Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017
Bàn góp về Hãng Phim truyện Việt Nam
Thư ngỏ của nhà biên kịch, nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát gửi đến những người đã và đang quan tâm đến Hãng Phim Truyện Việt Nam.
Nghe nói hôm qua hôm kia gì đó Chủ tịch HĐQT ct CP đầu tư và phát triển PTVN cho gọi mọi người lên phát lương (sau khi bị mạng xh rầm rộ phản đối!) Lương phát không đều người cao người thấp không biết căn cứ vào đâu... Động thái này cũng chỉ là xoa dịu tình hình nhất thời. Điều căn bản nhất BLĐ cty CP này phải đưa ra kế hoạch hoạt động công khai về phương hướng đầu tư và phát triển Cty, trong đó mục đích chính ưu tiên cho SX phim như thế nào cho anh em biết để hiểu được và làm theo.
Đầu tư gì và phát triển (theo tên đặt) như thế nào? Có thể kinh doanh nhiều ngành nghề trong đó phải ưu tiên SX phim. SX phim như thế nào thì phải tạp hợp các nhà làm phim của Hãng lại bàn bạc xin ý kiến. Anh em có thể chịu khổ không lương vài tháng nhưng biết đc quyết tâm của BLĐ đang tìm hướng để SX phim thì sẽ ủng hộ thôi. Và họ sẽ hiến kế sẽ là những người sống chết để tìm hướng đi. Đằng này không nói gì, chỉ hành động, mà hành động lại phản lại lời cam kết với Bộ VH! Dọn sạch kịch bản đem gửi chỗ khác, dọn sạch máy móc - công cụ của người dựng phim - hỏi họ lấy gì hành nghề ? Dọn sạch đạo cụ, phục trang gìn giữ hàng nửa thế kỷ (chống Pháp, Mỹ giờ có núi tiền cũng không may không sắm được) mang đi đâu không rõ... rồi lãnh đạo tuyên bố 1 câu xanh rờn "Tháng 8 không có lương!!!" Trong khi đó lại tạo điều kiện cho GĐ cũ, vị GĐ cuối cùng - một mình một ngựa đi ăn chơi xuyên Việt bằng tài trợ của BLĐ mới!!!
Tất cả những điều trên đã làm anh em trong ngành bức xúc.
Bức xúc về việc CP không minh bạch (đã kêu cứu gõ cửa nhiều nơi Thủ tướng đã đề nghị xem xét lại nhưng Ban CP doanh nghiệp vẫn không làm đến nơi đến chốn! Vẫn nguyên như cũ: thương hiệu vẫn bằng 0 đất đai vẫn bằng 0!)
Tất cả những nguyên nhân trên gây bức xúc ngày càng trầm trọng cho anh em Nghệ sĩ của Hãng, nối dài dự bức xúc đến tất cả những người có tấm lòng với Hãng PTVN. Không biết chuyện gì đau lòng sẽ xảy ra nếu cứ kéo dài tình trạng này ?
Như vậy cho thấy giệc CP Hãng PTVN có nhiều vấn đề cần được giải quyết thấu đáo và minh bạch. Các Cấp các ngành có trách nhiệm cần bớt chút thời gian xem xét lại để giải quyết thấu đáo mọi vấn đề. Không thể cố tình mũ ni che tain, làm ngơ trước thực trạng của Hãng PTVN như hiện nay.
1- CP như vậy đã đúng chưa? Còn sai sót chỗ nào nên bổ sung.
2- Cần giữ đúng và thực hiện các điều khoản trong cam kết giữa bên trúng CP và Bộ VH.
3- Thực hiện đúng luật lao động với cán bộ công nhân viên chức.
Các anh em trong Hãng cũng nên tỉnh táo để nhận biết vấn đề rằng: những năm tháng tươi đẹp xưa kia của chúng ta đã hết. Cần đối mặt với sự tàn bạo thẳng thừng của kinh tế thị trường. Tất cả phải rũ bỏ sự trì trệ, năng động đoàn kết tìm đường đi cho mình và cho nơi mình gắn bó. Xưa ta quen sống bằng đầu vào, nay tìm cách ngược lại xem sao.
