi lên. (Kích thước) dân số của Nga đang thu hẹp nhanh chóng và vai trò của Nga ở Đông Nam Á đang yếu hơn (Trung Quốc).



Trung Quốc nhắc dân "khắc cốt ghi tâm" lịch sử mất đất vào tay Nga

Chẳng phải đâu xa, ngay cuối tháng 5 vừa qua, đài truyền hình quốc gia Trung Quốc đã phát sóng giờ vàng một phóng sự nhắc dân "khắc cốt ghi tâm lịch sử đau thương mất đất vào tay Nga", bình luận về Điều ước Ái Huy 1858 ký giữa triều đình Mãn Thanh và Nga Hoàng. Đây là một động thái bất thường trong khi truyền thông hai nước đang tung hô quan hệ song phương "tốt chưa từng thấy". Thậm chí một học giả Trung Quốc cũng phải thốt lên: "Đã có vấn đề gì đó nảy sinh trong quan hệ với Nga", - PV.

Đáng chú ý khi các nước cộng hòa ở Trung Á thuộc Liên Xô cũ trước kia đã được Trung Quốc cung cấp nguồn đầu tư quan trọng và dễ gây biến động khu vực. Dù Nga cũng có mặt trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải nhưng rõ ràng khi nói đến Trung Á, Bắc Kinh đang kêu gọi "các mũi chích ngừa" (với Moscow).

Hiện nay thế giới đang tập trung chú ý, lo ngại trước việc Trung Quốc bành trướng, bồi lấp và xây dựng các đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Biển Đông cũng như việc Bắc Kinh tăng cường sự hiện diện quân sự ở Ấn Độ Dương. Không có gì nghi ngờ về tham vọng của Bắc Kinh để định hình thế kỷ 21 là thời điểm hình thành cục diện 2 cực Trung - Mỹ.

Nga cũng có thể gồng mình thể hiện sức mạnh quân sự, nhưng rõ ràng là sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Moscow đã đánh mất tình trạng sức mạnh siêu cường. Trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc gia, Trung Quốc ngày nay đều vượt qua Nga, dù đó là phát triển kinh tế, tiến bộ công nghệ, các chương trình không gian hoặc các sáng kiến biến đồng tiền của mình thành một ngoại tệ dự trữ toàn cầu.

Trước tất cả các động thái này của Trung Quốc, Putin nên lo lắng cho tương lai an ninh của Nga. Các chính sách đối đầu hiện tại với châu Âu có thể là một sai lầm chiến lược. Moscow không thể đủ khả năng để dàn sức trên cả hai mặt trận cùng một lúc, Đông Nam Á và châu Âu. Trong khi có những tranh cãi về vai trò của NATO và EU trong việc mở rộng ảnh hưởng ủa mình tại châu Âu, cũng rát rõ ràng rằng không có thế lực nào ở châu Âu sẵn sàng hoặc có khả năng đe dọa đến biên giới phía Tây của Nga.



Nước cờ hiểm của Tập Cận Bình trong cuộc duyệt binh tại Moscow

Mang trong tâm trí những tham vọng lâu dài và vừa được tiếp thêm sức lực, sự tự tin của Trung Quốc không thể áp dụng cho biên giới Nga ở phía Đông. Với Trung Quốc ngày càng lên gân lên cốt ở châu Á (đặc biệt là Biển Đông), đây là thông điệp cho Tổng thống Putin để hiểu tình hình phía Đông và tìm kiếm sự ổn định, hợp tác trên biên giới phía Tây của mình.

Theo Anthony Beevor (Antony Beevor), một sử gia chuyên nghiên cứu về các cuộc chiến tranh của thế kỷ XX bình luận trên tờ Inosmi của Nga ngày 5/6: "Chúng ta không thể bỏ qua căng thẳng và nguy cơ xung đột tiềm ẩn ở Biển Đông. Mâu thuẫn nội bộ của Trung Quốc sẽ phát sinh và họ cần mở ra một cuộc xung đột ở bên ngoài nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của dư luận và củng cố thống nhất đoàn kết trong nước."

Cũng xinh nhắc thêm rằng, dư luận đang đặt câu hỏi về ý đồ, quan điểm của Nga đối với vấn đề Biển Đông khi Thứ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Antonov tuyên bố bên lề Đối thoại Shangri-la rằng, Nga sẽ tập trận hải quân ở Biển Đông năm 2016 với Trung Quốc. Đáng lo ngại hơn nữa là Moscow không những không phản đối các hoạt động bành trướng lãnh thổ, bồi lấp xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung Quốc, đe dọa hòa bình ổn định khu vực và luật pháp quốc tế, ngược lại còn cổ súy Bắc Kinh, cùng Bắc Kinh "chống Mỹ can thiệp Biển Đông"?! PV.

"Chúng tôi lo ngại bởi chính sách của Mỹ trong khu vực, đặc biệt là kể từ khi nó ngày càng trở nên tập trung vào ngăn chặn Nga và Trung Quốc", ông Antonov nói. Thứ trưởng Quốc phòng Nga cho rằng, chính sách của Mỹ trong khu vực đang ngày một chống lại Trung Quốc và Nga. Ông cáo buộc: Các tàu khu trục mang tên lửa của Mỹ đã đặt ra một mối đe dọa cho sự ổn định trong khu vực.
Hồng Thủy

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

NGUYỄN TRẦM SÂM – Nga đang cùng Trung Quốc kiềm tỏa Việt Nam



Nguyễn Trần Sâm

02-06-2015


Trong những ngày này, một trong những mối quan hệ “đối tác” quan trọng của Việt Nam – quan hệ Việt-Nga – đang lộ ra như một rào cản lớn cho sự phát triển theo hướng văn minh của dân tộc ta. Đặc biệt khi VN đang có ít nhiều cơ may thoát khỏi sự lệ thuộc tệ hại vào Tàu Cộng do chính thái độ ngang ngược của phía Tàu Cộng mang lại, những động thái của chính quyền Putin trong mối quan hệ tay ba Nga-Trung-Việt đang làm suy giảm đáng kể những cơ may đó.

