Trong thời gian thuộc Pháp, người dân Việt Nam bị hai tầng áp bức bóc lột là thực dân Pháp và triều đình phong kiến bản địa. Mà người ta thường nói là, sống trong chế độ “Một cổ hai tròng” với những khoản sưu cao thuế nặng, sự nghèo khổ thể hiện rõ ở những vùng thôn quê. Nhưng có điều lạ là những quyền cơ bản của con người như: Quyền lập hội biểu tình, các quyền tự do ngôn luận, báo chí, xuất bản, sáng tác. Quyền sở hữu tư nhân về bất động sản, về đất đai và nhiều quyền khác nữa vẫn được tôn trọng.
Sau khi cưỡng chiếm miền nam 1975, nền tảng của nhà nước pháp quyền Việt Nam cộng hòa bị xóa bỏ. Thay vào đó là nhà nước cộng sản, thực thi các chính sách tàn bạo dã man. Như đã từng áp dụng trên miền Bắc XHCN sau năm 1954, trong thời gian cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác xã nông nghiệp, chống xét lại ..
Kéo dài thời kỳ Xuống Hố Cả Nút (XHCN), cả nước rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Sản xuất trong nước bị đình trệ, nạn đói đã xuất hiện khi người dân, phải chầu trực để mua được khẩu phần lương thực. Mà thế giới người ta chỉ dùng để làm thức ăn cho gia súc như hạt bo bo, ngô răng ngựa. Trên tất cả đó là quyền con người bị ngang nhiên tước đoạt, bị đầy đọa trong nạn tham nhũng triền miên.
“Đảng cộng sản VN .. là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Các tổ chức của đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật” (Đ 4 HP). Thế nhưng sự thật đâu có phải như vậy.
Thực thi chế độ độc tài đảng trị, “Hiến Pháp nước cộng hòa XHCN VN có hiệu lực pháp lý cao nhất, nhưng sau cương lĩnh của đảng” (TBT Nguyễn Phú Trọng). Người đứng đầu tổ chức đảng, thâu tóm toàn bộ hoạt động của nhà nước. Đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích quốc gia dân tộc, bao che đồng lõa với nhau để ăn cắp tài sản quốc gia, ăn cướp tài sản hợp pháp của công dân, mà không lo bị xử lý. Đặc biệt đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện TW quản lý.
Tình cảnh người dân Việt Nam, phải chịu “Một cổ hai tròng” là đảng và nhà nước, ngày càng rõ rệt hơn. Các loại thuế, lệ phí ngày càng tăng cao, chút lên đầu người dân để nuôi bộ máy nhà nước, đồng thời lại phải nuôi báo cô bộ máy của đảng, khi mà họ chỉ ăn tàn phá hoại quốc gia và dân tộc này.
Đảng CS đã không chỉ tự từ bỏ quyền lãnh đạo, mà còn trở thành trùm tội phạm. Khi để cho giặc ngoại xâm và giặc nội xâm tác yêu tác quái trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Trung Quốc đâu phải bây giờ mới là một nước lớn, với mưu đồ xâm chiếm Việt Nam. Cũng đâu dễ quên những thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam trước đây.
Xưa kia, trước họa xâm lăng của giặc Tầu, vua tôi đã đồng lòng, cùng chung tinh thần hội nghị Diên Hồng, cùng chung sức bởi lời thề “Sát Thát” chứ đâu có cần đảng tiên phong lãnh đạo! Chống giặc không chỉ là bị động chờ giặc đến, mà còn chủ động đánh đòn phủ đầu phá tan cơ sở hậu cần chiến tranh của giặc. Để dân ta, có thời gian chuẩn bị đánh giặc lâu dài, như Thái úy Lý thường Kiệt đã làm, khi tiến hành chiến dịch đánh quân nhà Tống năm 1075 – 1076.
Sự kiện Tầu cộng lấn chiếm biến giới biển đảo, giết hại bộ đội và ngư dân Việt Nam, đã vi phạm các công ước quốc tế một cách rõ ràng. Thế nhưng sự ủng hộ Việt Nam của cộng đồng quốc tế, vẫn chỉ mang tính chất xã giao mà chưa có hiệu quả thực tế.
Khi mà Việt – Trung, là quan hệ của hai quốc gia độc tài cộng sản. “Coi chuyện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam như mâu thuẫn nội bộ gia đình” ( Phùng Quang Thanh Singapore 31/5/2014). Cũng có thể nhà Sản vẫn còn đang hoa mất vì ánh hào quang “Đánh thắng hai đế quốc to”, hoặc cũng vì “Do trời đất sinh ra để .. canh giữ cho hòa bình thế giới”!
“Bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân” (Đ 45 HP). Khi người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình chống Tầu cộng xâm lược, cũng là để nhắc nhở, giám sát hoạt động của nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia thì lại bị nhà nước thẳng tay đàn áp.
Sử dụng lực lượng công an giả dạng côn đồ, tự ý xông vào nhà dân bắt người trái pháp luật. Dùng hung khí tấn công khủng bố cả phụ nữ và trẻ em. Bắt cóc, tra tấn làm chết người trong đồn công an. Cướp đoạt ruộng đất, đầy ải dân oan, người tố giác và báo tin về tội phạm. Đàn áp, ngăn cản quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo ..
Những người đấu tranh chống giặc Tầu xâm lược, đấu tranh vì tự do, dân chủ, nhân quyền bị bỏ tù bởi những bản án phi nhân tính, trái pháp luật, vi phạm công ước quốc tế.
Với cách hành sử như trên, nhà nước CS đã và đang đưa dân tộc Việt Nam dần trở lại thời kỳ “Một cổ hai tròng” là giặc Tầu cộng và triều đình cộng sản VN.
Tuy nhiên: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
blog Huỳnh Ngọc Chênh
Nhà thơ Đỗ Trung Quân:
Tôi tag bức thư này của nhạc sĩ Tuấn khanh, hình ảnh em bé bị chặt đầu quá man rợ và khủng khiếp có thể gây sock cho mọi con người văn minh, tôi không thể đưa lên dù đấy chính là bằng chứng. Bức Thư là lời kêu gọi lương tâm , tôi tin rằng truyền thông Vn sẽ có người lắng nghe lời kêu gọi này.tội ác phải được đưa ra công lý
Nhạc Sĩ Tuấn Khanh:
Kính gửi toàn bộ giới truyền thông tự do Việt Nam
Đã gần 6 tháng, kể từ khi vụ án man rợ của 2 người Trung Quốc chặt đầu một em bé Việt Nam học lớp 4 ở Lạng Sơn, do cha của em này nợ tiền.
Rất nhiều thông tin trái ngược nhau được đưa ra. Nơi thì nói sẽ xử nghiêm. Nơi thì nói phải giao 2 kẻ phạm tội về Trung Quốc. Tới nay, đã không còn tin tức về sự kiện này nữa. Số phận em bé Việt Nam chết thảm thiết và gia đình của em nay ra sao, không hề được biết tới.
Vì lẽ công lý thuộc về nhân dân. Vì sự thật thuộc về lịch sử để chứng minh cho những điều khác lớn hơn. Xin gửi phần tối của sự kiện này đến cho những ai đứng về phía con người Việt Nam, nếu có điều kiện đi đến nơi, mong cậy nhờ tìm hiểu kết cục của câu chuyện này và ghi lại.
Đã có quá nhiều oan khiên bị chìm khuất. Xin hãy bắt đầu từ chuyện nhỏ nhất để có thể tiếp tục với những điều lớn hơn.
Xin đừng bao giờ quên rằng những oan hồn Việt Nam vẫn đang chờ chúng ta chứng minh một tình đồng bào có thật.
Tuấn Khanh
(Soha.vn) - Hai người Trung Quốc đã chặt đầu một cháu bé học lớp 4 sau khi không tìm được bố cháu bé.
Vụ án mạng man rợn xảy ra vào khoảng 13h ngày 26/02 tại thôn Nà Ao, xã Đề Thám (huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn) khiến 1 cháu bé 9 tuổi (học lớp 4) thiệt mạng.
Theo thông tin ban đầu, hung thủ là 2 người đàn ông mang quốc tịch Trung Quốc. Nguyên nhân xảy ra vụ án mạng là do mâu thuẫn trong làm ăn của bố cháu bé người Việt Nam và hung thủ.
Sau nhiều lần sang Việt Nam đòi nợ nhưng bố cháu bé trốn nên hung thủ đã ra tay sát hại dã man cháu bé 9 tuổi bằng cách chặt đầu.
Hiện 2 đối tượng đang được giam giữ tại UBND xã Bắc La, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
Nhận được tin của quần chúng nhân dân, Công an huyện Tràng Định kết hợp với Công an huyện Văn Lãng đã truy lùng kẻ thủ ác.
Sau nhiều giờ truy bắt thì đến 14h hôm nay (27/2), 2 đối tượng đã bị Công an huyện Văn Lãng bắt tại thôn Hát Lốc, xã Bắc La, huyện Văn Lãng. Hiện 2 đối tượng đang được giam giữ tại UBND xã Bắc La, huyện Văn Lãng.
Danh tính 2 kẻ thủ ác vẫn đang được cơ quan chức năng xác minh, điều tra làm rõ.
Duy Văn
Theo Tuổi trẻ
Tiếp theo câu chuyện “Làm ăn với Trung Quốc” (TTCT số 22, ngày 15-6-2014) với phân tích của các chuyên gia về cách thay đổi chất lượng mối quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, cái nhìn rộng hơn ở khu vực châu Á cũng cho thấy nỗ lực tìm hướng thay đổi của các tập đoàn trong mối quan hệ làm ăn với Trung Quốc.
Không phải tự nhiên mà lời cảnh báo từ năm 2012 này được tờ báo uy tín Nga Luận Chứng Và Sự Kiện (AIF) dùng làm tiêu đề bài báo đánh giá hợp đồng khí đốt Nga vừa ký với Trung Quốc.
Sau chuyến đi của ông V. Putin tới Trung Quốc vào tháng 5-2014, với hơn 40 văn kiện được ký kết, trong đó có hợp đồng khí đốt trị giá 400 tỉ USD, Argumentiru.com tổ chức thăm dò độc giả với câu hỏi: “Ai có lợi hơn trong hợp đồng khí đốt Nga - Trung Quốc?”. Với 728 câu trả lời thu được đến ngày 29-5, hết 74% cho rằng Trung Quốc có lợi, trong khi chỉ 26% đáp là Nga.
Còn Hãng tin Vzglyad.ru hỏi độc giả: “Trung Quốc với Nga là 1) mối đe dọa; là 2) một khả năng hợp tác, hay là 3) cả hai - vừa đe dọa vừa là khả năng hợp tác?” thì nhận được câu trả lời như sau (đến ngày 29-5): trong 18.739 người trả lời thì 7,4% chọn phương án 1; 33,2% chọn phương án 2; nhưng tới 59,4% chọn phương án cả hai, vừa là đe dọa vừa là khả năng hợp tác!
Vì sao có tâm trạng mâu thuẫn này? Là bởi, như chuyên gia Hong Kong James Evergreen được bài báo trên dẫn lời (*), một Trung Quốc giàu có đang nguy hiểm hơn: “Họ đang nắm giữ các cổ phiếu của Chính phủ Mỹ. Các doanh nhân của họ đã mua những nhà máy châu Âu, các công ty thuốc lá và khai khoáng. Đồng nhân dân tệ 12 năm liên tục không bị mất giá so với đồng đôla, mà chỉ tăng giá.
Đến năm 2020, trong khuôn khổ chương trình vũ trụ của mình, Trung Quốc chuẩn bị xây cả cơ sở trên Mặt trăng”. James Evergreen cảnh báo: “Nếu chỉ nghĩ người Trung Quốc có khả năng may áo cho thế giới văn minh châu Âu mặc, chúng ta đã bỏ lỡ sự ra đời của một cường quốc có khả năng nuốt trọn thế giới”.
Từ Syria tới Cuba, Iraq đều có công nhân Trung Quốc xây cầu đường. Xe buýt, ôtô ở các nước này cũng từ Trung Quốc, khiến James Evergreen đưa ra hình ảnh Trung Quốc “đang trói thế giới quanh mình như mạng nhện”. Theo ông, khi phải kiếm từng chén cơm, người Trung Quốc chẳng nghĩ gì về sự vĩ đại. Nhưng khi đã giàu lên, họ bắt đầu nghĩ tới vai trò đất nước.
Đề tài khi nào Trung Quốc trở thành siêu cường không phải là hiếm. Người ta nghe thấy nó không chỉ ở trong bếp, mà cả trên xe buýt. “Chúng tôi không chiếm thế giới. Chúng tôi mua nó”, đó là ý tưởng chính của người Trung Quốc, James Evergreen kết luận trong bài báo.
Về thống kê dân số chính thức, đến năm 2010 có 28.943 người nhận mình gốc Trung Quốc (tuy nhiên các con số thực được cho là lớn hơn nhiều), và dự báo đến năm 2050 người Trung Quốc sẽ trở thành nhóm dân số lớn thứ hai sau người Nga. Hằng năm Trung Quốc đầu tư vào kinh tế Nga 12 tỉ USD.
Đường biên giới chung Nga - Trung Quốc dài 4.209km, khiến vùng Viễn Đông hẻo lánh của Nga trở thành nơi tiện lợi để di cư đến làm ăn, thay vì lặn lội đến một thị trường cũng hấp dẫn là Ấn Độ nhưng bị ngăn cách bởi núi non trập trùng, hay Nhật bị biển cản trở. Các nước Đông Nam Á khác cũng đã quá đông dân.
Hiện nay, về chính thức hằng năm có hơn 1 triệu người Trung Quốc tới Nga với tư cách du khách (dù các con số nói tới 2 triệu người). Với mức độ “đầu tư làm ăn” này, theo phó giám đốc Viện các phân tích quân sự và chính trị Alexandr Khramchikhin, nếu Nga không có các biện pháp thích ứng, chỉ 10 năm nữa, khi đến vùng Viễn Đông người Nga sẽ chủ yếu nói tiếng Hoa (**)!
Trong một bài báo khác trên aif.ru cũng thuộc chủ đề “hậu hợp đồng khí đốt”, Artem Lukin - giảng viên khoa quan hệ đối ngoại của Viện các nghiên cứu quốc tế và khu vực của Đại học liên bang Viễn Đông - thừa nhận một mặt Nga vẫn phải hướng đông bởi đây là thị trường tương lai.
Trung Quốc cũng cần hợp tác với Nga. Bởi theo ông, có cơ sở để tin rằng Trung Quốc đang muốn biến Đông Á thành khu vực ảnh hưởng của mình, đẩy dần Nhật và Mỹ ra khỏi đây. Do Trung Quốc đang tiến hành các chính sách rất hung hăng ở biển Hoa Đông và biển Đông, nên trong trường hợp quan hệ Trung - Mỹ căng thẳng, việc cung cấp năng lượng và nhiên liệu từ Nga sẽ vẫn đảm bảo nhu cầu của Trung Quốc.
Nhưng mặt khác, “Trung Quốc là một văn hóa khác và một logic khác, hiểu họ không đơn giản. Hiện nay các nhóm người Trung Quốc khác nhau đang cùng chung ý tưởng rằng sau một thời gian nghèo đói, yếu ớt và bị coi thường, Trung Quốc sẽ phải chiếm vị trí hàng đầu trên vũ đài thế giới.