Muốn vậy thì các nhà LĐ mới phải am tường chuyên môn, có tâm nguyện thực sự muốn xây dựng và phát triển Hãng PTVN ngày càng thành công… chứ đừng "đục nước béo cò" đừng thấy Hãng đang sa sút mà làm chuyện thôn tính "ăn sống nuót tươi " là không được đâu. Đừng nhìn vài chục người còn lại ở Hãng bây giờ để muốn làm gì thì làm. Đằng sau họ còn vong linh bao NS đã khuất, bao người còn đang sống đây! Sức mạnh ấy không ai tiêu diệt được!
Nhiều người về hưu - trong đó có tôi - cũng rất không muốn gây phiền phức cho những người đương nhiệm. Nhưng trước tình trạng ngổn ngang chưa đâu vào đâu của PTVN như hiện nay (chốc chốc anh em lại kêu cứu!) thì những người có lương tâm không thể đành lòng "câm miệng hến"!
Cái gì đúng thì giữ, cái gì sai phải sửa. Đó là lẽ tự nhiên của cuộc sống. Không vì bất cứ điều gì ngoài điều tử tế cho sự gìn giữ và phát triển việc SX phim có bề dày truyền thống như ở Hãng PTVN!
Xin chia sẻ bằng tất cả tấn lòng và thiển nghĩ như vậy.
Trân trọng và cảm ơn mọi người rất nhiều!
Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017
NỮ TÀI TỬ KIỀU CHINH
Phiêu Dao
Nữ tài tử Kiều Chinh tên thật là Nguyễn Thị Chinh, là một nữ minh tinh nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975, và sau này bà từng tham gia trong một số phim truyện hay phim nhiều tập của Hollywood.
Kiều Chinh xuất thân là nữ diễn viên chính trong cuốn phim đầu tiên của bà, Hồi chuông Thiên Mụ (1957). Sau đó, Kiều Chinh mau chóng trở thành một trong những người nổi tiếng nhất miền Nam.
Trong thập niên 1960, bà cũng xuất hiện trong các cuốn phim của Hoa Kỳ như A Yank in Vietnam (1964) và Operation C.I.A (1965) (diễn chung với Burt Reynolds). Kiều Chinh là diễn viên chính và cũng là người sản xuất bộ phim về chiến tranh “Người tình không chân dung” (Hãng Giao Chỉ sản xuất năm 1972, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc; tài tử : Kiều Chinh, Trần Quang, Tâm Phan, Hà Huyền Chi v.v…), cuốn phim sau này đã được tái bản và trình chiếu trong Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế (Vietnamese International Film Festival) tại Hoa Kỳ năm 2003.
Năm 1975, khi Kiều Chinh đang thực hiện cuốn phim Full House ở Singapore thì xảy ra biến cố 30/4/1975. Vì thế Kiều Chinh ở lại luôn Hoa Kỳ, nơi bà tiếp tục sự nghiệp diễn xuất trong bộ phim M*A*S*H (1977), bộ phim gần như dựa trên câu chuyện về cuộc đời của bà.
Nữ tài tử Kiều Chinh cũng xuất hiện trên các bộ phim truyền hình như The Children of An Lac (1980), The Letter (1982), The Girl Who Spelled Freedom (1986), cũng như trong các phim truyện khác như Hamburger Hill (1987), Gleaming the Cube (1988), Catfish in Black Bean Sauce (1999), What’s Cooking (2000), Face (2002), Returning Lyly (2002).
Năm 1993, Kiều Chinh vào vai Suyuan, một phụ nữ trong cuốn phim The Joy Luck Club của Wayne Wang. Năm 2005, Kiều Chinh vào vai một người bà với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu trong cuốn phim Vượt sóng, có tên tiếng Anh là Journey from the Fall của đạo diễn Trần Hàm. Vượt Sóng là cuốn phim đầu tiên và có ngân sách lớn nhất nói về người tỵ nạn Việt Nam, cuốn phim theo dấu các gia đình Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc, về các trại cải tạo, về kinh nghiệm của các thuyền nhân và những khó khăn ban đầu khi họ được định cư tại Hoa Kỳ.