Ta hãy xem lại mối quan hệ tay ba đó để thấy rõ nguy cơ này.

Như chúng ta đều biết, mối quan hệ Việt-Nga hiện nay trong chừng mực đáng kể là sự kế thừa mối quan hệ Việt-Xô trước đây. Thực ra thì nó gần như đã bị cắt đứt khi Liên Bang Soviet tan rã và Boris Yeltsin trở thành tổng thống LB Nga. Vì quá nhiệt thành ủng hộ cuộc lật đổ Mikhail Gorbachëv do nhóm của Yanayev tiến hành ngày 19 tháng 8 năm 1991, chính quyền VN đã bị lỡ trớn trong quan hệ với chính quyền của Boris Yeltsin. Mặt khác, do thái độ dứt khoát của Yeltsin trong việc từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, chính quyền VN thực sự e ngại việc đặt quan hệ với nhân vật này.

Vào ngày cuối cùng của năm 1999, Putin đã gặt hái thành công trong việc ép được Yeltsin nhường ngôi cho mình. Chính quyền VN đã lợi dụng cơ hội này để tìm cách làm thân với ông chủ mới của Kreml. Do phía VN hết lời ca ngợi công đức của nước Nga trước đây và ca ngợi tài cao đức trọng của Vladimir Putin, đồng thời do chính nhân vật này không bài cộng như ông chủ cũ, chính quyền VN đã thành công trong việc tái lập quan hệ Việt-Nga. Mối quan hệ này càng trở nên nồng ấm hơn, khi Putin phát hiện ra mối lợi lớn thu được từ nó – đó là lợi lộc của việc cùng khai thác dầu khí ở biển Đông. (Con số gần 1 tỉ USD phần lợi nhuận của phía Nga tuy không lớn đối với GDP của một quốc gia 140 triệu dân, nhưng khi nó là thu nhập đem về từ nước ngoài thì đó là một món rất béo bở đối với một nhóm quyền lực gần như không có đối lập.)

Từ đó đến nay, mối quan hệ Việt-Nga không ngừng nảy nở (đặc biệt vì trong số quan chức cao cấp VN có nhiều vị từng kiếm bằng cấp ở Nga, và vị thế của những vị này phụ thuộc khá nhiều vào mối quan hệ đó). Một trong những dấu mốc của nó là việc ký kết nâng mức quan hệ lên tầm “đối tác chiến lược toàn diện”.

Thực ra, trong thâm tâm, mặc dù coi mối quan hệ với ông anh Tàu cùng chế độ là quan trọng số 1, chính quyền VN đôi khi vẫn gặp những điều khó chịu do ông anh tham lam và tàn độc này gây ra. Vì vậy, họ vẫn phải tìm kiếm những mối quan hệ với các nước lớn khác để nhờ cậy và mong được những nước khác này bênh vực để khỏi bị ông anh hoang dã ăn hiếp quá đáng. Trong những nước lớn đó, Mỹ cũng là lực lượng mà chính quyền VN không thể không để ý tới, nhưng đối vợi họ thì Nga vẫn là địa chỉ có độ tin cậy cao nhất.

Ngoài những lợi lộc về kinh tế, người Nga cũng cần lôi kéo VN (và các nước khác) để tăng thêm thanh thế, do chính quyền Nga từ xưa đến nay chưa bao giờ từ bỏ giấc mộng muốn làm anh chị thiên hạ. Về mặt quân sự, việc VN vẫn để cho Nga sử dụng một phần cảng Cam Ranh tạo cho Nga một lợi thế trong việc tham gia thao túng tình hình biển Đông và phần tây-nam Thái Bình Dương.

Mối quan hệ Nga-Trung thì phức tạp hơn nhiều. Ngay từ khi còn là “đồng chí”, người Nga và người Tàu đã từng choảng nhau, một phần vì tham vọng lãnh thổ, nhưng phần chính là vì tranh quyền thao túng phong trào cộng sản quốc tế. Mặc dù cùng coi Mỹ vừa đối thủ cạnh tranh quyền lực, vừa là “kẻ thù tư tưởng”, TQ từng bắt tay với Mỹ để hại Nga, và Nga cũng từng ngoắc tay với Mỹ để cô lập Tàu. Nhưng hiện tại, Mỹ đang như vật ngáng đường đối với cả Nga và TQ, và do đó Nga và Tàu buộc phải liên kết với nhau để chống Mỹ. Mâu thuẫn giữa một bên là Mỹ và phương Tây, bên kia là Nga và Tàu, không chỉ là vấn đề cạnh tranh quyền chi phối thế giới, mà còn vì sự tồn tại của phương Tây tạo động lực cho sự hình thành các lực lượng chống chế độ độc tài.