Thử hỏi, chủ nghĩa dân tộc của họ sẽ hung hăng tới đâu sau 20 năm nữa?” - Artem Lukin đặt câu hỏi. Ông cảnh báo: Một khi đã yên ổn ở phía nam, biết đâu Trung Quốc nhớ ra rằng trước giữa thế kỷ 19, một không gian rộng lớn phía bắc sông Amur từng thuộc đế chế Trung Hoa, chứ không phải Nga?
Và cần nhớ là các công ty Trung Quốc được phép vào Nga làm ăn đang đưa nhân công của họ vào theo!
Tổng Bí thư đang làm gì?
Từ Linh
Tôi nhục, ổng không nhục
Giữa những ngày sôi sục, có hai tin nghe rất tức về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Không chỉ tức, mà đại nhục.
Một. Báo The New York Times ngày 13/5/2014 đưa tin: một nhà ngoại giao cấp cao ở Bắc Kinh tiết lộ người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam (Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng) muốn qua Bắc Kinh gặp Tập Cận Bình để nói chuyện về Biển Đông, nhưng Tập Cận Bình không chịu gặp.
Nhục! Thằng ăn cướp đến cắm dùi trên đất nhà mình, khơi khơi nói chín khúc nhà mày là của tao, nhưng thay vì đương đầu đường hoàng như người có chính nghĩa trước kẻ cướp láo xược, thì chủ nhà lại len lén muốn đi đêm (chui nhủi như kẻ trộm), toan tìm đến nhà kẻ cướp (kiêu ngạo như chủ soái), mong gõ cửa, xin phép được gặp để tâu bẩm gì đó. Kẻ cướp nhìn thấy ắt phì cười, khinh bỉ, cho mày chết cú nữa, không thèm tiếp!
Nhưng, thế là sao? Ai là cướp, ai là trộm? Ai chủ ai, ai tớ ai?
Chỉ còn một cách hiểu: Chúng là đồng bọn. Tay chủ nhà bị cướp đang gõ cửa thực ra là tay sai, còn kẻ không thèm tiếp là chủ nó, coi nó và bè đảng của nó chẳng ra gì.
Bỗng nhớ chuyện thật này: Một ông bố có con gái 8 tuổi bị hãm hiếp. Nhưng thay vì đưa thủ phạm ra trị tội trước pháp luật, ông bố lại đến gặp thằng hiếp dâm để thỏa thuận: “Ra tòa hay không, tùy mày chi cho tao ít hay nhiều!” Xin lỗi, nghe chuyện, không thể không nghĩ ông bố đang chung tay hãm hiếp con mình.
Hai. Ngày 14/5/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI kết thúc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có diễn văn bế mạc hội nghị. Diễn văn được giáo sư Trần Hữu Dũng đúc kết như sau:
“Diễn văn bế mạc của Nguyễn Phú Trọng có 7 đề tài chính. Hai đề tài đầu tiên (và dài nhất) là: 1) Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam, và 2) Tích cực đấu tranh với những biểu hiện lai căng. Đề tài thứ 4 là ngắn nhất, nói về quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Không có bất cứ một chữ ‘Trung Quốc’ nào, và chỉ có duy nhất một chữ ‘Biển Đông’ (còn chữ Văn Hóa thì được nói đền hơn 30 lần).” [i]
Nhục! Trên thế giới, có lãnh tụ cao cấp nào khi kẻ xâm lược đã vào đến tận nhà lộng hành mà vẫn cứ thản nhiên đứng trước quần thần nói chuyện văn hóa lai tạp, không một lần dám gọi tên kẻ xâm lược, chỉ nhắc chuyện ngoại xâm cho có lệ, bất chấp hàng triệu người dân, trong đó có cả Đảng viên yêu nước, đang lòng như lửa đốt.
Nghe chuyện này, không thể không nhớ ngụ ngôn “Hoàng đế cởi truồng” của Hans Christian Andersen, và muốn lập tức trở thành thằng bé trong đám đông há hốc miệng, la toáng lên rằng: Ới bà con ơi! Ới đồng bào ơi! Ới đồng chí ơi! Ới công an, quân đội ơi… Tổng Bí thư cởi truồng!!!
Truồng bên người hùng
Mà truồng thật! Và không chỉ một, mà truồng cả cặp.
Tổng Bí thư Tập Cận Bình cởi truồng! “Giấc mơ Hoa” mỹ miều ông rêu rao không che đậy được giấc mộng Thiên triều bành trướng xấu xí dài nghìn năm.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cởi truồng! 16 chữ vàng vớ vẩn không che đậy được hình ảnh ông Trọng và bè đảng đang tồng ngồng khấu đầu ô nhục.
Thực ra, Tổng Bí thư truồng cũng lâu rồi, nhưng chỉ một số người thấy, đại chúng chưa thấy. Quả là tuyệt đại đa số dân Việt nói chung, cũng như bao dân tộc khác, ít quan tâm đến chính trị, chưa hẳn biết dân chủ là gì, cũng không quan tâm bao nhiêu đến nhân quyền, nhưng khi đụng đến chuyện giặc Tàu xâm lược Việt Nam thì lại là chuyện hoàn toàn khác. Tất cả 90 triệu dân, từ trẻ đến già, từ thất phu đến sĩ phu, sẽ lập tức sôi lên. Nhưng trong khi toàn dân sôi lên, máu chống Tàu như bản năng sinh tồn sôi lên, thì ông Trọng lại nguội lạnh, ung dung xem kẻ xâm lăng là bạn, và thế là cùng lúc, 90 triệu dân thấy ông truồng như nhộng.
Cả nước thấy rồi, này ông Trọng, ông còn ngồi đó làm gì? Ông từ chức đi!
Giữa khi Tổng Trọng truồng như thế và các đồng đảng khác của ông cũng chỉ thập thò trò hữu nghị, vừa trơ tráo vừa như gà phải cáo, thì trong tứ trụ lại có một cú chuyển ngoạn mục, từ số không, thậm chí âm không, vút trở thành người hùng (from zero to hero). Thật vậy, “đồng chí X”, từng được xem như tội đồ, bỗng chốc được hoan hô, và gần như được mọi người “xóa tội”, khi nói một câu để đời “không đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông.” Hoan hô đồng chí X.
Nhưng, sau tuyên bố lẫy lừng đó của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, dân Saigon bỗng dưng đâm lo, vì không biết liệu kẻ xấu có “thịt” ông không, không biết chuyến máy bay của ông có bị “tự nhiên” rớt như các quan chức lớn vừa rớt máy bay bên Lào không? Cũng có người bảo: Trung Quốc muốn có một chính quyền thân Tàu ở Việt Nam, và như thế, họ có thể “thịt” ông Dũng vì ông không chịu hàng, nhưng họ cũng có thể thịt luôn cả ông Trọng vì đã dở hơi để “lộ hàng”.
Dân Saigon cũng xì xầm rằng biết đâu Tàu có thể giựt dây đảo chính, để có một chính quyền bù nhìn, như các nước lớn như Liên Xô, hay Mỹ thời Chiến tranh Lạnh vẫn làm.
Quân đội và đảo chính
Chết, lớn chuyện rồi! Đảo chính! Lâu nay không ai nhắc điều này trong chính trường Việt Nam, nhưng vụ đảo chính vừa xảy ra bên Thái Lan làm mọi người nghĩ đến nó như một điều có thể, thậm chí không xa.
Nói tới đảo chính, Samuel Hungtington (nổi tiếng với Xung đột giữa các nền văn minh) có nhắc đến các loại đảo chính (coup d’etat) như: i) Đảo chính bứt phá để cải cách, lập chính quyền mới, nhân sự mới, thể chế mới; ii) Đảo chính “cung đình” để bảo vệ chế độ, chỉ thay người, không thay thể chế; và iii) Đảo chính trấn áp, khi chính quyền đương nhiệm đi quá xa, hoặc dân nổi loạn không theo ý quân đội. Cả ba loại đảo chính đều do quân đội tiến hành. [ii]
Quả thật, những ngày này, không thể không nghĩ đến vai trò của quân đội. Trong khi ở một xã hội dân chủ, quân đội đứng ngoài chính trị, chỉ phục vụ đất nước theo điều động của chính quyền dân cử, thì ở nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại từng kịch liệt phản đối, xem là thoái hóa biến chất những ai đòi phi chính trị hóa quân đội, và luôn nhấn mạnh quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng.
Thực ra, Tổng Trọng cũng chỉ học bài người ngoài dậy. Tập đoàn Giang-Hồ (Giang Trạch Dân – Hồ Cầm Đào) cũng đã học bài học này từ bộ đôi Mao-Đặng. Đặng Tiểu Bình có lần đã khẩn khoản chỉ bảo Giang Trạch Dân, khi Giang lên nắm chức Tổng Bí thư, rằng: ”Có năm ngày làm việc, hãy dành bốn ngày cho các tướng lĩnh chóp bu” (“Out of five working days, spend four with the top brass”). Và Giang-Hồ tuân răm rắp. Chỉ trong hai năm nắm quyền, Giang đã đích thân đến thăm và làm việc với 100 đơn vị quân đội.[iii]
Thực ra, giới cầm quyền Bắc Kinh đã từng e ngại đảo chính vào năm 1989, khi sinh viên xuống đường rầm rộ ở Thiên An Môn. Điều đáng nói là một số tướng lĩnh, khi được lệnh đưa quân đàn áp sinh viên, đã bất tuân thượng lệnh. Tiêu biểu là Trung tướng Từ Cần Tiên (Xu Qinxian) tư lệnh Quân đoàn 38 lừng danh thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa. Chuyện kể rằng, khi Tướng tư lệnh Quân khu Bắc Kinh yêu cầu ông điều quân dẹp sinh viên, ông đã hỏi đi hỏi lại: Có lệnh của Triệu Tử Dương chưa? (Triệu Tử Dương là Tổng Bí thư Đảng thời kỳ đó, là người ủng hộ sinh viên muốn dân chủ hóa.) Và khi biết không có lệnh của Triệu Tử Dương, Từ Cần Tiên đã nhất định không điều quân. Không chỉ có trung tướng họ Từ, người đỡ đầu ông là Tần Cơ Vĩ (Qin Jiwei) lúc đó là Bộ trưởng Quốc phòng và ủy viên Bộ Chính trị, cũng tìm cách liên kết với Triệu Tử Dương để chống thiết quân luật. Còn có tướng Hà Yên Nhiên (He Yanran), tư lệnh Quân đoàn 28, khi đám đông giận dữ đốt phá các xe thiết giáp của đơn vị ông, ông cũng đã bất tuân lệnh nổ súng đàn áp đám đông.[iv]
Đông Âu 1989
Quân đội bất tuân, hay án binh bất động, cũng đã từng xảy ra ở Đông Âu năm 1989, như trong cuộc Cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc, và cuộc cách mạng ở Rumani lật đổ nhà độc tài Ceausescu. [v]
Thực vậy, các Đảng Cộng sản tại Tiệp Khắc và Rumani cho đến sát ngày cách mạng đều tự tin rằng chế độ mình sẽ trường tồn bất bại, Ceausescu vẫn hùng hồn trước hàng ngàn cử tọa ngoan ngoãn rằng: “Tương lai của chủ nghĩa xã hội còn dài. Nó chỉ chết khi nào quả lê rụng từ cành táo!” (Tiên tri làm sao! Đến nay, đúng là mác-lê đã rụng, “quả táo” mác-kinh-tốt đã phủ khắp từ Baltic đến Adriatic, từ Mỹ sang Âu qua Á.)
Xin lược qua vài diễn biến chính của Cách mạng Nhung để bạn đọc dễ hình dung, cũng vì tình hình đó và đây không phải không có điểm giống:
Cách mạng Nhung bắt đầu từ những cuộc biểu tình của quần chúng bị đàn áp, đỉnh điểm của cuộc đàn áp là khi 3000 người lọt vào điểm “phục kích” của công an, họ ngồi cả xuống, hát vang, công an ùa tới đánh đập dã man, hốt lên xe. Có âm mưu tạo cái chết giả nhằm kích động quần chúng giận dữ chống phe bảo thủ. Nhưng vô tác dụng. Quần chúng nổi giận. Diễn đàn Dân sự (Civic Forum do Vaclav Havel lãnh đạo) hình thành, ra công bố 4 điểm: yêu cầu Tổng Bí thư từ chức; yêu cầu Bí thư Thành ủy và quan chức đứng sau vụ đàn áp sinh viên từ chức; yêu cầu điều tra vụ đàn áp; yêu cầu thả tất cả tù nhân lương tâm. Diễn đàn kêu gọi tổng đình công 2 tiếng ngày thứ hai, từ 12 g đến 2 giờ, để thăm dò phản ứng của đại chúng. Nếu tất cả tham gia, thì ý chí của phe bảo thủ trong Đảng coi như tan tành. Quân đội thay vì đàn áp lại ở trong trại lính. Nhân dân xuống đường 6 đêm liền sau đó, tràn ngập quảng trường trung tâm. Đại diện chính quyền liên lạc kín với Diễn đàn Dân sự để thương lượng cuộc bàn giao quyền lực. Và cuối cùng Tổng Bí thư và toàn bộ hàng ngũ lãnh đạo Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ chức. Cách mạng thành công.
Tổng Bí thư Trọng rất có thể sẽ trở thành phiên bản của Tổng Bí thư Jakes của Tiệp Khắc, toan tính thẳng tay đàn áp quần chúng bằng công an, thiết quân luật, điều xe tăng vào thành phố… Jakes nói:
“Phải lấy sức chọi sức! Chúng ta không thể ngồi yên giương mắt nhìn hành vi của các nhóm hoạt động ngoài vòng pháp luật và bị nước ngoài giựt dây… Những âm mưu kích động các thành phần thanh niên Tiệp có thể đưa xã hội vào vòng khủng hoảng với hậu quả khó lường!”
Nghe quen quen! Cũng kích động, cũng “khó lường”…
Về phản ứng của những kẻ kiểm soát quân đội, vào giờ phút lâm chung, Phó Thủ tướng Tiệp Khắc Marian Calfa cho biết:
“Toàn bộ guồng máy công an và an ninh nằm trong tay chúng tôi. Vậy mà không ai có đủ dũng cảm, đủ nhạy bén, đủ bản lĩnh, nói chung là đủ những gì cần thiết để dùng vũ lực…”
Tổng Bí thư Jakes còn bị quan thầy Liên Xô giáng cho một đòn chí tử khi thông báo rằng ông không thể chờ mong gì ở các lực lượng Xô-viết, cũng không có bất cứ hỗ trợ chính trị nào để Jakes tiếp tục nắm quyền.
Về quần chúng, họ như vừa thoát xác, lớn lên chẳng khác gì Phù Đổng, như lời một người dân:
“Mỗi ngày trôi qua là một ngày dân chúng thấy mình mạnh mẽ hơn, và đứng thẳng lưng hơn. Tôi có cảm tưởng như tảng đá đè trong lòng suốt 20 năm vừa qua giờ đã được gỡ bỏ. Người Tiệp chúng tôi thấy mình đường hoàng hơn. Chúng tôi đã quá hèn mọn. Nhưng giờ chúng tôi bắt đầu cảm thấy tự hào. Quả là một cảm giác phi thường.”
Cuộc Cách mạng Nhung 1989 tại Tiệp Khắc cũng nhắc nhở vài điều quan trọng khác: Cần một phe đối lập, đại diện cho tiếng nói của quần chúng. Và để hình thành lực lượng này, cần có người đủ uy tín và tầm vóc để có thể quy tụ mọi phe phái, dù trái ngược nhau đến mấy. Những nhân vật cũ trong chính quyền mới, như ông Alexander Dubcek (tác giả của Mùa xuân Praha 1968) ban đầu được quần chúng tung hô, nhưng khi ông bộc lộ tư duy cũ, vẫn tin cậy chủ nghĩa xã hội thì dân phản đối ngay (Dubcek thất bại trong cuộc bầu cử, chỉ trở thành chủ tịch Hạ viện hậu cộng sản, trong khi Vaclav Havel trở thành tổng thống.) Một bài học cho các chính khách Việt Nam?