Năm 1996, Viện Khoa học và Nghệ thuật Truyền hình Mỹ (Academy of Television Arts and Sciences) đã trao giải Emmy cho phim tài liệu Kieu Chinh : A Journey Home của đạo diễn Patrick Perez / KTTV. Năm 2003, tại Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế (Vietnamese International Film Festival), Kiều Chinh được trao giải thưởng Thành tựu Suốt đời (Lifetime Achievement Award). Cũng trong năm 2003, tại Liên hoan phim Phụ nữ (Women’s Film Festival) ở Turin, Ý, Kiều Chinh được trao giải Diễn xuất Đặc biệt (Special Acting Award).
Những phim tham gia :
Bão tình – Chờ Sáng – Chiếc Bóng Bên Đường – Chuyện Năm Dần (Year Of The Tiger) – Destination Việt Nam – Inside Out – Hè Muộn – Hồi Chuông Thiên Mụ – Hồng Yến – MASH – Mưa Rừng – Ngàn Năm Mây Bay – Operation CIA – Từ Sài Gòn Đến Điện Biên Phủ – The Joy Luck Club
50 NĂM ĐIỆN ẢNH
Từ Ni Cô Của ‘Hồi Chuông Thiên Mụ’ đến ‘Người nghệ sĩ huyền thoại của VN và Á Châu’
Sự nghiệp 50 điện ảnh của nữ tài tử Kiều Chinh, một sự nghiệp mà nửa thế kỷ qua chưa có một diễn viên điện ảnh người Việt nào có thể so sánh được. Bắt đầu từ năm 1957, khi ấy, vừa tròn 20 tuổi, bà được mời đóng vai đầu tiên là ni cô trong phim ‘ Hồi chuông Thiên Mụ’ mà nhà sản xuất là cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Hoa Kỳ,
ông Bùi Diễm.
Có thể nói, bà là một trong những người có mặt đầu tiên trong ngành điện ảnh Nam VN. Từ lúc phôi thai ở giữa thế kỷ 20, đến năm 1975, đã đóng góp vào điện ảnh Nam VN đến 22 cuốn phim. Từ những phim đóng với các nhà sản xuất, đạo diễn VN đến các nhà đạo diễn và sản xuất Á châu như Ấn Độ, Phi Luật Tân, Thái Lan, Đài Loan, Singapore, cho đến một số phim Hoa kỳ quay tại Á Châu như Operation CIA, A Yank in Vietnam, Devil Within, Destination Vietnam. Hai phim VN cuối cùng là ‘Người Tình Không Chân Dung’ của Đạo Diễn Hoàng Vĩnh Lộc và ‘Hè Muộn’ của đạo diễn Đặng Trần Thức, bà đóng vai chính, sản xuất bởi hãng phim ‘Giao Chỉ’, hãng phim do chính bà thành lập và điều hành. Có thể nói, phim Devil Within với vai công chúa Ấn độ năm 1971 là phim đưa sự nghiệp của bà lên đến tột đỉnh vào thời kỳ này.
Con đường Hollywood gian nan
Nếu trước năm 1975 điện ảnh đã tìm đến chị như một sự tình cờ, chị đã gặt hái hết thành công này tới thành công khác từ những ngày đầu, thì khi đến Hoa Kỳ lúc đã 38 tuổi, người diễn viên đệ nhất của Nam VN đã quyết định ở lại với điện ảnh dù phải bắt đầu lại từ số không với Hollywood, nơi mà hàng ngàn nghệ sĩ trẻ Hoa Kỳ cũng như từ khắp nơi trên thế giới ước mong được len chân vào. Nhưng, cũng đã có biết bao giấc mơ bị dang dở với thất bại chua cay.