Hiện tại, Putin đang coi TQ như đối tác quan trọng nhất. Vì tầm quan trọng của mối quan hệ với Bắc Kinh, Putin đã hoàn toàn im lặng khi TQ gây hấn ở biển Đông vào năm ngoái. Hơn thế, ngay trong thời gian đó, Putin còn cho quân tập trận chung với quân Tàu. Việc làm này giống như cái tát vào mặt chính quyền VN. Tất nhiên, khi gặp riêng quan chức hàng đầu của VN, Putin lại tìm cách vuốt ve và trấn an họ theo cách nào đó, và họ cũng phải bằng lòng. (Hơn nữa, việc gây hấn thì những kẻ phải chịu là dân đen chứ đâu phải mấy vị ngồi phòng lạnh, nên việc chịu đựng đối với các vị ấy cũng đâu phải quá khó!)

Một động thái mang tính bề nổi nhưng thể hiện rất rõ sự trọng thị đặc biệt đối với TQ là việc Putin sắp xếp cho Tập Cận Bình và vợ ngồi ngay cạnh mình và liên tục chuyện trò ra chiều tâm đắc trong ngày lễ kỷ niệm 70 chiến thắng phát-xít vào ngày 9 tháng 5 vừa qua tại Moskva.

Một việc cần được cắt nghĩa rõ ràng là việc Nga bán vũ khí cho VN, trong đó có máy bay chiến đấu và tàu ngầm khá hiện đại. Tất nhiên, trong việc này, Nga cũng có ý ngầm nhắn nhủ TQ đừng có ý chơi xỏ Nga, đồng thời cũng còn là vì vấn đề lợi nhuận: đã sản xuất thì phải bán lấy tiền đút túi.

Thái độ bênh Tàu trước Mỹ còn thể hiện rõ hơn trong bài diễn văn của thứ trưởng quốc phòng Nga Anatoly Antonov tại diễn đàn Shangri-la. Trong diễn văn, sau nhiều đoạn dài chỉ trích Hoa Kỳ, ông ta nói: “Trong bối cảnh như vậy, chúng tôi đặc biệt quan ngại về chính sách của Hoa Kỳ trong khu vực này (biển Đông), nhất là vì nó ngày càng hướng vào việc kiềm tỏa Nga và Trung Quốc.” Ông ta chỉ trích Mỹ “gây sức ép với VN” đòi Nga rời bỏ căn cứ tiếp liệu cho tàu và máy bay ở Cam Ranh. Ông ta cũng tuyên bố về việc sắp tới quân Nga sẽ tập trận tại biển Đông, cùng với TQ và vài quốc gia khác. (Xemstructure.mil.ru/structure/forces/type.)

Rõ ràng, Antonov kịch liệt chống lại sự can dự của Hoa Kỳ vào tình hình biển Đông. Việc này có nghĩa là TQ cùng với Nga phải là những lực lượng chính làm chủ vùng này. Và VN cần phải ngầm hiểu rằng việc muốn có một lực lượng như Hoa Kỳ tham gia kiểm soát tình hình biển Đông là sai trái.

Rõ ràng, người Nga đang dùng ảnh hưởng của mình đối với VN để bao vây VN, hạn chế quan hệ của VN với Mỹ và phương Tây nói chung. Và trong sự phối hợp hành động với TQ, người Nga rất dễ thực hiện được ý đồ này.

Một bối cảnh không sáng sủa đang hiện dần ra trước mắt chúng ta.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

KHI THIÊN TRIỀU SỤP ĐỔ VÀ LỊCH SỬ SANG TRANG



Kính chuyển :

*Xin cám ơn tác giả Nguyễn Gia Kiểng.

*Đây quả là một bài viết thật có giá trị với những phân tích và nhận xét của ông quả thật là quá chính xác. Điều mà không ít người trong chúng có thể nhận ra: Đảng CS Hànội thì cố ôm chặt lấy Tàu, không muốn buông Tàu ra để ngã theo Mỹ. Nhưng ngược lại, phía Tàu thì ngược lại, bây giờ họ lại muốn phủi tay, không còn ham muốn chiếm lấy VN nữa!

*Đó quả là một điều bất ngờ! Và điều đó cũng có thể giải thích lý do nào Hànội loay hoay như gà mắc đẻ, chạy đông chạy tây…

GÓP GIÓ 28-4-2015


KHI THIÊN TRIỀU SỤP ĐỔ VÀ LỊCH SỬ SANG TRANG



*Nguyễn Gia Kiểng

“…Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết, Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn…” 

Khi nhận định về Trung Quốc các chuyên gia thường quên hai điều rất cơ bản. Một là Trung Quốc là một thế giới hay một đế quốc – hay một thiên hạ theo cách nói của người Trung Quốc- chứ không phải là một nước, do đó không thể lý luận và dự đoán về nó như người ta thường làm với một quốc gia. Hai là Trung Quốc vốn sẵn có một văn hóa nghi lễ lấy hình thức để tạo ấn tượng về nội dung, có khi để che giấu nội dung. Văn hóa này đã được tăng lên nhiều lần dưới chủ nghĩa cộng sản mà một đặc tính nền tảng là che đậy sự thực.

Cho đến nay thực trạng Trung Quốc đã được che đậy dưới lớp vải điều hào nhoáng của một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục khiến nhiều người quên rằng kinh tế không phải là vấn đề nghiêm trọng nhất của Trung Quốc.

Kinh tế Trung Quốc hết thuốc chữa

Hãy nói ngay về lớp vải điều đó. Trong gần ba thập niên Trung Quốc đã gây kinh ngạc cho thế giới vì tỷ lệ tăng trưởng liên tục trên 10%. Tỷ lệ này được hạ xuống 8%, rồi 7% trong những năm gần đây. Các con số chính thức của Trung Quốc dĩ nhiên là không chính xác nhưng điều có thể thấy được là hàng hóa Trung Quốc đã tràn ngập các thị trường thế giới, các công trình xây dựng hoành tráng và các cao ốc đồ sộ mọc lên khắp nơi, tư bản Trung Quốc đầu tư vào mọi quốc gia, từ Châu Phi đến Châu Âu, Châu Mỹ qua Việt Nam, Lào và Campuchia. Ảnh hưởng Trung Quốc tỏa rộng. Có những dự đoán theo đó Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ trong một tương lai gần.