Phá Tống và dời đô
Giữa những ngày sôi động này bỗng nhớ các vị Lê Hoàn, Lý Công Uẩn và Lý Thường Kiệt.
Dường như các thày phong thủy, tướng số, tử vi của Trung Quốc quên đọc lại lịch sử, nên đã phạm một sai lầm cực lớn khi đưa giàn khoan HD-981 vào cắm ở biển Việt Nam, vì năm 981 chính là năm Lê Hoàn (Lê Đại Hành) nhà Tiền Lê phá tan quân Tống xâm lược.
Một trong những việc làm ghi dấu sử xanh là việc Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010. Và trong triều đại Nhà Lý, tôn giáo được phát triển, nhân tài được sử dụng, giáo dục được khai sáng, kinh bang tế thế được thực hiện hiệu quả làm dân giàu, nước mạnh.
Cũng chưa bao giờ nhiều người lại ngâm nga và thấm thía bài tuyên ngôn độc lập tuyệt vời, được Lý Thường Kiệt đọc năm 1077 khi đánh giặc Tống, như trong những ngày này:
“Non nước trời Nam vua Nam ở. Rành mạch định phận tại sách trời. Quân thù cớ sao xâm phạm tới. Rồi bay sẽ bị đánh tơi bời.”
Nói một câu hợp ý toàn dân là điều đáng hoan nghênh. Ra một tuyên ngôn nức lòng người là điều cần thiết. Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất về lâu về dài, như Lý Công Uẩn đã làm, là dời đô, dời đổi thể chế, dứt khoát từ bỏ “chỗ chật hẹp không thể mở mang” để đất nước và lịch sử thực sự sang trang.
Thực ra, việc chuyển đổi thể chế có thể diễn ra trong nhiều tuần, nhiều ngày, hay chỉ qua một đêm.
© 2014 Từ Linh & pro&contra
[i] “Phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung ương Đảng lần chín”, Báo Điện tử Chính phủ 14/5/2014
[ii] Wikipedia, từ mục “coup d’etat”.
[iii] Richard McGregor, The Party, NXB Harper Collins, NY 2010, trang 105.
[iv] “How top generals refused to march on Tiananmen Square”, The Sydney Morning Herald, ngày 4/6/2010.
[v] Chi tiết và trích đoạn về Cách mạng tại Tiệp Khắc và Rumani trong bài được lấy từ hai bài “Cách mạng Nhung”, và “Làm thế nào để giết một đồng chí: Cách mạng Rumani 1989”, của Victor Sebestyen, Phan Trinh dịch, đăng trên pro&contra.
19 Tháng 6, 2014
Lê Xuân Khoa
Ngay sau khi Trung Quốc gây ra sự cố giàn khoan Hải Dương Thạch Du (HD-981) tại vùng biển chủ quyền của Việt Nam, giới phân tích chính trị quốc tế đã cho thấy đây không nhất thiết là một hành động chiếm đoạt về kinh tế mà chủ yếu là một nước cờ chính trị của Bắc Kinh nhằm tạo tiền lệ cho những bước lấn chiếm khác trong kế hoạch kiểm soát toàn thể Biển Đông Nam Á. Đây vừa là một bước thăm dò vừa là một ngón đòn phủ đầu trước khi Hoa Kỳ có thể thật sự xoay trục sang Châu Á và tái khẳng định vai trò cường quốc Thái Bình Dương. Bước chiến thuật này đã đem lại cho Trung Quốc một thắng lợi ban đầu nhưng qua những phản ứng của Việt Nam và những nước liên quan thì hành động này là một tính toán khá mạo hiểm trong chiến lược “Giấc mơ Trung Quốc ”, một mục tiêu quốc gia được Chủ tịch Tập Cận Bình chính thức tuyên bố trước Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc ngày 17.3. 2013 và định nghiã là “sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa.” Mạo hiểm hay không, lãnh đạo mới của Trung Quốc cũng quyết tâm hành động vì cho rằng thời cơ đã đến.
Đã có nhiều tác giả Việt Nam và ngoại quốc viết về những mục tiêu trước mắt và lâu dài của Trung Quốc qua vụ giàn khoan HD-981, phản bác những luận điệu của lãnh đạo Bắc Kinh đòi hỏi chủ quyền trên 80 % Biển Đông Nam Á theo bản đồ đường chín đoạn do họ tự vẽ ra, bất chấp luật lệ quốc tế và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982. Vì vậy, bài này sẽ không tham gia vào những đóng góp quan trọng của các học giả về cơ sở lịch sử và pháp lý của Việt Nam mà chỉ chú trọng vào một số biện pháp cụ thể cần làm ngay để triệt tiêu mưu đồ của Trung Quốc đang từng bước thực hiện mục tiêu sử dụng Việt Nam làm bàn đạp tiến xuống các quốc gia khác trong khu vực.
Tên khổng lồ tỉnh giấc
Lịch sử chính trị thường nhắc đến câu chuyện Hoàng đế Napoléon Bonaparte sau khi đọc bản dịch cuốn Tôn Tử Binh pháp do một linh mục Pháp sống ở bên Tàu đời nhà Thanh thực hiện, đã phát biểu một nhận xét thú vị: “Hãy để cho tên khổng lồ này ngủ yên, vì khi tỉnh giấc nó sẽ làm rung chuyển thế giới.” Thật ra thì từ thời xa xưa cho đến hết thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc chỉ tự rung chuyển mình bằng những cuộc nội chiến (như thời Đông Chu liệt quốc) hay bị rung chuyển khi ngoại nhân (như Mông Cổ hay Mãn Thanh) chiếm đóng và cai trị, bị tám nước Tây phương (Bát quốc liên quân) trừng phạt đầu thế kỷ 20 và gần đây nhất là bị quân đội Nhật hoàng xâm lăng và hành hạ trong thời Đệ nhị Thế chiến. Công bằng mà nói thì Trung Quốc cũng có làm rung chuyển một số quốc gia láng giềng nhỏ bé như Cao Ly (Triều Tiên) và Việt Nam qua những cuộc chiến tranh xâm lược nhưng rốt cuộc đều bị đánh bại và phải chạy về nước. (Đáng chú ý là vị anh hùng Cao Ly đại thắng quân Nguyên lại là một “thuyền nhân” người Việt: Lý Long Tường, thái tử nhà Lý, chạy sang Cao Ly tị nạn sau khi Trần Thủ Độ diệt nhà Lý để xây dựng nhà Trần. Lý Long Tường đánh thắng quân Nguyên hai lần, được vua Cao Ly phong làm Hoa Sơn Tướng quân.)
Chỉ đến khi Đặng Tiểu Bình trở lại chính quyền năm 1978 Trung Quốc mới thực sự bắt đầu một thời kỳ cải cách và phát triển theo hướng ”chủ nghiã xã hội mang màu sắc Trung Quốc”. Đặng thi hành chủ nghĩa thực dụng về kinh tế, mở cửa làm ăn với các nước Tây phương với câu nói nổi tiếng: “Mèo đen hay mèo trắng không thành vấn đề miễn là nó bắt được chuột.” Nhưng quan trọng nhất trong mưu lược đối ngoại của Đặng Tiểu Bình là âm thầm xây dựng một nước Trung Hoa hùng mạnh bằng chính sách “thao quang dưỡng hối” (giấu cái sáng, nuôi cái tối) tức là giấu diếm nội lực, giả vờ yếu kém để chờ ngày vùng dậy làm bá chủ thiên hạ.
Chính sách ẩn mình chờ thời của Đặng Tiểu Bình nay đã đến hồi kết thúc. Chỉ trong ba thập kỷ, Trung Quốc từ một nước nghèo đói đã vươn lên thành một siêu cường kinh tế, vượt Nhật Bản để chiếm địa vị thứ nhì sau nước Mỹ, và cũng đang là chủ nợ lớn nhất của Mỹ với số tiền cho mượn trên 1300 tỉ đô-la. Thời Hồ Cẩm Đào làm Tổng Bí thư, Trung Quốc đã giàu nhất thế giới vì nhờ lao động rẻ nên đã trở thành công xưởng của tư bản quốc tế sản xuất hầu hết hàng tiêu thụ khắp các nước. Không giấu được sức mạnh tiền bạc nhưng Hồ Cẩm Đào vẫn tiếp tục lừa thế giới với khẩu hiệu khiêm tốn là “trỗi dậy hoà bình”. Từ 2012, khi Tập Cận Bình kế vị Hồ Cẩm Đào thì “Trỗi dậy hoà bình” được đổi thành “Giấc mơ Trung Quốc”, thể hiện rõ hơn chủ nghĩa dân tộc của một lãnh đạo nhiều quyền lực nhất, cùng một lúc nắm ba chức vụ Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước và Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Lời tiên đoán của Napoleon nay được nghiệm đúng: tên “khổng lồ” đã tỉnh giấc và sẽ thật sự làm rung chuyển thế giới. Nhưng rung chuyển đến mức nào và sẽ bị rung chuyển ngược ra sao lại là chuyện khác.
Đặc điểm chung của các lãnh đạo cộng sản độc tài là “nói một đàng làm một nẻo” và kiên quyết phủ nhận những sự thật hiển nhiên. Tập Cận Bình còn hơn cả những người tiền nhiệm ở chỗ không giấu diếm thái độ tự tôn và ngang ngược về mặt đối ngoại dù vẫn luôn luôn dối trá. Đối với Tập, thế kỷ 21 phải là thế kỷ của Trung Quốc vĩ đại, và thời điểm 2014 rất thuận lợi để cho Tập khẳng định quyết tâm thực hiện “Giấc mơ Trung Quốc” khởi sự từ Việt Nam, đối tượng quan trọng nhất nhưng lại dễ dàng nhất. Tập Cận Bình không thể bỏ lỡ cơ hội này dù mới đây Tập đã trơ tráo quả quyết rằng “Trung quốc không có cái gien xâm lược.”
Tại sao Việt Nam?
Một người Việt Nam bình thường nào (và tất cả những học sinh miền Nam trước 1975) cũng biết rõ là từ các triều đại phong kiến hơn hai nghìn năm trước đến thời đại cộng sản ngày nay, các lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn tìm cách xâm chiếm đất nước và đồng hoá dân tộc Việt. Tất cả những quan hệ hoà bình, hữu nghị giữa hai nước đều chỉ là giả tạm và có lợi hơn cho Trung Quốc, tất cả mọi sự viện trợ to lớn của cộng sản Tàu cho cộng sản Việt trong cuộc chiến chống Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà đều là những điều kiện thuận lợi cho việc đẩy Việt Nam vào vòng lệ thuộc Trung Quốc sau chiến tranh. Ngoài ra, vì Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất, cộng sản Tàu còn có lợi ích đặc biệt là “đánh Mỹ cho đến người Việt cuối cùng”.
Trở lại với câu hỏi “Tại sao cộng sản Trung Quốc (CSTQ) lại chọn cộng sản Việt Nam (CSVN) là nạn nhân đầu tiên trong mưu toan làm chủ Biển Đông Nam Á, kiểm soát các nước ASEAN và đẩy Mỹ ra khỏi khu vực Châu Á-Thái Bình Dương?”, tôi thấy có chín lý do dưới góc nhìn của Bắc Kinh:
1. Việt Nam có vị trí chiến lược then chốt, gần nhất và thuận tiện nhất để Trung Quốc có thể sử dụng vào mục tiêu khẳng định quyền làm chủ Biển Đông Nam Á, khai thác tài nguyên biển và kiểm soát toàn thể các nước trong khu vực.
2. Từ sau bản mật ước Thành Đô năm 1990, Việt Nam đã gần như lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc về kinh tế và chính trị. Việt Nam lại đang bị suy thoái về kinh tế và không có một đồng minh nào về chính trị và quân sự.
3. Cộng sản Việt Nam không thể rời bỏ chỗ dựa an toàn là Trung Quốc vì cần phải duy trì sự tồn tại của Đảng và chế độ với những đặc quyền đặc lợi quá lớn đã nắm giữ từ lâu trong khi phạm những tội ác quá nặng đối với nhân dân và đất nước.
4. Việt Nam khó khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa vì mắc kẹt với bức công hàm của TT Phạm Văn Đồng gửi TT Chu Ân Lai ngày 14/09/1958. Trên 50 năm qua, nhà nước Việt Nam né tránh vấn đề này nên có rất ít công trình nghiên cứu về pháp lý và lịch sử làm cơ sở tranh cãi so với số lượng nhiều gấp hàng chục lần của Trung Quốc.
5. Các nước ASEAN không đoàn kết và mỗi nước đều có nhiều lợi ích kinh tế riêng qua những quan hệ hợp tác song phương với Trung Quốc.
6. Hoa Kỳ đang phải đối phó với nhiều khó khăn ở trong nước và nhiều nơi trên thế giới nên chưa thể thật sự xoay trục sang Châu Á như mong muốn. Trung Quốc cần nắm lấy cơ hội trước khi Hoa Kỳ có thể cùng với Nhật xây dựng liên minh chiến lược với ASEAN.
7. Trung Quốc cũng có nhiều khó khăn nội bộ nhưng qua hành động thị oai với Việt Nam và xác định quyền khai thác tài nguyên trên biển Đông Nam Á, lãnh đạo Bắc Kinh có thể khích động chủ nghĩa dân tộc và gỉảm bớt sự bất mãn và chống đối của nhân dân.
8. Hoa Kỳ và Nhật Bản đang có những nỗ lực lôi cuốn Việt Nam ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc giữa lúc tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ của nhân dân Việt Nam đang lên cao, khuyến khích khuynh hướng thoát Trung trong các đảng viên CSVN và hậu thuẫn mạnh mẽ cho khuynh hướng cải cách trong nội bộ lãnh đạo.
9. Nguy hiểm nhất là triển vọng thắng thế của khối yêu nước và cải cách chính trị ở Việt Nam, trong và ngoài Đảng. Nếu Việt Nam thoát Trung và trở thành một nước dân chủ, chế độ độc tài cộng sản ở Trung Quốc sẽ lung lay và chắc chắn phải sụp đổ trong một tương lai không xa.
Chín lý do trên đây khiến lãnh đạo Bắc Kinh phải ra tay sớm, bất chấp luật lệ quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển, và bộ Quy tắc về Ứng xử giữa các bên ở Biển Đông Nam Á (gọi tắt là COC) mà Trung Quốc đã hứa sẽ ký kết với các nước ASEAN tiếp theo bản Tuyên bố về Ứng xử (DOC) đã được các bên ký từ năm 2002.
Riêng đối với Việt Nam, Trung Quốc đã thẳng tay xé bỏ hai bản thoả thuận do lãnh đạo hai bên ký kết năm 2011 và 2013, cam kết giải quyết hoà bình các vấn đề khó khăn giữa hai nước. Tệ hơn nữa, Bắc Kinh đã ba lần bác bỏ lời yêu cầu khẩn cấp của Hà Nội về một cuộc gặp gỡ tại Bắc Kinh để giải quyết hoà bình vụ giàn khoan HD-981. Châm ngôn “16 chữ” và “4 tốt” thể hiện tình đồng chí bền chặt giữa hai đảng anh em được ca tụng hơn 20 năm bỗng nhiên bị quăng vào thùng rác. Hành động trở mặt tàn nhẫn và bất ngờ của Trung Quốc đối với Việt Nam chỉ có thể giải thích được bằng nguy cơ được nêu lên ở hai điểm số 8 và 9 trên đây.
Phản ứng phức tạp của Việt Nam
Nếu lãnh đạo Việt Nam đã phải bàng hoàng vì sự trở mặt trắng trợn của Bắc Kinh thì lãnh đạo Trung Quốc cũng bị bất ngờ trước khí thế yêu nước bùng dậy mãnh liệt từ phiá nhân dân Việt Nam, một dân tộc tưởng như đã bị chế độ cộng sản thuần hoá thành những con người khiếp nhược chỉ biết tuân lệnh vì đã được dạy dỗ rằng “chuyện gì cũng đã có Đảng và Nhà nước lo.”
Thật đáng tiếc là thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc cậy mình quá giàu và quá mạnh nên không chịu tìm hiểu lịch sử và văn hoá Việt Nam để biết rằng truyền thống chống Trung Quốc xâm lược vốn nằm sẵn trong từng mạch máu, từng thớ thịt của dòng giống Việt từ ngày lập quốc. Bởi vậy, ngay trong hàng ngũ đảng viên CSVN, trừ một số đã nhiễm độc nặng vì địa vị và quyền lợi, những đảng viên yêu nước vẫn kiên quyết đấu tranh cho độc lập và chủ quyển của quê cha đất tổ. Họ cũng sáng suốt nhận ra những sai lầm tai hại của chủ nghĩa cộng sản nên đã dấn thân vào tiến trình chuyển hoá chế độ từ độc tài độc đảng sang dân chủ đa nguyên đa đảng. Nhưng dưới sự cai trị khắc nghiệt của chế độ toàn trị, trí thức và nhân dân không thể bày tỏ lòng yêu nước hay thái độ bất mãn đối với những hành động sai trái của chính quyền. Mọi hoạt động phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền hay đối xử tàn nhẫn với ngư dân Việt Nam đều bị nhà nước ngăn cấm và những người dám lên tiếng đều bị trù dập, bắt giữ và kết án nặng nề.
Nhưng sự chiụ đựng nào cũng có giới hạn và nhà cầm quyền cũng không thể che giấu mãi tội ác của Trung Quốc và thái độ hèn kém của mình. Rốt cuộc ngày phải đến đã đến. Ngày 1 tháng 5, 2014, Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan khổng lồ HD-981 cùng hơn 80 tàu vũ trang và máy bay hộ tống vào khu vực Hoàng Sa, hạ đặt giàn khoan này ngay trên Thềm lục địa và trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam. Các tàu hộ tống giàn khoan đã tấn công các tàu công vụ và dân sự của Việt Nam gây hư hại nhiều tàu và một số người bị thương vong.
Hành động phi pháp và thái độ hống hách của cường quyền Bắc Kinh không chỉ làm bùng dậy lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam mà còn làm cho đám lãnh đạo thân Bắc Kinh phải lo sợ và đành lòng để cho nhân dân biểu tình chống Trung Quốc. Mặc dù cuộc biểu tình đầu tiên được phép ngày 11.5 đã diễn ra tốt đẹp vì nhân dân chỉ biểu dương lòng yêu nước chống quân xâm lược chứ không chống chính quyền, phe thân Trung Quốc đã tìm cách ngăn chặn cuộc biểu tình trong tuần kế tiếp mà họ biết chắc là số người xuống đường tham gia sẽ tăng lên gấp bội. Nhiều nguồn tin cho hay họ đã mướn côn đồ sách động công nhân biểu tình bạo động ở một số cơ xưởng do người ngoại quốc đầu tư, gây thiệt hại vật chất và thương tích cho một số người bị coi là dân Trung Quốc. Mượn cớ có bạo động, chính quyền đã có lý do chính đáng để ra lệnh cấm biểu tình dù ban tổ chức đã thông báo chủ trương bất bạo động. Điều này cho thấy nội bộ lãnh đạo Việt Nam vẫn còn chia rẽ nhưng phe cấp tiến đã bắt đầu tạo được hậu thuẫn của nhân dân yêu nước và khao khát dân chủ.
Tuy nhiên, tình hình mấy tuần qua đã trở nên phức tạp qua những phát biểu và cách hành xử lúng túng và mâu thuẫn của một số nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Việt Nam trước hành động xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc và những động thái phòng ngừa từ phía Mỹ và Nhật. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thì không nói năng gì, chỉ một mực muốn sang Bắc Kinh cầu cứu Tập Cận Bình nhưng đã bị từ chối. Đại tướng Phùng Quang Thanh thì tại Hội nghị Shangri-La ngày 1 tháng Sáu đã có những lời phát biểu quá nhũn nhặn so với lời lẽ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mạnh mẽ kết án Trung Quốc tại hội nghị cao cấp ASEAN ngày 12 tháng 5, và trong cuộc gặp Tổng thống Philippines tại Manila một tuần sau đó. Gần đây nhất là quyết định (của Bộ Chính trị ?) trì hoãn chuyến đi Washington của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh do lời mời của Ngoại trưởng John Kerry.
Chuyến đi thăm dò lãnh đạo Hà Nội của Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì ngày 18/6 lại cho thấy có ba sự kiện đáng chú ý:
1. Dù chưa có thông báo chính thức của Bộ Ngoại giao, các nguồn tin trong nước và ngoại quốc đều cho hay là cuộc đối thoại Dương Khiết Trì-Phạm Bình Minh bị bế tắc vì lập trường hai bên không thay đổi. Các thông tín viên của Reuters nhận xét không có treo cờ hai quốc gia bên ngoài toà nhà họp như thông lệ mỗi khi có khách quan trọng đến thăm và cũng không có tấm hình nào cho thấy hai bên với vẻ mặt tươi cười. Trang tin mang tên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn đăng một tấm hình cho thấy khi bắt tay nhau, Phạm Bình Minh nhìn thẳng vào mặt người đối diện trong khi Dương Khiết Trì thì nhìn xuống. Người viết blog nhận xét ông Minh có ánh mắt “rực lửa”.
2. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố hành động của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm những thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, vi phạm luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC); đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trong khu vực; gây bất bình và làm tổn thương tình cảm của nhân dân Việt Nam, tác động tiêu cực đến quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước; yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển của Việt Nam; cùng đàm phán giải quyết các tranh chấp bất đồng giữa hai nước bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế và nhận thức chung giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước… Việt Nam kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền của mình bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.
3. Một sự kiện khác rất bất ngờ là quan điểm yêu nước vững chắc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong cuộc tiếp kiến Dương Khiết Trì. Bản tin VNTTX ngày 18/6 dẫn lời của ông Trọng: “Tổng Bí thư nhấn mạnh tính nghiêm trọng và tác động rất tiêu cực của việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) tại vùng biển của Việt Nam từ đầu tháng Năm đến nay đối với nhân dân Việt Nam, cục diện quan hệ Việt-Trung và tình hình khu vực. Tổng Bí thư khẳng định lập trường về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên Biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi; đề nghị khẩn trương trao đổi để có các giải pháp sớm ổn định tình hình… trên cơ sở các thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước và luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982.”
Dù sao, thái độ lúng túng và mâu thuẫn của lãnh đạo Việt Nam vẫn tồn tại, cho thấy phe bảo thủ thân Trung Quốc, dù đã bị Bắc Kinh không thèm đếm xỉa tới nữa, vẫn không dám nghĩ đến việc thoát Trung vì ngoài Trung Quốc ra, họ không có một chỗ dựa nào khác. Có lẽ họ không còn chiếm đa số trong Bộ Chính trị nhưng họ đang tranh thủ lôi cuốn những người “do dự” mà phe yêu nước cấp tiến cũng đang cố gắng thuyết phục. Dù khinh miệt đám tay chân ở Hà Nội, lãnh đạo Bắc Kinh không bỏ qua cơ hội làm suy yếu phe cấp tiến đang gia tăng hợp tác với Mỹ. Chắc chắn đàng sau những cuộc vận động thành phần còn do dự đều có bóng dáng của Đại sứ Trung Quốc Hồng Tiểu Dũng và các thuộc viên. Mặc dù mục tiêu cuối cùng của các phe đang chống đối nhau trong Đảng CSVN là chiếm được ưu thế trong Đại hội 12 sẽ diễn ra năm 2016, Đảng và Nhà nước vẫn phải có những quyết định liên quan đến chính sách đối nội và đối ngoại từ nay cho đến ngày Đại hội. Liệu có thay đổi gì không? Chúng ta có thể ngờ rằng tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” và “nói một đàng, làm một nẻo” sẽ tiếp tục được duy trì như một đồng thuận không chính thức trong nội bộ lãnh đạo. Trong khi đó, bọn bá quyền Bắc Kinh vẫn tiếp tục vừa đánh lừa dư luận vừa lấn tới, từng bước một, nhưng mau hơn trước.
Liệu sự thống nhất bất ngờ giữa hai ông Tổng Bí thư và Thủ tướng về lập trường đối với Trung Quốc qua vụ giàn khoan HD-981 có làm cho những lãnh đạo thân Tàu trong Bộ Chính trị cũng sẽ bớt cản đường trên con đường thoát Trung?
Tổng lực dân tộc và những hành động đột phá
Những nhận định ở phần đầu bài này đã cho thấy năm 2014 là thời điểm thuận lợi nhất cho Trung Quốc tiến hành kế hoạch thống lĩnh Biển Đông Nam Á và trục xuất Hoa Kỳ khỏi khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Trong hai mươi năm qua, CSVN đã bỏ lỡ bao nhiêu cơ hội thoát Trung và cải cách chính trị để đất nước có thể phát triển không thua kém Đại Hàn, Đài Loan hay Singapore. Trước sự trở mặt thình lình của Bắc Kinh, Đảng và Nhà nước Việt Nam không kịp chuẩn bị cho việc bảo vệ chủ quyền trên biển để từ đó sẽ mất luôn khả năng bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền của đất nước. Trước tình thế gần như tuyệt vọng đó, Việt Nam chỉ có hi vọng được cứu thoát nếu có một tổng lực dân tộc do sự kết hợp của cả ba thành phần : chính quyền, nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Nhưng tổng lực dân tộc này chỉ có thể thành tựu nếu mỗi thành phần đều có những hành động đột phá hướng về hai mục tiêu chung: bảo vệ tổ quốc và thực thi dân chủ.
1. Chính quyền
Đây là thành phần chủ yếu vì đang nắm quyền quyết định vận mệnh dân tộc về mặt đối ngoại, nhưng cũng là thành phần suy nhược, nội bộ chia rẽ và không được nhân dân tin cậy. Ai cũng đã thấy rõ là lãnh đạo Đảng và Nhà nước đang chia làm hai: một phe do Nguyễn Phú Trọng cầm đầu hoàn toàn dựa vào Trung Quốc (thân Tàu) để bảo vệ chế độ độc tài và quyền lợi nhóm, và một phe do Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo chủ trương phải thoát Trung và chuyển hoá thể chế từ độc tài sang dân chủ (thân Mỹ). Trước nguy cơ mất nước, dù có nghi ngờ cả hai phe “vì họ đều là cộng sản”, nhân dân trong nước và cộng đồng hải ngoại vẫn không có lựa chọn nào khác hơn là chống phe thân Tàu và ủng hộ phe thân Mỹ. Nhưng để có thể được toàn dân hậu thuẫn và tạo thành tổng lực dân tộc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lần này phải thật sự chứng tỏ lời nói đi đôi với việc làm. Những lời chỉ trích Trung Quốc cũa ông Dũng từ hơn một năm nay đã trở nên mạnh mẽ đến mức độ dứt khoát và những phát biểu của ông trong thông điệp đầu năm 2014 gửi nhân dân trong nước đã bộc lộ rõ rệt ý muốn “đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân”, nhưng có thể ông đã không thi hành được ý muốn vì lực cản của đám bảo thủ thân Tàu còn quá mạnh. Tuy nhiên, nếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chọn thái độ dứt khoát và ở trong một tình thế không thể lùi được nữa thì ông phải có ngay một số hành động đột phá, chẳng hạn:
a. Thành lập ngay một Hội đồng Tư vấn về quan hệ Việt-Trung gồm các trí thức và chuyên gia độc lập trong và ngoài nước. Hội đồng này sẽ làm việc với những Ban Đặc nhiệm (Task Force) về lịch sử, pháp lý, và quan hệ quốc tế của chính phủ để đề xuất những chính sách và biện pháp đối phó với những luận điệu xuyên tạc, thủ đoạn hãm hại và hành động uy hiếp của Trung Quốc. Các thành viên trong hội đồng tư vấn và ban đặc nhiệm sẽ thường xuyên tham khảo với các học giả và chiến lược gia quốc tế có thiện cảm với Việt Nam và chống chính sách bành trướng của Trung Quốc (như Carl Thayer, Jonathan London, Ernest Bower, David Brown). Một hồ sơ tội ác và thủ đoạn nham hiểm của Trung Quốc đối với Việt Nam cần được thiết lập để sẵn sàng có bằng chứng tố cáo trước dư luận quốc tế.
b. Gửi một văn thư kêu gọi lãnh đạo các cấp trung ương và địa phương thức tỉnh trước thái độ tráo trở ngạo mạn của Bắc Kinh, xé bỏ các hiệp ước hoà bình hữu nghị giữa hai nước và quyết tâm biến Việt Nam thành một nước chư hầu. Văn thư cũng kêu gọi toàn thể các đảng viên đang hoạt động hay đã hồi hưu, đặc biệt trong quân đội và công an, hãy thực thi truyền thống oai hùng bảo vệ tổ quốc và nhân dân chống quân xâm lược, và sau hết kêu gọi toàn dân đoàn kết để hợp thành sức mạnh dân tộc cứu nguy đất nước. Thế giới văn minh ở thế kỷ 21 sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam vì không một quốc gia nào chịu sự lãnh đạo của một nước cộng sản độc tài như Trung Quốc. Đây có thể là một bản “hịch” lịch sử.
c. Thực hiện tiến trình dân chủ hoá bằng việc ban hành các quyền tự do cơ bản của con người như tự do báo chí, tự do lập hội, tự do tôn giáo…, thả hết những tù nhân chính trị và tù nhân lương tâm bị bắt giữ vì bất đồng chính kiến, đền bù công bằng cho những dân oan bị cưỡng chế đất đai, những công nhân bị bóc lột và đối xử tàn tệ. Về mặt thể chế thì bãi bỏ ngay điều 4 Hiến pháp và thành lập hội đồng lập hiến để soạn thảo một bản Hiến pháp mới trên cơ sở tam quyền phân lập, một quốc hội thực sự do dân bầu và một cơ chế chính trị đa nguyên đa đảng.
Những bước đột phá này nếu được thi hành chắc chắn sẽ được toàn dân nhiệt liệt hoan nghênh, mọi thế lực phản động bán nước và quan thày Bắc Kinh sẽ phải chùn bước, và thế giới dân chủ, văn minh sẽ mở rộng vòng tay đón nhận và giúp đỡ Việt Nam phát triển. Chỉ trong một vài thập kỷ, Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia giàu mạnh trong khu vực.