Nhưng rồi bắt đầu có những ngờ vực. Năm 2001 có cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc) gây được tiếng vang lớn. Bạn bè đã tóm lược cho tôi cuốn sách này ; nó sai vì phạm một trong hai sai lầm cơ bản đã được nói ở đầu bài này nghĩa là lý luận về Trung Quốc như một quốc gia. Dần dần quan điểm của các quan sát viên về Trung Quốc thay đổi hẳn. Mới đầu người ta tự hỏi liệu Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng không ? Rồi Trung Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng lúc nào ? Và bây giờ câu hỏi đặt ra là Trung Quốc sẽ còn che đậy được tình trạng suy thoái bao lâu nữa và lúc đó tương lai Trung Quốc sẽ ra sao ?

Tất cả những đèn báo động đều đã đỏ rực. Nợ công của Trung Quốc được ước lượng bởi mọi định chế thẩm định (rating agencies) là ở mức 300% GDP, nghĩa là cao một cách nghiêm trọng. Nhưng con số này có thể chỉ là một phần của sự thực bởi vì không bao gồm những khoản nợ không chính thức hoặc không hợp pháp đầy rẫy trong xã hội Trung Quốc. Thí dụ như tình trạng tuyệt đại đa số các công ty nhà nước lớn mượn tiền của ngân hàng trung ương với lãi suất ưu đãi rồi cho các công ty nhỏ hoặc tư nhân vay lại với lãi suất cao, hay phần lớn các chính quyền địa phương không khai đúng số nợ.

Kinh tế Trung Quốc dựa trên xuất khẩu nhưng xuất khẩu đã giảm hẳn từ sau cuộc khủng hoảng 2008. Trong năm 2014 vừa qua, ngoại thương Trung Quốc đã sụt 11% (xuất khẩu giảm 3,3%, nhập khẩu giảm 22%), dầu vậy tỷ lệ tăng trưởng chính thức vẫn là 7,3%. Nhưng làm sao một nền kinh tế đặt nền tảng trên xuất khẩu lại có thể tăng trưởng 7,3 % trong khi ngoại thương suy sụp ?

Công ty tham vấn Lombard Street Research của Anh, vẫn sử dụng những dữ kiện của chính quyền Trung Quốc nhưng tính lại một cách nghiêm chỉnh hơn, cho biết tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc năm 2014 chỉ là 1,7%. Tuy vậy ngay cả tỷ lệ tăng trưởng khiêm tốn này cũng không thể có vì dựa trên những số liệu sai, thí dụ như các công ty sản xuất rồi bỏ vào kho vì không bán được hàng nhưng vẫn kể vào sản xuất, và khi sản phẩm đã hư hỏng cũng không khai v.v.

Một chỉ số đo lường lòng tin vào một nền kinh tế là chỉ số chứng khoán. Cuối năm 2007 chỉ số chứng khoán SSE của Trung Quốc lên tới cao điểm 6.000. Sau đó là cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 làm tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đều suy sụp. Ngày nay hầu như tất cả các chỉ số chứng khoán đều đã phục hồi được mức độ của năm 2007, các chỉ số của Mỹ, Đức và Nhật còn vượt xa mức 2007, nhưng chỉ số SSE của Trung Quốc vẫn chỉ quanh quẩn ở con số 4.000.

Lòng tin vào tương lai của kinh tế Trung Quốc còn thể hiện qua một con số khác. Kết quả của một cuộc thăm dò của Hurun Research Institute (Thượng Hải) và vừa được học giả David Shambaugh nhắc lại trên Wall Street Journal cho thấy 64% các đại gia Trung Quốc đã hoặc đang chuẩn bị di chuyển ra nước ngoài. Tư bản Trung Quốc đang tháo chạy. Một hiện tượng khác mà Shambaugh cho biết là chính quyền Mỹ đang theo dõi sự kiện rất nhiều phụ nữ Trung Quốc giầu có sang Mỹ sinh đẻ để con có quốc tịch Mỹ. Nếu tương lai Trung Quốc tươi sáng tại sao những người được ưu đãi nhất lại bỏ đi ?

Trong mọi tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài các doanh nhân Trung Quốc không còn giấu giếm nữa. Họ nói thẳng là họ đang sản xuất với mức lời rất thấp hoặc lỗ nhưng vẫn phải sản xuất theo kế hoạch.

Nhưng kế hoạch nào ? Từ năm 2008 trong khi mọi quốc gia cố gắng vùng vẫy để ra khỏi cuộc khủng hoảng thì Trung Quốc đã có một chọn lựa khác hẳn. Đó là coi như không có khủng hoảng và bơm tiền ồ ạt vào sinh hoạt kinh tế, đẩy mạnh chi phí công cộng và ngành xây dựng để giữ nguyên mức độ tăng trưởng, với hậu quả là số nợ công tăng gấp bốn lần, các kho hàng của các công ty đầy ứ và rất nhiều thành phố ma xuất hiện tại rất nhiều nơi. Khủng hoảng càng che giấu lâu bao nhiêu thì càng trầm trọng thêm bấy nhiêu và bây giờ nó không còn giải pháp.