2. Nhân dân trong nước
Thành phần này tuy không có thực quyền và đã bị áp chế lâu ngày đã bỗng nhỉên bừng tỉnh vì hành động ức hiếp quá đáng của Trung Quốc, đồng thời cũng vì sức chịu đựng chế độ độc tài tham nhũng đã lên đến mức căng thẳng nhất. Trong thời gian chưa đầy một năm, sau những kiến nghị và thư ngỏ đầy thiện chí của nhân sĩ trí thức bị chính quyền vứt bỏ, các nhóm công dân đã liên tiếp theo nhau ra đời không cần xin phép – nay đã lên tới gần ba chục tổ chức – tất cả đều tranh đấu bất bạo động cho nhân quyền và dân chủ. Một xã hội dân sự đã thật sự thành hình mặc dù vẫn thường xuyên bị hạn chế, đe doạ và một số đã bị bắt giữ. Bất chấp lực lượng an ninh, những hoạt động của xã hội dân sự vẫn tiếp tục dưới nhiều hình thức: diễn đàn điện tử, báo mạng, toạ đàm và hội thảo có chủ đề, thư yêu cầu chính phủ kiện Trung Quốc, thư kêu gọi toàn thể các đảng viên đứng chung với nhân dân, trực tiếp vận động và hội họp với các tổ chức quốc tế và các cơ quan đại diện chính phủ nước ngoài ở Việt Nam, thậm chí đã có thể trực tiếp vận động với Quốc hội và Bộ Ngoại giao ở Hoa Kỳ, Lỉên minh Châu Âu và Hôi đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, kể cả đích thân tham gia những cuộc hội thảo của người Việt ở nước ngoài hoặc trao đổi qua màn hình trực tuyến, v.v.
Dù sao, những tổ chức công dân tự phát ở Việt Nam còn quá mới và quá nhỏ. Thực tế là không có một sự thay đổi chính quyền hay thể chế nào có thể diễn ra mà không do sự tranh đấu của một tổ chức quần chúng lớn mạnh như Công đoàn Đoàn kết (Solidarnosc) ở Ba Lan hay một đảng chính trị đối lập có uy tín như Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) ở Myanmar. Việt Nam vì bị cộng sản kìm kẹp quá lâu đã không có được những tổ chức công dân hay đảng phái đối lập và những lãnh tụ nổi bật như Lech Walesa hay Aun Sang Suu Kyi. Vì vậy cần phải có sự xuất hiện của ít nhất một tổ chức đủ lớn và đủ khả năng lãnh đạo quần chúng tranh đấu cho lợi ích của quốc gia. Ba tháng trước đây, tác giả Nguyễn Vũ Bình có một bài viết rất đáng chú ý về sự lớn mạnh của Phong trào Dân chủ trong mấy năm qua nhưng vẫn chỉ là “dấu hiệu cho một sự chuyển đổi cơ bản và toàn diện.”
Trong khi chờ đợi và trước nhu cầu cấp bách của tình thế, các tổ chức công dân riêng rẽ hiện nay cần phải kết hợp với nhau thành một liên minh bình đẳng để phối trí các hoạt động có mục tiêu chung và hỗ trợ lẫn nhau. Như tôi đã đề nghị sơ khởi trong bài “Khúc ngoặt lịch sử” (boxitvn, ngày 14/5/2014): “Các nhóm trong Liên minh này đều độc lập và bình đẳng, hợp tác với nhau trên cơ sở mẫu số chung, đại đồng tiểu dị. Đại diện các nhóm sẽ bầu ra một Hội đồng Điều hành của Liên minh theo lề lối dân chủ, căn cứ trên những điều kiện thích hợp, như hiểu biết, kinh nghiệm, khả năng tổ chức, giao thiệp, v.v. Cũng cần có một bản nội quy ấn định rõ sứ mệnh và cấu trúc của Liên minh, vai trò và trách nhiệm của các nhóm thành viên, nhất là thể thức làm việc cho có hiệu quả và ngăn ngừa được sự lạm dụng quyền lực của một cá nhân hay phe nhóm nào… Như vậy dân tộc mới có đủ sức mạnh bảo vệ độc lập và chủ quyền đất nước đồng thời hậu thuẫn cho sự chuyển đổi thể chế từ độc tài toàn trị sang dân chủ đa nguyên đa đảng một cách trật tự, ôn hoà.” Đây chỉ là sự gợi ý để cho các nhà lãnh đạo xã hội dân sự ở trong nước xem xét và tìm cách thực hiện thích hợp.
Ngày 5 tháng 6 vừa qua, đã có 16 tổ chức xã hội dân sự và tôn giáo lần đầu tiên ngồi lại với nhau tại chùa Liên Trì ở Saigon để thảo luận về sự phát triển XHDS, đòi hỏi chính quyền thực thi những quyền tự do căn bản, và nhấn mạnh vào quyền thành lập công đoàn độc lập. Bốn ngày sau, Liên đoàn Lao động Việt Tự do, gọi tắt là Lao Động Việt (LĐV) ra tuyên cáo xác nhận tham gia cộng đồng xã hội dân sự ở Việt Nam để bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người lao động. Đó là những bước đầu tích cực tiến đến sự ra đời của một loại hình chính thức liên kết các tổ chức dân sự, có lãnh đạo và sinh hoạt dân chủ. Điều đáng lo ngại là giữa các tổ chức vẫn có thể có những trở ngại cho sự phối trí và hợp tác, và điều đó, nếu tồn tại, sẽ là một đại bất hạnh cho dân tộc. Mong rằng các nhà lãnh đạo xã hội dân sự ở trong nước có đủ sự sáng suốt, tinh thần trách nhiệm và ý chí vượt qua mọi trở lực để tạo được sức mạnh toàn dân, điều kiện cần thiết để gìn giữ đất nước, thực hiện tiến trình dân chủ và phát triển.
Vai trò của trí thức đặc biệt quan trọng trong việc đối thoại với chính quyền, vận động các đại sứ quán và cơ quan quốc tế (gồm cả giới truyền thông) có đại diện ở Việt Nam, giúp thành lập Liên minh các tổ chức XHDS và giúp thảo kế hoạch và chương trình hoạt động của liên minh nhằm đẩy mạnh những cải cách về chính trị, kinh tế, giáo dục và xã hội. Trí thức cấp tiến trong hay ngoài Đảng cũng sẽ rất đắc lực trong việc cung cấp thông tin, vận động trí thức và nhân dân Trung Quốc nhận ra chính sách sai lầm và tham vọng lỗi thời của các lãnh đạo Đảng CS đe dọa hoà bình và ổn định trong khu vực, nhất là phá hoại tình thân thiết tự lâu đời giữa hai dân tộc.
Nỗ lực đoàn kết, hợp tác trong tinh thần dân chủ để phục vụ lợi ích chung, bảo đảm lâu dài nền độc lập, toàn vẹn chủ quyền và phát triển bền vững cho đất nước, đó là bước đột phá cần thiết của trí thức và nhân dân trong nước, tự giải thoát ra khỏi mọi áp bức của chế độ cộng sản độc tài, mọi thành kiến nghi kỵ, và giành lại đầy đủ quyền công dân của một nước văn minh, dân chủ.
3. Cộng đồng người Việt hải ngoại
Kiều dân hay công dân ngoại quốc gốc Việt đều được kể là thành phần của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nói gọn là người Việt hải ngoại. Dù ở xa quê hương hay sinh trưởng ở nước ngoài, hầu hết đều vẫn gắn bó tình cảm với nguồn gốc của mình ở những mức độ khác nhau. Tổng số người Việt hải ngoại tính đến nay khoảng trên 4 triệu người, riêng ở Hoa Kỳ có khoảng 2 triệu. Bài này không đi vào chi tiết về lịch sử và đời sống của người Việt hải ngoại mà chỉ tập trung vào vai trò cần thiết và thích hợp của cộng đồng này, đặc biệt là ở Mỹ, đối với tình hình chính trị ở Việt Nam và các quan hệ Việt-Mỹ-Trung.
Nói chung, quan điểm chính trị của Việt kiều ở Nga và các nước Đông Âu trước đây đối với Việt Nam khác xa nếu không muốn nói là đối nghịch với khối người Việt tị nạn ở những nước không cộng sản từ 1975 cho đến khi chế độ cộng sản ở các nước Đông Âu theo nhau sụp đổ trong năm 1989. Kể từ đó, quan điểm của những Việt kiều ở những nước cựu cộng sản đã bắt đầu thay đổi và cùng với các cơ hội giao lưu gia tăng từ đó đến nay, những suy nghĩ về tình hình đất nước và nhu cầu dân chủ hoá chế độ đã gần như đồng nhất trong đại khối người Việt hải ngoại.
Từ năm 2010, tôi đã nêu vấn đề hiểm hoạ Trung Quốc và đề cập vai trò của người Việt hải ngoại trong hai bài viết, “Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc” (talawas, 01/03/2010) và “Trước hiểm họa Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại” (talawas, 02/07/2010). Như vậy đây là lần thứ ba tôi trở lại vấn đề này nhưng có những nhận định phù hợp với những biến chuyển mới của tình hình, đặc biệt khai triển thêm hai phần về vai trò và những bước đột phá cần thiết của chính quyền cũng như của xã hội dân sự. Vì kế hoạch hành động của người Việt ở nước ngoài đã được trình bày khá đầy đủ trong bài viết ngày 02/07/2010 nên ở đây tôi chỉ nhấn mạnh những điểm chính, nhất là vai trò hỗ trợ của cộng đồng hải ngoại, một quan điểm đã được nhắc đến trong bài viết ngày 01/03/2010 nêu trên và xác nhận rõ hơn trong bài “Thư gửi bạn bè trong nước…” (boxitvn, 05/03/2013) rằng “việc thay đổi tình hình chính trị ở Việt Nam là việc làm của người trong nước, còn người ở bên ngoài chỉ có thể đóng vai trò hỗ trợ.”
Những điểm chính được tóm tắt (với đôi chút cập nhật) là:
* Trước hiểm họa Trung Quốc và tình thế cấp bách hiện thời, cần ủng hộ những lãnh đạo thật lòng bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền của Việt Nam. Nếu ngày nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không những chỉ khẳng định quyết tâm ấy mà còn chủ trương dân chủ hoá chế độ thì người Việt hải ngoại càng cần phải hợp tác với các tổ chức xã hội dân sự trong nước hậu thuẫn cho ông Dũng đánh bại phe thân Tàu độc tài toàn trị. Một khi đã thoát Trung và thể chế dân chủ đã có cơ sở thì những tội lỗi và sai lầm cuả chế độ cộng sản sẽ được xử lý một cách công bằng, nhân đạo.
* Trí thức và chuyên gia hải ngoại sẽ cùng với các trí thức chuyên gia yêu nước và cấp tiến ở trong nước đóng góp vào việc giúp chính quyền giải quyết các vấn đề khó khăn về đối nội và đối ngoại, thiết lập các dự án cải cách để có thể ổn định được tình hình chính trị, kinh tế và xã hội, giúp đất nước mau chóng trở thành một quốc gia dân chủ và phát triển. Trong nhiều năm qua, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo, sinh viên và các giới trong và ngoài nước đã có nhiều cơ hội giao lưu, hợp tác, tạo thành một nguồn nhân lực và tài nguyên quan trọng với tiềm năng rất phong phú, sẵn sàng được huy động và sử dụng khi có cơ hội và điều kiện thuận lợi. Các tổ chức phi chính phủ từ bên ngoài với những chương trình y tế, giáo dục và nhân đạo cũng đã tạo được nhiều hạt giống cho sự nảy sinh và phát triển xã hội dân sự.
* Cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện hơn người trong nước trong việc tiếp cận các cơ quan chính quyền, quốc hội, các đại sứ quán và tổ chức quốc tế để vận động cho các chính sách có lợi cho Việt Nam trong việc đối phó với Trung Quốc và thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, xã hội theo chiều hướng dân chủ. Các học giả người Việt ở nước ngoài cũng có nhiều dịp tham gia hội họp và hợp tác với các viện nghiên cứu về Việt Nam, các tổ chức tranh đấu cho quyền con người, các hiệp hội công dân gốc Châu Á-Thái Bình Dương để cùng vận động cho các chương trình, các giải pháp đem lại hoà bình, hợp tác, và phát triển cho các nước trong khu vực.
Việc phân định vai trò của chính phủ, nhân dân và cộng đồng hải ngoại như trên không nhất thiết chỉ thuộc về mỗi thành phần vì trên thực tế có nhiều việc nếu làm chung thì sẽ có hiệu quả hơn. Vấn đề chính là chính phủ – ở đây là chính phủ Nguyễn Tấn Dũng – có đủ quyết tâm thoát ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc và thực thi dân chủ hay không. Tôi biết có nhiều nhân sĩ, trí thức ở trong nước trước đây chống ông nay sẵn sàng giúp ông thay đổi tình thế vì sự tồn vong của đất nước. Đây là một nhiệm vụ lịch sử với muôn vàn khó khăn trước mắt. Trong bài “Việt Nam sẽ ra sao sau bài diễn văn Shangri-La” (boxitvn, 19/06/2013), tôi kết luận bằng một lời cầu nguyện: “Cầu Trời khấn Phật cho ông Nguyễn Tấn Dũng trở thành một Gorbachev Việt Nam”. Nhưng như ngạn ngữ Tây phương đã nói “Hãy tự giúp mình trước thì Trời sẽ giúp ta”, nếu ông Dũng tự giúp ông làm nhiệm vụ lịch sử thì ngoài sự phù hộ của Trời, ông còn có hậu thuẫn của hơn 90 triệu người Việt Nam ở trong và ngoài nước, cộng với sự hỗ trợ tận tình của bạn bè quốc tế. Nếu chẳng may vì lý do nào đó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thất bại, hay quay lưng lại với nhân dân, thì tình huống đó sẽ được Trời và nhân dân xử lý.
Carpe diem! Hãy nắm lấy thời cơ đang có trong tầm tay. Vì đó cũng là cơ hội cuối cùng.
California, 19 tháng Sáu 2014
__________
Tác giả Lê Xuân Khoa nguyên là Chủ tịchTrung tâm Tác vụ Đông Nam Á (SEARAC) và Giáo sư thỉnh giảng Đại học Johns Hopkins, USA.
© 2014 Lê Xuân Khoa & pro&contra
Một cán bộ Viện Nghiên cứu Quốc tế
30-06-2014
Sau hơn 1 tháng xảy ra sự kiện dàn khoan Hải Dương 981 hoạt động ở vùng biển của Việt Nam đã gây ra phản ứng mạnh mẽ phản đối hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam từ Trung Quốc. Lãnh đạo cấp cao Việt Nam đứng đầu là ông Nguyễn Phú Trọng chủ trương phản đối Trung Quốc nhưng không làm tổn hại quan hệ hữu nghị 2 nước Trung Việt và cử sứ thần đàm phán với Trung Quốc trên 30 lần (theo thông báo của BNG Việt Nam – cấp cao nhất là Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh).
Kết quả Trung Quốc chỉ đáp lại Việt Nam không được quấy rối hoạt động của Trung Quốc, chủ quyền biển Đông, Hoàng Sa của Trung Quốc là không bàn cãi. Nếu Việt Nam cố tình quấy rối Trung Quốc thì Việt Nam phải gánh chịu hậu quả. Tập Cận Bình người đứng đầu Trung Quốc cũng đã nói thẳng với PCTN Nguyễn Thị Doan khi tham dự hội nghị ở Thượng Hải rằng Trung Quốc thấy không cần có cuộc gặp cấp cao 2 nước, có gặp đ/c Phú Trọng cũng không giải quyết được gì. Việt Nam cần chấm dứt quấy rối Trung Quốc, điều đó có nghĩa là cánh cửa thương lượng ở cấp cao 2 nước để giải quyết sự kiện Hải Dương 981 đã đóng cửa.