Năm 2013 khi mới lên cầm quyền, Tập Cận Bình ra lệnh giới hạn khối lượng tiền tệ bằng cách tăng lãi suất và kiểm soát tín dụng. Ông đã phải nhanh chóng từ bỏ biện pháp này -đúng trên nguyên tắc- trước nguy cơ sụp đổ tức khắc ; không những thế, chính quyền Bắc Kinh còn phải bơm tiền nhiều hơn nữa cho các ngân hàng và công ty. Sự kiện này chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không có thuốc chữa, sự sụp đổ chỉ còn là một vấn đề thời gian. Thời gian đó có thể rất gần vì ngay cả biện pháp bơm tiền cũng không còn hiệu quả nhất thời của nó nữa. Năm 2013 nhiều công ty muốn vay tiền mà không được, hiện nay đại đa số các công ty từ chối vay vì không biết dùng tiền để làm gì.

Một sự kiện khác cũng chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không cứu vãn được. Giải pháp tự nhiên khi mô hình hướng ngoại không còn theo đuổi được nữa là tăng cường thị trường nội địa. Đó là điều Trung Quốc đã làm nhưng đã chỉ khiến kinh tế Trung Quốc nguy ngập hơn. Từ năm 2010, Trung Quốc đã liên tục tăng lương công nhân 10% mỗi năm với hy vọng là họ sẽ mua sắm nhiều hơn, nhưng mức tiêu thụ nội địa không hề gia tăng vì người công nhân Trung Quốc chỉ dùng khoản lợi tức mới có để tiết kiệm, phòng hờ khi đau ốm. Tuy vậy biện pháp tăng lương công nhân này đã có tác dụng làm tăng giá thành và khiến hàng hóa Trung Quốc khó bán trên các thị trường thế giới. Sự sút giảm của xuất khẩu cũng do nguyên nhân này. Trung Quốc hiện đã mất gần hết các thị trường tại Châu Âu.

Chừng nào kinh tế Trung Quốc sẽ thực sự sụp đổ ? Câu trả lời là : khi chính quyền Bắc Kinh thú nhận. Nhưng họ có sẽ thú nhận không ? Hiện nay niềm tin rằng kinh tế Trung Quốc “có sụp cũng còn lâu” chủ yếu là ở chỗ Trung Quốc vẫn còn khoảng 2.000 tỷ USD công khố phiếu của Mỹ và 1.000 tỷ Euros công khố phiếu Châu Âu. Mặc dù số tiền này chẳng là bao so với số nợ công của Trung Quốc -ít nhất 30.000 tỷ USD- nhưng nó đem lại ảo tưởng là Trung Quốc vẫn còn giầu có vì vẫn còn tiền cho Mỹ và Châu Âu vay. Bắc Kinh sẽ không đụng tới những số tiền này. Có nhiều triển vọng là họ sẽ tiếp tục như hiện nay cho đến khi thực trạng suy sụp trở thành hiển nhiên đối với mọi người.

Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt

Nhưng kinh tế suy thoái không phải mối nguy lớn nhất của Trung Quốc. Mối nguy lớn nhất là môi trường. Không khí tại các tỉnh phía Bắc ô nhiễm tới mức không còn thở được nữa ; nước vừa rất thiếu vừa nhiễm độc.

Một nghiên cứu phối hợp của bốn trường đại học MIT (Mỹ), Avraham Ebeinstein (Do Thái), Bắc Kinh (Trung Quốc) và Thanh Hoa (Trung Quốc) công bố tháng 7-2013 tiết lộ một sự kiện kinh khủng : tuổi thọ trung bình của khối 500 triệu người dân các tỉnh phía Bắc đã giảm 5 năm rưỡi trong thập niên 1990 chủ yếu vì môi trường ô nhiễm. Mùa hè 2007 trên chuyến bay từ Tây An tới Côn Minh tôi đọc trên báo China Daily, tờ báo tiếng Anh của chính quyền Trung Quốc, một nghiên cứu theo đó gần một nửa số sông của Trung Quốc đã hết nước.

Tháng 3/2013, một nghiên cứu công phu -từ năm 2010 đến năm 2012- của Bộ Thủy Nguồn và Viện Quốc Gia Thống Kê của chính quyền Bắc Kinh đưa ra những con số chính xác một cách đáng sợ : Trung Quốc chỉ còn 22.909 con sông, trên 28.000 con sông đã biến mất. Mỗi con sông còn lại phải đem nước cho một diện tích khoảng 100 km vuông. Như vậy có nghĩa là từ 2007 đến 2012 tình trạng thiếu nước đã xấu đi nhiều thay vì được cải thiện. Nghiên cứu này cũng cho thấy có 400 thành phố hiện chỉ dùng nước bơm từ lòng đất lên. Kết luận của nghiên cứu này là thay vì gia tăng cung cấp nước từ nay chính sách quốc gia phải chuyển sang khuyến khích dân chúng tiết kiệm nước.

Tình trạng xuống cấp nguy ngập của môi trường chỉ một phần rất nhỏ do thiên nhiên, phần rất lớn là do chính sách tăng trưởng kinh tế hoang dại bất chấp môi trường. Cần lưu ý là bảo vệ thiên nhiên không phải là ưu tư của văn hóa Trung Hoa và Việt Nam truyền thống, trái lại người ta ca tụng những anh hùng có chí lớn “sẻ núi lấp sông”. Nó cũng hoàn toàn vắng mặt trong chủ nghĩa cộng sản.

Vài năm trước tôi đọc một bài phóng sự trên báo Le Monde nói về một con sông có cái tên ngộ nghĩnh là Nộ Giang, nghĩa là dòng sông giận dữ, chảy từ Trung Quốc sang Myanmar. Lý do khiến người ta đặt tên như vậy là vì nước sông chảy rất mạnh. Nhưng ngày nay con sông này còn có một lý do chính đáng khác để nổi giận : nó trở thành nơi đổ rác chính thức của các thị xã chung quanh. Chính quyền địa phương xây rất nhiều bệ bê tông để các xe rác của các thị xã có thể đổ rác xuống sông một cách an toàn. Mỗi ngày hàng trăm tấn rác đủ loại được dòng nước cuốn sang Myanmar và trở thành một vấn đề của Myanmar.


Một xe đổ rác của sở rác thị xã đang đổ rác suống sông Nộ Giang
Năm 2007 tại Bắc Kinh tôi không nhìn thấy mặt trời dù biết nó ở ngay trên đầu mình vì đang giữa trưa và trời rất nóng. Không khí đục ngầu vì khói từ các nhà máy không xử lý khí thải. Tôi hỏi anh hướng dẫn viên từ bao lâu rồi anh không còn nhìn thấy mặt trời nữa. Anh ta không nhớ.


Bầu trời Hoa Bắc
Năm 2000 lượng nước trung bình của mỗi người Trung Quốc chỉ bằng 15% mức trung bình thế giới. Bây giờ tình trạng còn bi đát hơn nhiều. Tại các tỉnh phía Tây trước đây phải đào sâu xuống 30m mới tìm được nguồn nước, bây giờ phải đào xuống 100m, mặt đất cứng như bê tông. Đó là hậu quả của việc trồng bông để xuất khẩu quần jean. Một đất nước trước hết là đất và nước, khi đất đã cằn cỗi, không khí và nước đã ô nhiễm đến nỗi không thở được và uống được thì cũng chẳng còn gì để nói. Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt. Đó là lý do chính khiến rất nhiều người muốn rời Trung Quốc bằng mọi giá. Họ sợ chết.

Một chế độ tuyệt vọng


Mối nguy nghiêm trọng thứ hai, cũng nghiêm trọng hơn hẳn sự suy thoái của kinh tế, là bế tắc chính trị. Các quan sát viên theo dõi tình hình Trung Quốc đều đồng ý rằng đàng sau chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình là cố gắng tập trung quyền hành về trung ương và về tay ông.

Tham nhũng chỉ là lý cớ. Chính Tập Cận Bình cũng tham nhũng, nếu không làm sao ông có thể có một tài sản trị giá trên 200 triệu USD ? Không khác gì thủ tướng Ôn Gia Bảo trước đây tỏ ra rất quan tâm đến dân nghèo để rồi người ta phát giác ra rằng ông có hơn 2 tỷ USD. Các phe đảng của Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang chắc chắn không khoanh tay chờ bị thanh toán. Chủ nghĩa Mác-Lenin đã bị lố bịch hóa và không thể là xi măng gắn bó 85 triệu đảng viên cộng sản với nhau nữa, chỉ còn lại sự tranh giành quyền lực và quyền lợi.

Các tỉnh cũng không thể chịu đựng mãi ách thống trị của trục Bắc Kinh – Thượng Hải và sự chênh lệch giữa các vùng. Chưa kể là với sự sút giảm bi thảm của nguồn nước một cuộc chiến tranh giành nước tương tự như ở Trung Đông có thể diễn ra ; trên thực tế đã có xung đột giữa các tỉnh, thậm chí giữa các huyện trong cùng một tỉnh, để tranh giành những con sông vừa cạn vừa ô nhiễm.

Cần nhắc lại để nhấn mạnh rằng, Trung Quốc là một thiên hạ chứ không phải là một nước, lòng yêu nước đối với một người Trung Quốc chủ yếu là một tình cảm địa phương. Không cứ gì các sắc dân thiểu số, tuy cùng được gọi là người Hán nhưng một người Hán ở Côn Minh hoàn toàn không nhìn những người Hán ở Bắc Kinh hoặc Thượng Hải như những đồng bào. Quan hệ giữa các tỉnh Trung Quốc còn lỏng lẻo hơn nhiều so với quan hệ giữa các nước Châu Âu, đôi khi còn mang những thù hận chưa được hóa giải của quá khứ.

Trong suốt dòng lịch sử dài của nó, sự thống nhất của Trung Quốc đã chỉ được duy trì bằng bạo lực và tàn sát. Thí dụ như giữa thế kỷ 19 để dẹp cuộc khởi nghĩa ly khai của Hồng Tú Toàn nhà Thanh đã tàn sát 70% dân chúng các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và 90% dân chúng tỉnh Quý Châu. Tinh thần dân tộc của người Trung Quốc hầu như không có. Chính vì thế mà các nước rất nhỏ bé và chậm tiến như Mông Cổ và Mãn Châu đã có thể thiết lập những ách thống trị lâu dài. Các triều đại Nguyên, Thanh sau cùng đã cáo chung vì tham nhũng và lỗi thời chứ không phải vì là những ách thống trị ngoại bang.

Bế tắc chính trị của chế độ cộng sản Trung Quốc cũng đã chứng tỏ không có lối thoát. Khi mới lên cầm quyền Hồ Cẩm Đào đã muốn nới lỏng dần dần những quyền con người cơ bản với hy vọng chuyển hóa dần dần về dân chủ trong trật tự nhưng trong những năm cuối, nhất là từ năm 2011 trở đi, ông đã phải đảo ngược chính sách và gia tăng đàn áp. Năm 2013 Tập Cận Bình lên cầm quyền với một chủ trương rõ rệt : từ chối cải tổ chính trị, tăng cường độc quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc và thanh trừng mọi khuynh hướng ly tâm trong đảng. Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết nhưng ít ra cũng đã tránh cho Liên Xô một sự sụp đổ trong hỗn loạn. Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn.