Sự thật diễn ra là việc Việt Nam lên án không có ảnh hưởng gì tới hoạt động của Trung Quốc. Dàn khoan Hải Dương 981 sau hơn 1 tháng đã khoan được 2 mũi cắm vào lòng đất thuộc lãnh thổ của Việt Nam – điều này ai cũng thấy cả rồi. Khoan xong 2 mũi, 981 di chuyển để tránh bão thì Trung Quốc cử Trưởng ban đối ngoại gặp Hoàng Bình Quân – Trưởng ban đối ngoại TW của Việt Nam – các thông tin được tiết lộ chủ yếu phía Trung Quốc vẫn giữ nguyên luận điệu của BNG Trung Quốc là đe doạ, yêu cầu Việt Nam chấm dứt quấy rối Trung Quốc và đưa ra chỉ trích phản ứng của Việt Nam đã phá vỡ quan hệ hữu nghị với Trung Quốc, người bị Trung Quốc chỉ trích đích danh là ông Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vì đã có những bài phát biểu mạnh mẽ lên án Trung Quốc và vạch trần sự thật của các chữ “tốt” cấp cao hai nước đã tặng nhau.
Tiếp theo Trung Quốc cử Dương Khiết Trì, Bộ trưởng NG sang Việt Nam và đã được các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam tiếp và có cuộc hội đàm với PTT Phạm Bình Minh. Đây được coi là lãnh đạo cao nhất của phía Trung Quốc sang Việt Nam vào lúc quan hệ 2 nước đang căng thẳng do Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Sau cuộc gặp này, các phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam đã đưa tin về sự trao đổi “thẳng thắn” ý kiến của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên quan sát kỹ thì lại chưa đưa nội dung Dương Khiết Trì nói gì với các nhà lãnh đạo Việt Nam – điều đó khiến cho dư luận trong và ngoài nước đặt ra nhiều câu hỏi – Tuy có nhiều nhận xét khác nhau nhưng đều thống nhất chuyến đi của Dương Khiết Trì sang Việt Nam lần này mang nhiều tiêu cực hơn tích cực – với động cơ và mục đích rất thâm hiểm, tạm phân tích là:
Một là, củng cố (trấn an) cho 1 số lãnh đạo cấp cao của Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc như Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh, Đinh Thế Huynh, Phạm Quang Nghị rằng Trung Quốc luôn đứng sau họ, nhưng họ phải kiềm chế được các phản ứng đối với Trung Quốc.
Hai là, chia rẽ lãnh đạo cấp cao của Việt Nam, Trung Quốc hiểu rất sâu tình hình nội bộ Việt Nam, vừa qua báo chí Trung Quốc thông tin, Trưởng ban đối ngoại TW của Trung Quốc khi gặp ông Hoàng Bình Quân đã chỉ trích mạnh mẽ sự phản ứng của Việt Nam. Đặc biệt là chĩa vào ông Nguyễn Tấn Dũng, cho rằng các phát biểu của Thủ tướng Việt Nam đã phá vỡ quan hệ 2 nước Trung-Việt.
Ba là, tiếp tục đe doạ và trói các nhà lãnh đạo Việt Nam vào 4 tốt, 16 chữ vàng, và đưa ra cho các nhà lãnh đạo Việt Nam một số nguyên tắc mới “4 không” là: không được quấy rối Trung Quốc, Hoàng Sa là của Trung Quốc không bàn cãi, xung đột biển Đông do lãnh đạo 2 nước bàn với nhau; Việt Nam không được kiện ra toà án quốc tế; không được lôi kéo các nước vào câu chuyện này, không để Mỹ và phương Tây lợi dụng diễn biến hoà bình phá hoại 2 nước. Nếu Việt Nam vi phạm nguyên tắc đó thì Việt Nam sẽ chịu hậu quả.
Bốn là, chia rẽ và phá hoại, ngăn chặn sự ủng hộ của các nước về các biện pháp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam bằng việc tạo ra những tín hiệu để các nước cảm nhận giữa Việt Nam và Trung Quốc đã đi đêm với nhau mà nản lòng.
Qua quan sát các hoạt động của các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam cho thấy sau chuyến đi của Dương Khiết Trì thì sự lên tiếng phản đối Trung Quốc có sự hạ giọng hơn. Nguyên nhân, theo các nguồn tin cho biết vừa qua ông Nguyễn Phú Trọng đã có chỉ đạo nội bộ đấu tranh với Trung Quốc phải mềm mỏng, không làm tổn hại tới 4 tốt và 16 chữ vàng- hạn chế đưa tin, không được để Trung Quốc mất lòng. Tiếp tục cử đoàn đám phán với Trung Quốc, chưa cần thiết phải khởi kiện. Ông Tổng Bí thư còn đưa ra lời cảnh cáo những đơn vị và cá nhân có phản ứng làm Trung Quốc phật ý. Đáng lưu ý còn có rỉ tai trong nội bộ rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị Bộ Chính trị phê bình vì đã lên án Trung Quốc quá mạnh mẽ. Ông Chủ tịch nước cũng nhân chuyện này mà lên tiếng trước bàn dân thiên hạ. Ông đã khôn khéo gọi TTXVN đến phỏng vấn, ông tỏ ra là một người có lập trường cứng rắn bảo vệ chủ quyền của đất nước, phản đối Trung Quốc-rồi ông chỉ đạo đài truyền hình lấy ý kiến người dân ca ngợi bài phát biểu của ông, nhưng ông lại không cân nhắc kỹ bài phát biểu của mình là nhắc lại lời của tiền nhân, đại ý là nếu có vấn để gì làm đại quốc phật ý thì phải cử sứ thần sang đại quốc tâu bẩm cho tường tận. Rốt cuộc CTN Trương Tấn Sang vẫn phải tuân thủ nguyên tắc của Dương Khiết Trì đã đặt ra là việc của 2 nước do 2 nước bàn với nhau, qua đó cho thấy Trương Tấn Sang cũng không thoát được định mệnh lịch sử – thắng hay hoà cũng phải cầu kiến, cống nạp cho đại quốc. Đại quốc quyết định vận mệnh của chư hầu.
Nắm được động thái này mấy ngày cuối tháng 6, Trung Quốc hoạt động hung hăn hẳn lên, họ lại kéo thêm dàn khoan vào vùng biển nước ta, khoan mũi thứ 3- các tàu chấp pháp, kiểm ngư của Trung Quốc hung hăng hơn nhiều, đâm thẳng vào các tàu kiểm ngư của Việt Nam làm hư hỏng nhiều chiếc, tin trong và ngoài nước đã đưa đầy đủ về các hành động bạo ngược của Trung Quốc, có điều là Việt Nam cứ phản đối còn Trung Quốc cứ hành động, Phép thử 981 đã đo được phản ứng của Việt Nam, đã không gây được trở ngại gì cho hoạt động chiếm biển Đông của Trung Quốc. Những gì Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở biển Đông họ sẽ thực hiện quyết liệt vào những năm tới, bao gồm khai thác tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng trên các đảo để khẳng định lãnh thổ của họ. Khi họ hoàn thành các mục tiêu thì có làm gì cũng đã muộn, phải chấp nhận thực tế.
Thế là đã rõ, Trung Quốc đã thắng, thắng ngay từ trong nội bộ của Việt Nam- những kẻ lãnh đạo bị Trung Quốc thuần phục trước mắt đã làm được một điều Trung Quốc vừa ý – là mềm mỏng để giữ đại cục, không cần quốc tế ủng hộ để chống diễn biến hoà bình. Hành động như thế chả khác gì dâng biển Đông cho Trung Quốc để được tình hữu nghị mong manh.
Diễn biến âm mưu của độc chiếm biển Đông của Trung Quốc thì dàn lãnh đạo Bộ Chính trị đều đã biết cả! Vậy vì cái gì và do ai khiến mà họ không đưa ra được biện pháp gì để ngăn chặn mưu đồ Trung Quốc ngoài mềm mỏng đấu tranh ngoại giao??? Các nhà phân tích đặt câu hỏi, liệu có Hoàng Văn Hoan thứ 2 trong nội bộ cấp cao của Việt Nam không? Rất có thể, nhưng trước tiên phải xét tới yếu tố người đứng đầu Đảng này không đủ tầm lãnh đạo đất nước, họ mê muội không thoát ra được những quan niệm cũ lỗi thời, rơi vào trạng thái bung biêng (mất tự chủ) bạn-thù không rõ, họ bị một đám cơ hội chỉ lối làm những điều thân Trung Quốc, có hại cho đất nước-đắm chìm vào các biện pháp gây mâu thuẫn nội bộ, sợ Trung Quốc mà không nhìn thấy nguy cơ đe doạ đất nước là gì và từ đâu.
Mọi người dân hiện nay đều nhận thức rõ ai là người tâm huyết vì đất nước, ai là người làm hai đất nước – người dân còn như vậy còn họ với tư cách là người lãnh đạo không có lý gì lại không nhận thức được điều đó, họ đã cố tình lờ đi sự thật. Vì vậy, mong rằng những người tâm huyết với đất nước trong giới lãnh đạo phải thoát ra khỏi các nghị quyết không hợp lòng dân – làm cho những người mê muội có cơ hội hiểu được họ không đủ năng lực lãnh đạo đất nước vào lúc này. Nếu họ cứ cố bám vào chức vụ ho đang nắm giữ thì việc đối phó với Trung Quốc xâm chiếm biển Đông sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại, nội bộ sẽ bất yên.
Khó khăn lớn nhất trong việc đối phó với Trung Quốc xâm chiếm biển Đông là nhận thức về mưu đồ của Trung Quốc. Chuyến đi của Dương Khiết Trì tới Việt Nam vừa qua và những gì diễn ra sau đó không phải mang đến những giải pháp tích cực giữa hai nước về biển Đông, nó chứa đựng một mưu đồ nham hiểm, vừa trấn an, vừa đe doạ, tạo các yếu tố mâu thuẫn nội bộ, chia rẽ quan hệ quốc tế, tạo ra tâm trạng bung biêng, mơ hồ do dự trong hệ thống lãnh đạo Việt Nam và gây sự hoài nghi cho các nước để họ nản chí ủng hộ Việt Nam, để rồi bị cô lập, ngồi nhìn Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm biển Đông của nước ta./.
Một cán bộ Viện Nghiên cứu Quốc tế (xin được phép giấu tên)
Tác giả gửi Quê Choa
Hà Văn Thùy
22-06-2014
Trên điễn đàn gần đây khá ồn ào chuyện “thoát Trung”, thậm chí có cả một hội thảo về chủ đề này. Tuy nhiên có cảm tưởng là, chưa ý kiến nào “lọt tai” để có thể ứng dụng trong thực tế! Cân nhắc những phát ngôn giầu nhiệt huyết, có vẻ trí tuệ này lại thấy, phần nhiều được nói theo cảm tính, không có sự minh triết cần thiết. Vì sao vậy? Phải chăng vì người nói chưa hiểu điều mình nói? Miệng nói “thoát Trung” mà đầu chẳng biết Trung là ai mà Việt là ai?! Muốn thoát một cái mà mình chưa hiểu nó là gì khác nào kẻ đi đêm chạy trốn bóng ma?!
Sáu chục năm trước, đứa bé 10 tuổi là tôi trong khi điếu đóm hầu các cụ, nghe lỏm được: “Hoa Việt đồng văn đồng chủng.” Không hiểu sao câu nói đó thành nỗi ám ảnh: vì sao chúng ta lại đồng chủng đồng văn với kẻ thù truyền kiếp? Gần suốt cuộc đời đi hỏi nhiều người nhưng chưa câu trả lời nào khiến tạm yên bụng. Phải đến ngoài tuổi nhi nhĩ thuận tôi mới tìm được lời giải cho mình!
Từ rất xa xưa, người Việt cổ đi lên khai phá đất Trung Hoa. 4000 năm TCN, tổ tiên ta xây dựng trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử nền văn minh lúa nước rực rỡ nhất thế giới. Năm 2698 TCN, người du mục Mông Cổ đánh chiếm vùng cao nguyên Hoàng Thổ ở trung du Hoàng Hà, lập vương triều Hoàng Đế. Thắng trận nhưng do văn hóa chưa phát triển và nhân số ít, người Mông Cổ bị người Việt đồng hóa. Lớp con lai Mông-Việt ra đời, được gọi là Hoa Hạ, mang dòng máu Việt, bú sữa Mẹ Việt, học tiếng nói, cách trồng kê, trồng lúa cùng phong tục tập quán Việt. Sau bốn đời, vua Đế Khốc đã là người Việt với nước da đen và được đặt tên theo tên của loài chim Cốc. Được thụ hưởng hai dòng máu và hai văn hóa, người Hoa Hạ có phẩm chất vượt trội, trở thành tầng lớp ưu tú lãnh đạo cộng đồng Việt, sáng tạo thời Hoàng Kim trong lịch sử phương Đông từ Nghiêu, Thuấn tới Hạ, Thương, Chu. Nhận được tư liệu lịch sử từ triều Thương, Chu, thiên tài Khổng Tử đã đúc kết tinh hoa của văn minh tổ tiên Việt trong những bộ kinh điển kỳ vĩ… Suốt 2000 năm, do sự khuất lấp của lịch sử, chúng ta không biết rằng, chẳng những kinh điển ấy do tổ tiên ta sáng tạo mà chữ vuông tượng hình cũng do người Việt làm ra. Càng không ngờ rằng, trong khi các giáo sư danh tiếng dạy “tiếng Việt mượn 70% từ ngôn ngữ Hán” thì trên thực tế, “tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa!” Chả có gì khó hiểu nếu ta biết rằng, người Hán chiếm 93% dân cư Trung Hoa, chính là người Việt. Cái nhóm người được gọi là Hoa Hạ chỉ tồn tại ngắn ngủi để rồi hòa tan trong khối dân Việt khồng lồ. Lưu Bang, Cao tổ nhà Hán chính là người Việt được sinh ra ở đồng bằng Trong Nguồn của nước Ư Việt cổ, nơi có con sông Nguồn. Về sau, con cháu không phát âm được vần “ng” nên nói trại Nguồn thành Hon, Hòn, Hớn. Do Lưu Bang quê bên sông Hòn nên Hạng Vũ phong ông là vua Hòn, sau chuyển thành Hán vương. Nước Hán cùng tộc Hán ra đời như vậy! Là người Việt 100%, hoàn toàn không dính dáng gì tới máu huyết Hoàng Đế nhưng Lưu Bang và đồng bào của ông vẫn tự nhận là Hoa Hạ! Máu Hoa Hạ biến mất nhưng danh xưng Hoa Hạ thì còn và bị các vương triều Trung Hoa tiếm dụng!
Đấy là Trung Quốc! Còn người Việt?
Cũng vào cái năm 2698 định mệnh ấy, trong khi đại bộ phận người Việt vùng Núi Thái Sông Nguồn ở lại quê hương thì một bộ phận theo Lạc Long Quân vượt Hoàng Hà ra biển, đổ bộ vào Rào Rum, Ngàn Hống xứ Nghệ. Tại đây vua Hùng lập nước. Đó là cuộc đổi quốc hiệu Xích Quỷ ra đời năm 2879 TCN thành Văn Lang và dời đô từ Ngũ Lĩnh tới Việt Trì. Người Mongoloid trong đoàn di tản hòa huyết với người Austrtaloid bản địa, sinh ra người Mongoloid phương Nam văn hóa Phùng Nguyên, là tổ tiên chúng ta hiện nay.
Vậy là người Trung Hoa cùng với chúng ta một dòng máu. Không chỉ thế, còn chung tiếng nói, chữ viết và những thành tựu văn hóa vĩ đại khác. Do nhận chân điều này nên cha ông chúng ta từ xa xưa ghi nhớ: Việt Hoa đồng văn đồng chủng.