Nhưng việc phải làm đó là gì ? Đó chính là sự chuyển hóa bắt buộc về dân chủ. Các tiến bộ về giao thông và truyền thông đã thay đổi hẳn thế giới, kể cả Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế trong ba thập niên qua cũng đã cho người Trung Quốc thêm sức mạnh. Họ đã hiểu rằng con người phải có những quyền căn bản, họ muốn và ngày càng có thêm khả năng để đòi hỏi những quyền đó.

Nhưng vấn đề là Trung Quốc không thể tồn tại với lãnh thổ và dân số hiện nay dưới một chế độ dân chủ vì các vùng của Trung Quốc quá khác nhau và cũng không muốn chia sẻ một tương lai chung. Vấn đề cũng là chủ nghĩa cộng sản, chất keo gắn bó các vùng với nhau, đã trở thành ghê tởm. Trên trang Webhttp://www.ninecommentaries.com do phong trào Thoái Đảng thiết lập từ tháng 11/2014 hàng ngày trên 50.000 người tuyên bố ly khai với Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Số người ly khai hiện đã lên quá 200 triệu.

Lịch sử Trung Quốc nói chung là sự lặp lại của cùng một kịch bản, một kịch bản chưa thay đổi vì thể chế chính trị vẫn còn là một thể chế tập trung chuyên chính. Kịch bản đó như sau : một chính quyền được dựng lên trong hoàn cảnh xã hội tan hoang và kiệt quệ ; chính quyền thành công trong những năm đầu và xã hội dần dần hồi sinh ; xã hội càng hồi sinh thì nhu cầu kiểm soát càng lớn và chính quyền càng cần tăng cường bộ máy cai trị ; bộ máy quan liêu vì thế tiếp tục phình ra và sau cùng trở thành mạnh hơn quyền lực chính trị ; kết quả là quyền lực chính trị suy yếu dần và tích lũy mâu thuẫn, cuối cùng bị một lực lượng khác đánh đổ sau một cuộc xung đột làm xã hội suy kiệt ; và kịch bản bắt đầu lại từ số không. Kịch bản này hiện đã tới màn cuối dưới chế độ cộng sản. Tập Cận Bình đang cố xiết lại để ngăn ngừa sự xuất hiện của một lực lượng mới.

Khi Nguyễn Tấn Dũng lặp đi lặp lại là “nhất quyết không để nhem nhúm những tổ chức đối lập”, ông ta chỉ nhắc lại một ám ảnh của quan thầy Bắc Kinh.

Phải lo ngại cái gì ?

Chế độ cộng sản Trung Quốc còn trụ được bao lâu nữa ?
Như đã nói ở đầu bài này, đừng nên quên rằng Trung Quốc không phải là một quốc gia mà là một thế giới, một thiên hạ hay một đế quốc tùy cách nhìn, do đó sự thay đổi chế độ sẽ không nhanh chóng như trong một quốc gia mà sẽ diễn ra một cách tương tự như sự tàn lụi của một đế quốc. Các giai đoạn cuối trào của các đế quốc nói chung và của Trung Quốc nói riêng thường kéo dài khá lâu. Tuy nhiên chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi dồn dập. Các diễn biến có thể nhanh hơn rất nhiều.

Càng nhanh hơn vì một lý do khác. Chế độ cộng sản Trung Quốc tồn tại từ sau cuộc thảm sát Thiên An Môn dựa trên hai hợp đồng bất thành văn miễn cưỡng.

Hợp đồng thứ nhất là nhân dân chịu đựng chế độ toàn trị, và cả sự tàn phá của môi trường, với điều kiện là Đảng Cộng Sản duy trì được một mức tăng trưởng kinh tế cao. Ôn Gia Bảo tỏ ra đã hiểu thỏa hiệp này khi ông nói rằng nếu mức tăng trưởng xuống dưới 8% thì sẽ có bạo loạn. Hợp đồng này ngày nay đã chấm dứt vì kinh tế suy thoái.

Hợp đồng thứ hai là quần chúng Trung Quốc chịu đựng bất công xã hội để cho một thiểu số làm giầu với thỏa hiệp ngầm là như thế họ sẽ có thêm vốn để gia tăng đầu tư thúc đẩy kinh tế. Hợp đồng này đã bị phản bội khi những người giầu có bỏ ra nước ngoài mang theo tài sản. Sự phẫn nộ có thể bùng nổ rất dữ dội.

Có cần lo sợ sự sụp đổ của chế độ cộng sản và sự tan vỡ gần như chắc chắn của Trung Quốc không ? Mối nguy thường được nói tới là chính quyền Bắc Kinh có thể gây hấn với bên ngoài để kêu gọi đoàn kết dân tộc và làm dịu những mâu thuẫn bên trong. Nhiều người đang lo âu trước việc Trung Quốc xây những phi trường trên những đảo nhân tạo tại Biển Đông. Nhưng sự lo ngại này không cần có. Nó là do cách nhìn Trung Quốc như một quốc gia thay vì một đế quốc.

Thực tế cho thấy các đế quốc chỉ gây hấn trong những giai đoạn cường thịnh, trái lại rất nhu nhược đối với bên ngoài trong những giai đoạn cuối trào, để dồn sức đương đầu với những khó khăn bên trong. Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Trong những lúc suy vi, các hoàng đế Trung Quốc không những không xâm chiếm các biên quốc mà còn phải cống hiến những quý phi, có khi cả những công chúa, cho các vua các nước nhỏ chung quanh để cầu an. Chuyện Chiêu Quân cống Hồ chỉ là một trong rất nhiều thí dụ. Việt Nam và thế giới sẽ không phải lo ngại một sự gây hấn nào.

Cũng không cần lo ngại cho người Trung Quốc. Trung Quốc có phân chia thành bốn hay năm nước thì đó cũng vẫn là những nước lớn bậc nhất thế giới, nhưng đồng điệu hơn và hợp lý hơn Trung Quốc hiện nay. Điều mà chúng ta có thể chúc cho người Trung Quốc là những thay đổi cần thiết sẽ diễn ra trong hòa bình.

Thiên triều sụp đổ

Câu hỏi bao giờ chế độ cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ không đặt ra, hoặc đặt ra một cách rất khác, đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Đối với một chư hầu, một đế quốc coi như đã sụp đổ khi không còn là một chỗ dựa nữa.

Đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam, chế độ cộng sản Trung Quốc coi như đã sụp đổ. Nó đang quá bối rối với những khó khăn nội bộ để có thể hỗ trợ cho chế độ cộng sản Việt Nam. Bắc Kinh lo cho mình cũng chưa xong còn mong gì giúp được ai. Họ sẽ phải buông Việt Nam và Triều Tiên dù không muốn như Liên Xô đã từng phải buông Đông Âu trước đây. Nhưng chế độ cộng sản Việt Nam lại rất cần bám lấy Trung Quốc.

Trong cuộc tiếp xúc ngày 26/6/2014 tại Sài Gòn, ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã không cải chính lời phát biểu của chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, theo đó Trung Quốc thỏa thuận viện trợ cho Việt Nam 20 tỷ USD và cho vay 100 tỷ USD. Chế độ cộng sản Việt Nam rất cần yểm trợ tài chính này bởi vì do hậu quả của bất tài và tham nhũng kinh tế Việt Nam thực ra đang ở trong tình trạng phá sản.

Theo phát biểu của chính ông Trương Tấn Sang tháng 11/2014 tại quốc hội thì tình trạng kinh tế Việt Nam “rất không thoải mái”. Ba phần tư số thu ngân sách (khoảng 30 tỷ USD năm 2014, giảm nhiều so với năm 2013) được dùng để trả lương, phần còn lại không đủ để trả nợ. Nói gì tới những chi tiêu tối cần thiết khác.

Một điều cần được nhìn thật rõ là Đảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ là một đảng tự lập. Nó luôn luôn dựa vào một thế lực bên ngoài nào đó. Ra đời như một phân bộ của Đệ Tam Quốc Tế, nó đã tranh đấu, rồi cầm quyền, với sự bảo trợ của Liên Xô hoặc Trung Quốc, hoặc cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Giữa thập niên 1980 khi Liên Xô suy yếu và không còn bảo trợ được nữa, nó đã vội vã bỏ ngay lập trường thù địch để xin được phục tùng Trung Quốc. Trái với một nhận định hời hợt không phải Bắc Kinh cố thu phục Hà Nội mà chính Hà Nội đã cầu khẩn và làm tất cả để được lệ thuộc Trung Quốc. Trong mấy năm gần đây khi Liên Bang Nga có vẻ mạnh lên ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng đã cố gắng tranh thủ sự hỗ trợ từ Nga. Văn hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một văn hóa chư hầu.

Tất cả những tính toán và kỳ vọng của họ đều đã hoặc đang sụp đổ. Nước Nga của Putin đã bại sụi sau cuộc phiêu lưu Ukraine. Đến lượt Trung Quốc cũng chao đảo và sắp sụp đổ. Rất có thể là chính Bắc Kinh đã nói với Hà Nội là hãy tìm những nguồn hỗ trợ khác vì họ không còn khả năng giúp đỡ ai cả. Điều đó có thể giải thích những chuyến công du Hoa Kỳ dồn dập của các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam gần đây, kể cả chuyến đi sắp tới của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những chuyến thăm viếng này đều do sáng kiến của Hà Nội.

Lịch sử không phải chỉ sắp sang trang mà đang sang trang. Mọi người Việt Nam đều phải sáng suốt để tránh những ngộ nhận tai hại. Những thành viên bộ chính trị và ban bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam có thể thù ghét nhau vì tranh giành quyền lực và quyền lợi, nhưng họ đều hoàn toàn đồng ý với nhau là phải dựa vào Trung Quốc để duy trì chế độ độc tài toàn trị. Tất cả đều chống dân chủ. Tất cả đều đồng ý rằng “đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng” và tất cả đều đồng ý chẳng thà mất nước chứ không mất đảng. Không có một ngoại lệ nào cả.

Nhưng bây giờ họ không còn chọn lựa nào khác là đi với Mỹ (“Mỹ” phải được hiểu là các nước dân chủ) vì họ không dựa vào Trung Quốc được nữa. Chiến lược của họ trong lúc này chỉ là cố kéo dài thời gian hấp hối của chế độ và làm mất thêm thời giờ của nước ta trong cuộc chạy đua về tương lai, dù chúng ta đã mất quá nhiều thời giờ và đã quá chậm trễ. Chúng ta không được quyền có một ngộ nhận nào cả.

Mọi ưu tư của chúng ta phải dồn vào cố gắng để đất nước bước vào kỷ nguyên dân chủ một cách nhanh chóng nhất trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc để chúng ta có thể lập tức cùng nắm tay nhau chinh phục tương lai.

Nguyễn Gia Kiểng

(04/2015)