Có một điều khác: trước đây chúng ta được dạy rằng người Trung Hoa đồng hóa dân Việt về máu huyết lẫn văn hóa. Nay thì khám phá sự thật ngược lại: người Trung Hoa là con cháu của người Việt, được thừa hưởng từ tổ tiên Việt không chỉ dòng máu, tiếng nói, chữ viết mà cả nền văn hóa rực rỡ. Mọi thành tựu văn hóa được tạo dựng trên đất Trung Hoa đều bắt nguồn từ văn hóa Việt!
Một câu hỏi nảy sinh: Vậy “thoát Trung” là thoát ở chỗ nào? Sự thực, cho tới nay chưa có ai phân định được chuyện này. Khổng Tử dạy học trò: “Người phương Nam khác ta là họ trồng lúa nước, ăn gạo, còn ta ăn kê mạch.” Cái khác này nếu có cũng chỉ là về phương thức sinh hoạt, không mang tính bản chất. Nhưng thực ra điều này không đúng: cả kê, cả lúa đều do người Việt đưa lên. Nhưng vì cao nguyên Hoàng Thổ khí hậu khô không hợp với lúa nước nên cây kê thành cây trồng chính của dân cư văn hóa Ngưỡng Thiều cho tới thời Khổng Tử. Có lẽ, cái khác biệt Nam-Bắc thực sự là nhận định của Khổng Tử trong sách Trung Dung:
“Tử-Lộ vấn cường. Tử viết: “Nam phương chi cường dư? Bắc phương chi cường dư? Ức chi cường dư? Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường dã, quân tử cư chi. Nhậm kim cách, tử nhi bất yếm, bắc phương chi cường dã, nhi cường giả cư chi. Cố quân tử hoà nhi bất lưu: cường tai kiểu; trung lập nhi bất ỷ cường tai kiểu, quốc hữu đạo bất biến tắc yên, cường tai kiểu; quốc vô đạo chí tử bất biến, cường tai kiểu”!
Tử Lộ hỏi về sức mạnh, Khổng Tử nói:
“Là cái cương cường của người phương nam ư? Hay là nói cái cương cường của người phương bắc? Hay là nói cái cương cường (theo kiểu) của riêng ngươi? Dạy bảo người ta một cách khoan dung dịu dàng, không trả thù kẻ vô đạo đó là cái cương cường của người phương nam, người quân tử giữ sự cương cường đó. Còn ngày đêm bạn cùng giáp bền gươm sắc, dẫu chết cũng không ngán, đó là cái cương cường của người phương bắc, những kẻ thượng võ hiếu đấu thì giữ sự cương cường này! Người quân tử sống hòa mục với mọi người, nhưng không buông trôi theo thói tục, đấy mới là sự cương cường chân chính.” Chính ở đây, Khổng Tử chỉ rõ cái khác nhau giữa phương Nam và phương Bắc, những phẩm tính được hình thành trong lịch sử.
Sự hòa hợp văn hóa Việt Mông đã tạo nên thời Hoàng Kim Nghiêu, Thuấn. Đến cuối triều nhà Hạ, yếu tố du mục trỗi lên trong dòng máu Hoa Hạ, sinh ra vua Trụ tàn bạo, dẫn tới cuộc chiến khốc liệt lập nhà Thương. Rồi như sự tất yếu, nhà Thương lặp lại sai lầm của nhà Hạ, dẫn tới cuộc chiến tranh lập nên nhà Chu. Suốt thời gian này, người du mục xâm nhập, góp phần chuyển hóa văn hóa Hoa Hạ, đem tới sự thắng thế của tinh thần du mục, điều mà tác giả Khương Nhung thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết Totem Sói. Dòng máu sói dẫn tới những cuộc chiến tranh tàn khốc thời Chiến Quốc. Không hề dừng lại, nó tiếp tục chảy trong huyết quản các hoàng đế Trung Hoa từ Tần, Hán tới Tống, Nguyên, Thanh và được tăng cường dưới ngọn cờ chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mao hôm nay! Kho tàng minh triết Việt được kết tinh trong những kinh thư của Khổng Tử bị giới trí thức xu phụ vương quyền chuyển hóa thành Hán nho, Tống nho, Minh, Thanh nho phục vụ triều đình, đàn áp nhân dân, mở rộng xâm lăng chiếm đoạt, nô lệ các dân tộc khác trong khi lừa mị bằng uy danh Hoa Hạ cùng “sứ mệnh thiên tử” “khai hóa” các dân man di! Không chỉ người dân Trung Quốc lĩnh đủ cái cương cường hoang dã của dòng máu sói mà bên cạnh Trung Hoa, Việt Nam cũng nếm mùi cay đắng.
Tuy là người phương Nam, thấm nhuần tư tưởng “Khoan nhu dĩ giáo” nhưng không phải trong huyết quản chúng ta không có máu sói. Không thể kể hết những tội ác của vương triều Việt Nam gây ra với người dân trong nước cũng như đồng bào Khmer, đồng bào Chăm. Đó chính là “tội tổ tông” mà chúng ta mặc nhiên phải gánh chịu!
Xin hãy trả lời tôi: trong bối cảnh phức hợp lịch sử-văn hóa đó, thì “thoát Trung” là thoát cái gì? Làm sao mà “thoát Trung” khi đồng văn đồng chủng? Chối bỏ học thuyết Khổng Tử trong văn hóa, tâm linh cũng vô nghĩa như chối bỏ dòng máu Mông Cổ trong huyết quản vậy! Càng hoang đường hơn khi có người kêu gào “thoát Á để phát triển!” Làm sao mà “thoát Á” khi Việt Nam là trung tâm sản sinh con người cùng văn hóa châu Á?! Một ý tưởng hư vô tại hại, dẫn người ta lạc lối!
Do suy nghĩ như vậy, tôi cho rằng, không nên làm những việc không thể làm! Không cần phải “thoát” Trung mà chúng ta cần hiểu chân thực về Trung Quốc, về bản thân mình để đương đầu với vận mệnh mà lịch sử đã sắp đặt!
Tổ tiên chúng ta từng di chúc: “Yêu nhau rào dậu cho chắc!” Cách ứng xử này không chỉ với hàng xóm mà cả với lân bang. Một đất nước dân chủ, người dân được tự do, gắn bó máu thịt với chính quyền thực sự của mình. Một quân đội hùng mạnh đủ để giữ gìn đất nước. Một biên giới vững vàng như thành đồng vách sắt. Một thể chế chính trị tự chủ. Một nền kinh tế độc lập. Một quan hệ thân thiện, bình đẳng với các quốc gia láng giềng… Thực hiện lời dạy của Khổng Tử: “Người quân tử sống hòa mục với mọi người, nhưng không buông trôi theo thói tục.” Làm được như vậy, không cần phải “thoát” cái gì cả, chúng ta sẽ sống vững vàng với người anh em đồng văn đồng chủng, núi liền núi, sông liền sông.
Sài Gòn, 22 tháng 6.
Viện Friedrich Naumann vì tự do
Phan Ba dịch
Cuộc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc về các quần đảo ở biển Đông thống trị những cuộc thảo luận ở Việt Nam. Áp lực nặng nề của láng giềng to lớn cũng thúc đẩy cuộc tranh cãi nội bộ về những cải cách cần thiết và để cho người ta nhận ra được sự hình thành phe phái trong Đảng Cộng sản.
Tàu Trung Quốc trước giàn khoan, tháng Năm 2014. Hình: Asia Pacific Defense Forum
Leo thang trên biển
Từ ngày 1 tháng Năm, Trung Quốc đã đặt giàn khoan HD-981 to lớn vào vùng biển 200 hải lý được Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở biển Đông. Sự kiện này đã dẫn tới bước leo thang lớn nhất lâu nay trong quan hệ vốn cũng đã căng thẳng giữa hai đất nước cộng sản. Hiện giờ, Trung Quốc đã gởi sáu tàu chiến, 36 tàu cảnh sát, 21 tàu vận tải và 44 tàu đánh cá tới vùng biển tròn mười hải lý quanh giàn khoan. Ở phía Việt Nam có 63 tàu cảnh sát và đánh cá. Việt Nam cáo buộc Trung Quốc đã đâm va vào tàu thuyền của họ và đã tấn công bằng súng phun nước mạnh. Qua đó 24 tàu cảnh sát Việt Nam được cho là đã bị hư hỏng nặng và hàng chục người đã bị thương. Một tàu đánh cá Việt Nam bị chìm. Ngược lại, Trung Quốc cáo buộc Việt Nam đã đâm húc tàu của họ 1416 (!) lần. Trong một kháng thư gửi lên Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc cáo buộc Việt Nam tiến hành một chính sách thù địch đối với Trung Quốc và người Trung Quốc. Có ý muốn nói tới là những cuộc biểu tình bạo lực ở miền Nam và Trung Việt Nam trong tháng Năm mà trong đó hàng trăm xí nghiệp Trung Quốc và nước ngoài khác đã bị phá hủy, bốn người Trung Quốc bị giết chết và hơn một trăm bị thương.
Phản ứng trên đất liền
Kể từ lúc đó, bước leo thang này là tâm điểm trong các truyền thông Việt Nam do nhà nước định hướng. Nhiều trí thức Việt Nam và cựu quan chức cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), những người thường được gọi là “nhà cải cách”, nhìn tình huống này không chỉ là một mối đe dọa mà còn là cơ hội, để giải phóng Việt Nam ra khỏi “ách Trung Quốc” và cải tổ đất nước theo hướng dân chủ. Vì trước sau thì đất nước này vẫn đứng dưới sự thống trị của một đảng và mặc cho sự phát triển hết sức nhanh chóng về kinh tế vẫn chiếm những thứ hạng sau cùng trong các chỉ số như Freedom Barometer Asia.
Bức thư ngỏ của giới trí thức gởi Đảng
Vào ngày 25/5/2014, hàng trăm nhà trí thức đã viết một bức thư ngỏ gởi ĐCSVN. Lá thư này được đăng trong diễn đàn Internet boxitvn.net từ nhiều tuần nay. Giới trí thức và khoa học đã thành lập diễn đàn này năm năm trước, để phản đối các dự án bôxít của chính phủ, cộng tác với công ty Trung Quốc tại Lâm Đồng trên cao nguyên Việt Nam. Hiện nay đã có hàng ngàn người Việt ký tên, các nhà trí thức nổi tiếng của Việt Nam trong và ngoài nước. “Tình thế hiểm nghèo … đòi hỏi phải phân tích, dự báo diễn biến và có đối sách chủ động ứng phó. Trách nhiệm này được đặt ra trước hết cho cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)”. Những phản ứng dè dặt như phản ứng của tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng bị phê phán là “vô trách nhiệm”. Ngược lại, các hành động của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại nhận được nhiều khen ngợi. Trong một bài diễn văn ở Manila vào ngày 22/5, thủ tướng đã nói: “Chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi … nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.”
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Manila , 22/5/2014. Hình: Sikarin Thanachaiary
Phe phái hình thành trong ĐCSVN
Những lời đồn đại về sự chia rẽ trong ĐCSVN đã có từ lâu. Người ta cho rằng có một cánh theo phương Tây với thủ tướng Dũng và một cánh theo Trung Quốc với sếp ĐCSVN Trọng. Người ta cũng có thể nhận ra phỏng đoán này trong bức thư ngỏ của giới trí thức gởi ĐCSVN. Trong đó có viết: “Tình hình hiện nay đòi hỏi và tạo cơ sở cho các cán bộ, đảng viên trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước cùng với nhân dân vạch rõ và đấu tranh không khoan nhượng chống lại những quan điểm và thái độ nhu nhược đối với kẻ xâm lược…đặc biệt là những kẻ có quan hệ mờ ám với nhà cầm quyền Trung Quốc.” Cuối cùng, bức thư đi tới thông điệp chính, rất đáng để chú ý: “Chúng tôi tin tưởng rằng cuộc đấu tranh nêu trên của những đảng viên vì nước vì dân của Đảng CSVN sẽ được nhân dân nhiệt tình ủng hộ, góp sức. Mọi người Việt Nam hãy đồng lòng kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia bằng nhiều hình thức thể hiện rõ tính chính nghĩa và nhân văn, hết sức cảnh giác trước những thủ đoạn kích động của thế lực bành trướng Trung Quốc và tay sai, hết lòng cổ vũ, hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ biển đảo và ngư dân bám biển, đồng thời góp phần tích cực thúc đẩy cải cách chính trị, xây dựng nền dân chủ và pháp trị thực sự, đổi mới và phát triển kinh tế, văn hóa để bảo vệ chủ quyền, đưa đất nước thoát khỏi lệ thuộc và tụt hậu.”
“Làm thế nào để thoát Trung?”
Trong một hành động hết sức đáng chú ý, nhà xuất bản Tri Thức (Knowledge Piblishing House) đã cùng với quỹ Phan Chu Trinh tổ chức một cuộc hội thảo công khai vào ngày 5/6/2014 với đề tài “Làm sao để thoát Trung?” Người tổ chức là giáo sư Chu Hảo nổi tiếng, giám đốc nhà xuất bản Tri Thức. Chu Hảo, sinh năm 1940, đã từng là thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ từ 1996 đến 2005. Cha ông, Chu Đình Xương, là một nhà cách mạng trước đây đã thuộc giới thân cận nhất xung quanh Hồ Chí Minh (Chu Đình Xương là sếp công an của miền Bắc Việt Nam trong năm 1945). Trong những năm 1950, Chu Hảo là học trò được gởi sang Trung Quốc, rồi ông học đại học ở Liên Xô trong những năm 60 và hoàn thành luận án tiến sĩ trong những năm 70 ở Paris. Năm 2005, ông lui ra khỏi tất cả các chức vụ chính trị và thành lập nhà xuất bản Tri Thức nằm dưới sự bảo trợ của Hội Khoa học và Kỹ thuật. Từ đó, ông đã xuất bản hàng trăm quyển sách cổ vũ khai trí, nhà nước pháp quyền và dân chủ, một phần cũng được Viện Friedrich Naumann vì tự do hỗ trợ, ví dụ như Chủ nghĩa Tự do của Ludwig von Mises.
Từ một vài năm nay, nhiều nhà trí thức nổi tiếng đã tụ tập quanh nhà xuất bản Tri Thức, quỹ văn hóa Phan Chu Trinh và diễn đàn Bauxite, ví dụ như khoa học gia và nhà phê phán Nguyễn Quang A (ông bị ĐCSVN nhìn như là một nhà bất đồng chính kiến), tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (cựu đại sứ tại Trung Quốc) hay triết gia, người dịch Kant Bùi Văn Nam Sơn. Cho tới nay, các diễn đàn này được ĐCSVN khoan dung cho, có lẽ vì những người trí thức này không trực tiếp chống lại quyền lực của ĐCSVN (phần lớn họ là đảng viên), mà ủng hộ một cuộc cải cách từng bước một.
Tiến sĩ Chu Hảo (đứng) tại hội thảo “Làm thế nào để thoát Trung?”. Hình: Nguyen Duc Thanh, VEPR
Ba tiên đề và bảy trụ cột
Đã có nhiều mong đợi hội thảo này, nhưng đáng tiếc là ít nghe được những điều gì thật sự mới. Hai đề tài được những người tham dự thảo luận: sự phụ thuộc về ý thức hệ và về kinh tế vào Trung Quốc. Từ nhiều thập niên nay, ĐCSV nhìn mô hình Trung Quốc và thành công kinh tế như là một tấm gương và cố gắng sao chép càng nhiều càng tốt từ Trung Quốc. Nhưng đó là một sai lầm, theo thảo luận, vì qua đó, Việt Nam tiếp tục đi sau Trung Quốc cả về kinh tế lẫn ý thức hệ. Liệu đó có là một luận cứ thuyết phục và nên theo đuổi hay không thì vẫn còn là câu hỏi. Nhưng rất đáng tiếc là cho tới nay vẫn chưa được thảo luận một cách hợp lý. Người ta đơn giản chấp nhận nó và nhanh chóng đi đến những giải pháp mang tính hời hợt, truyền thống.
Tiến sĩ Giáp Văn Dương, người được mời đến để diễn thuyết và cũng là nhà thành lập học viện trực tuyến độc lập đầu tiên ở Việt Nam (GiapSchool), ngược lại đã giải thích rõ ràng: Giải pháp duy nhất cho câu hỏi “Làm sao để thoát Trung?” là: Việt Nam phải phát triển nhanh hơn và bền vững hơn Trung Quốc! Làm thế nào để đạt được điều đó? Bằng cách là giới lãnh đạo Việt Nam tuân theo ba tiên đề: (1) Ưu tiên cho lợi ích quốc gia (chứ không cho lợi ích ý thức hệ), (2) Phát triển tốt hơn và bền vững hơn trên cơ sở chất lượng của các thể chế và nguồn nhân lực, và (3) Ổn định qua phát triển (chứ không phải phát triển qua ổn định).
Trong đó, xã hội Việt Nam cẩn phải đứng trên bảy trụ cột, tức là (1) Con người tự do, (2) Giáo dục khai phóng, (3) Xã hội dân sự, (4) Hành chính chuyên nghiệp, (5) Mô hình dân chủ (6) Kinh tế thị trường tự do, (7) Nhà nước pháp quyền.
Tất nhiên là các giải pháp do tiến sĩ Giáp Văn Dương đưa ra được những nhà cải cách và đấu tranh cho dân chủ ủng hộ. Tuy vậy, chúng không phải là mới và trước hết là trong hình thức này thì không đủ cụ thể. Những giải pháp tương tự như vậy, đặc biệt là về việc cải cách chính trị ý thức hệ của đất nước, đã được thảo luận từ nhiều năm nay trong các diễn đàn khác nhau. Thế nhưng hiện thực cho tới nay là: giới lãnh đạo ĐCSVN không muốn lắng nghe bất cứ điều gì từ đó và ngay cả khi họ có nghe điều gì từ đó thì họ cũng không muốn thảo luận.
“Làm thế nào để thoát Trung? Thưa quý vị, câu hỏi tốt hơn là: Làm thế nào để thoát ĐCSVN?”, tiến sĩ nguyễn Quang A nói với tính hài hước vốn có của ông. Những người tham dự cười to. Nhưng không có câu trả lời cho câu hỏi này.
Hội thảo “Làm thế nào để thoát Trung?”. Hình: Nguyen Duc Thanh, VEPR
Cũng là thời gian sôi động cho đề tài công đoàn tự do
Câu hỏi cải cách và dân chủ hóa đất nước cho tới nay không được thảo luận công khai ở Việt Nam. Các nhà phê phán Đảng và hệ thống bị lực lượng an ninh giám sát chặt chẽ. Mỗi năm có hàng chục người và nhóm, trong đó có nhiều blogger, bị tuyên xử án tù nhiều năm vì có những “hành động trái pháp luật” như “tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa”, “phổ biến tài liệu phản cách mạng”, “mưu đồ lật đổ chính quyền nhân dân” hay “trốn thuế”. Việt Nam vẫn còn chưa có các đạo luật cho hội họp nơi công cộng (như biểu tình), công đoàn độc lập hay tổ chức phi chính phủ.
Mối đe dọa Trung Quốc, láng giềng “không ưa thích” với cùng một mô hình chính trị, có thể sẽ trở thành một cơ hội được chào đón để thúc đẩy Việt Nam phát triển theo hướng dân chủ Phương Tây. Các quan hệ mật thiết hơn với Hoa Kỳ và Nhật Bản đang được thảo luận sôi nổi. Việt Nam cần đồng minh và đối tác mới. Nhưng giá phải trả cho việc đó là sự thay đổi của Việt Nam.
Vào ngày 8/6/2014, đại diện của 17 “tổ chức dân sự” Việt Nam đã hội họp tại thành phố Hồ Chí Minh – tất cả đều không được nhà nước công nhận – để đưa ra một tuyên bố chung về “Sự cần thiết của công đoàn độc lập ở Việt Nam”. Lần này thì tiếng nói của họ có được ĐCSVN lắng nghe hay không? Hay họ lại bị truyền thông nhà nước mắng chửi hạ thấp là “vô lý” và “không đúng lúc” như các nhóm khác trong quá khứ (Nhóm 8406, Nhóm 72)?
Kết luận
Liệu mối đe dọa từ bên ngoài có dẫn tới các cải cách chính trị trong nước hay không, điều này khó mà tiên đoán được. Kinh nghiệm của quá khứ thường hay minh chứng cho điều ngược lại. Hans Georg Jonek, giám đốc văn phòng Viện Friedrich Naumann ở Việt Nam, cho rằng mặc dù vậy, người ta có thể nhận thấy rõ tại các cuộc thảo luận này, rằng sự việc giàn khoan Trung Quốc không chỉ là một vấn đề chưa được giải quyết về tranh chấp lãnh thổ mà còn dẫn tới các câu hỏi về ý thức hệ và hệ thống. “Cuộc xung đột một phần được sử dụng trong chính trị đối nội một cách rõ ràng đến mức đáng ngạc nhiên”, theo Jonek.
Đội ngũ văn phòng Viện Friedrich Naumann tại Hà Nội, Việt Nam.
Phan Ba dịch từ freiheit.org
Nguồn bản dịch: phanba.wordpress.com
Tường An
Cô Đỗ Thị Minh Hạnh (trái) tại nhà riêng sau khi ra tù. FB Photo
Sau ba năm bị giam cầm qua nhiều trại tù khác nhau, nhà hoạt động công đoàn trẻ tuổi Đỗ Thị Minh Hạnh vừa được trả tự do hôm thứ Sáu 27 vừa rồi. Từ Paris, thông tín viên Tường An của Đài Á Châu Tự Do đã có cuộc phỏng vấn đặc biệt với Cô Đỗ Thị Minh Hạnh, mời quý vị theo dõi:
Vì quê hương đất nước
Đỗ Thị Minh Hạnh, người tù nhân lương tâm, nhà hoạt động công đoàn vừa được trả tự do ngày 27 tháng 6 năm 2014.
Đỗ Thị Minh Hạnh bị bắt ngày 23 tháng 2 năm 2010 cùng với hai người bạn đồng hành là và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương, cô bị tuyên án 7 năm tù trong phiên phúc thẩm ngày 18 tháng 3 năm 2011. Lúc đó cô vừa tròn 26 tuổi.
Trong hơn ba năm trời, Hạnh đã bị chuyển đi 5 trại giam: Trà Vinh, Long An, Bình Thuận, Đồng Nai và Thanh Xuân.
Cuộc đời hoạt động của Hạnh không có những dấu chấm xuống hàng. Nó là một chuỗi dài tất bật khi cô nhìn quanh chỉ thấy những người nghèo khổ và bất công xã hội. Cuối năm 2003, khi mơ ước vào trường đại học luật không thành, Hạnh chuyển qua học Công Nghệ thông tin, rồi cao đẳng kinh tế. Dùng kiến thức tin học của mình để tìm hiểu thêm về thực trạng quê hương. Những đêm gục đầu khóc bên bàn vi tính cũng là lúc Hạnh trải lòng cùng bạn bè trên các diễn đàn tranh đấu về tinh thần yêu nước, về những hiểm họa Trung Quốc mà cô đã nhận thức rất sớm.
Dạ, con mới đi về, còn hơi mệt, nhưng vui nên cái mệt mình cũng quên đi hết rồi. Nói chung mệt thì có mệt, nhưng mọi thứ đi qua hết rồi.
-Đỗ Thị Minh Hạnh
Theo bạn bè và những người thân thuôc, Hạnh rất thương người: khi còn trẻ cô thường hỗ trợ vật chất cho bạn học. Không dừng lại ở những hoạt động nhân đạo, năm 2005, Hạnh đã bắt đầu dấn thân hơn nữa khi ý thức được chỉ có tự do dân chủ mới đem lại công bằng xã hội. Trong Nam, Hạnh gặp kỹ sư Đỗ Nam Hải, Tạ Phong Tần. Ra Trung gặp linh mục Nguyễn Văn Lý, linh mục Phan Văn Lợi. Lặn lội ra Bắc gặp Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, và tại đây, lần đâu tiên trong đời. người con gái nhỏ bé đã bị nếm mùi của bốn bức tường lao lý.
Tháng 4 năm 2009, cùng với hai người bạn trẻ khác, Hạnh đã lặn lội lên cao nguyên Đắc Nông để chụp những bức ảnh đầu tiên của khu Bauxit Nhân Cơ. Cô cũng đã tiếp tay chuyển tải thông tin từ trong nước cho các cơ quan truyền thông hải ngoại.
Cuối năm 2009, Hạnh đã bán tất cả tài sản nhỏ bé của mình để cùng người bạn trai là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng sang Mã Lai tham dự đại hội kỳ 2 của Ủy Ban Bảo Vệ người lao động Việt Nam. Chuyến đi để lại cho Hạnh và cho những người thương yêu Hạnh vô vàn kỷ niệm.
Trở lại Việt Nam, Hạnh cùng Hùng và Chương đã đi vào những nhà máy, tìm gặp và giúp đỡ cho công nhân về quyền lao động, rải tờ rơi đòi quyền lợi cho công nhân, giúp đỡ các công nhân tổ chức đình công . Đỉnh điểm của các cuộc biểu tình này là cuộc đình công của hơn 10.000 công nhân tại công ty giầy gia Mỹ Phong, Trà Vinh.
Ngày 23/2/2010, khi Hạnh về Di Linh để làm giấy chứng minh nhân dân, chuẩn bị thi lớp trung cấp kế toán thì bị bắt. Và để trả giá cho giấc mơ công đoàn là cái án 7 năm tù dành cho người con gái mang tên Đỗ Thị Minh Hạnh. Hai người bạn đồng hành là Hùng cũng bị kết án 9 năm tù và Chương 7 năm tù.
Vui mừng đoàn tụ
Vừa trở về nhà ở Di Linh tối ngày 28 tháng 6, nơi mà Ba Hạnh và những người thân đang tụ tập để chờ đón cô, Hạnh cho biết nỗi vui mừng của mình:
“Dạ, con mới đi về, còn hơi mệt, nhưng vui nên cái mệt mình cũng quên đi hết rồi. Nói chung mệt thì có mệt, nhưng mọi thứ đi qua hết rồi. Bây giờ con chỉ muốn hăng say được nói chuyện với những người mà con yêu thương thôi.”
Giúp thì cũng có nhiều chứ không phải chỉ trường hợp đó, có những người bạn nữa, động viên, giúp đỡ cho những người bạn sống tốt hơn chứ không thể nào sống đi xuống được.
-Đỗ Thị Minh Hạnh
Trong thời gian ở tù, Hạnh đã phải chịu nhiều chứng bệnh khác nhau: đau khớp xương, tai bị ù, và nhất là gần đây, khám phá khối u từ trong ngực. Hạnh nói về sức khoẻ hiện tại của cô:
“Sức khoẻ của con nói chung thì hôm bữa đi khám, người ta nói có 2 cái nang ở ngực, nhưng mà nói là không có vấn đề gì nên chắc con cũng nghĩ là không sao đâu ạ, họ nói cũng lành tính thôi. Về khám, nếu bác sĩ giỏi thì lấy ra, nếu không thì để đó, sau này nó tan được thì tan chứ nó không phát triển.”
Trong gia đình, Hạnh là một đứa con có hiếu, ngoài xã hội, cô là một người bạn tốt và trong tù, cô tận tình săn sóc cho những người bạn đồng cảnh ngộ nhưng kém may mắn hơn mình, hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất và động viên họ trong những ngày khốn khó, trong đó phải kể đến chị Mai Thị Dung và những người bạn tù khác. Cô nói:
“Nói chung giúp thì cũng có nhiều chứ không phải chỉ trường hợp đó, có những người bạn nữa, động viên, giúp đỡ cho những người bạn sống tốt hơn chứ không thể nào sống đi xuống được, không để những cái tiêu cực làm đi xuống được, phải sống phấn đấu hơn.”
Ngoài những tổ chức Việt Nam như Mạng Lưới Nhân quyền, Lao Động Việt, Quỹ Tù Nhân Lương Tâm, BPSOS, VETO, còn rất nhiều tổ chức, cá nhân khác tiếp tay bằng cách này hay cách khác vận động cho tự do của Hạnh.
Bên cạnh đó, các tổ chức Nhân quyền quốc tế: Human Right Wacht, Amnesty International, Fredom Now cũng đã thúc dục cho quá trình trả tự do cho Hạnh. Đầu năm 2014, 11 dân biểu Mỹ và giữa tháng 5, 7 dân biêu Úc đồng ký tên gửi thư cho các vị nguyên thủ Việt Nam kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho Hạnh. Cuối tháng 5 vừa qua, 153 dân biểu Mỹ cũng đã gửi thư cho đại diện thương mại Hoa Kỳ yêu cầu tổ chức này lên tiếng đòi trả tự do cho nhà hoạt động công đoàn Đỗ Thị Minh Hạnh.
Dân biểu Mỹ Christ van Holland và dân biểu Đức Sabine Bätzing-Lichtenthäler đã nhận đỡ đầu cho Đỗ thị Minh Hạnh.
Dân biểu Frank Wolf đã gọi Hạnh là một người “đặc biệt can đảm” và ông hãnh diện vì cô ấy đã tranh đấu cho quyền lao động của công nhân.
Nguồn: rfa.org
Ngày 29/6/2014, trang mạng Diễn Đàn công bố công văn số 1832/BNG-ĐBA của Bộ Ngoại giao (xem ở đây). Để bảo vệ nguồn tin, Diễn Đàn buộc phải cắt một phần nội dung công văn. Điều đó khiến một số người, do cẩn thận, hoài nghi tính xác thực của văn bản. Nay Bauxite Việt Nam xin công bố toàn vẹn văn bản công văn nói trên, do một bạn đọc cung cấp. Văn bản này cho thấy quả thực phần mà Diễn Đàn đã cắt thực ra không quan trọng, không làm tổn hại đến nội dung của công văn.
Trong tình hình giàn khoan Hải Dương 981 còn ngang nhiên hạ đặt trên vùng biển Việt Nam, công văn của Bộ Ngoại giao Việt Nam có thể khiến cho quốc dân đồng bào nghĩ ánh mắt rực lửa của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khi tiếp Dương Khiết Trì chẳng qua là trò diễn. Mà nếu ai đó vẫn còn tin tưởng Việt Nam sẽ “xoay trục” sau sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, mà ngờ rằng công văn này là ngụy tạo, thì sẽ nghĩ sao đây khi tờ Xây dựng Đảng thản nhiên đăng tin Ban Tổ chức Trung ương Đảng cử đoàn cán bộ “đi nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm công tác xây dựng đảng tại Trung Quốc” (xem ở đây), y như giữa hai nước chưa hề có gì nghiêm trọng đang xảy ra. Hay đó là một cử chỉ cho nước “bạn” biết câu thề thốt của Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ rằng thì là “Việt Nam không hai lòng trong quan hệ với Trung Quốc” (xem ở đây) là quyết tâm của cả bộ máy chính trị, và Việt Nam thực sự đã đáp ứng lời kêu gọi tha thiết “lãng tử hồi đầu” của một Trung Quốc cùng ý thức hệ?!
Bauxite Việt Nam