Từ những vai nhỏ chỉ có đôi ba giòng đối thoại trong phim, hai năm sau, bà đã được thủ vai chính bên cạnh tài tử bậc nhất Alan Alda trong chương trình truyền hình M*A*S*H. Sau khi đóng phim với Kiều Chinh, Alan Alda đã nói về Kiều Chinh trên Johnny Carson Show và trên báo TV Guide : “Tài ba như cô ấy, nhất định Hollywood phải có chỗ cho cô”
Tính đến hôm nay, bà đã có mặt trong trên 100 phim và chương trình truyền hình. Trong đó có những phim thật nổi tiếng như The Letter (1986), Welcome Home (1989), Vietnam-Texas (1989), The Joy Luck Cub (1993), Riot (1997), Catfish in Black Bean Sauce (1999), What Cooking (2000), Face (2001), Tempted (2003), Journey from The Fall (2004). Có thể nói phim Joy luck Club xác nhận vị trí hàng đầu của bà trong thế giới Hollywood.
Năm 1996, Hàn Lâm Viện Khoa Học và Truyền Hình đã vinh danh Kiều Chinh và trao giải Emy Award, một giải cao quý nhất của Truyền Hình Hoa Kỳ cho phim tài liệu ‘Kiều Chinh A Journey Home’, do Patrick Perez, Fox Telievision thực hiện. Bà còn lãnh nhận nhiều giải thưởng khác trong các đại hội điện ảnh từ Âu Châu, Á Châu, đến Mỹ châu như Life Time Achievement Award của Đại Hội Điện Ảnh Á Châu tại San Diego 2006, The 10th Festival Internazionale Cinema Delle Donne, tại Ý, 2003.
Từ Diễn Viên Đến Diễn Giả
Sự thành công của bà được nhiều giới ái mộ. Nhờ cách nói chuyện thật truyền cảm, thu hút đám đông, được mời làm diễn giả chuyên nghiệp (professional lecturer) của tổ chức The Greater Talent Network, Inc., một tổ chức chuyên cung cấp những diễn giả nhà nghề cho các trường đại học và các tổ chức văn hoá trên toàn nước Mỹ.
Trên 13 năm qua, từ 1994, Kiều Chinh đã đứng trên hàng trăm diễn đàn cuả Hoa kỳ đề nói lên những điều khó khăn cũng như những đóng góp tích cực cuả người Mỹ gốc Việt, về kinh nghiệm của một nghệ sĩ VN lưu vong cũng như chia xẻ cái nhân sinh quan đầy nhân bản của một phụ nữ VN trước mọi nghịch cảnh của cuộc sống.
Kiều Chinh đã được Quốc hội Hoa Kỳ vinh danh là ‘Người Tị Nạn Năm 1990’. 1986 được tổ chức Asian Pacific Woman Network tặng giải ‘Woman Warrior Arward’, và nhiều giải thưởng cao quý khác.
HƠN 70 NĂM CUỘC ĐỜI
Kiều Chinh sinh ngày 3/9/1937, tuổi Đinh Sửu, tại Hà Nội. Là con gái út của ông Nguyễn Cửu, một viên chức tài chánh cao cấp trong chính phủ Bảo hộ Pháp, và bà Nguyễn thị An.
Năm 6 tuổi, chiến tranh đã cướp mất người mẹ và người em chưa chào đời cuả bà. Sau đó, bà sống được ít năm hạnh phúc với cha, với chị và người anh trong khung cảnh nhung lụa của giới thượng lưu Hà Nội lúc bấy giờ.
Kiều Chinh bị ảnh hưởng người cha về học thức, về nhân cách, về sự yêu thương con cái và gia đình đến hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình, quý mến bạn bè và nhất là lòng say mê điện ảnh không có gì thay thế được. Cha bà, ông Nguyễn Cửu, người con trai duy nhất của điền chủ họ Nguyễn, chủ nhân khách sạn Đồng Xuân, Hà Nội. Ông Cửu theo Tây học nhưng mang lý tưởng quốc gia và có tâm hồn nghệ sĩ. Trong phòng khách văn chương của gia đình họ Nguyễn thường lui tới những nhân vật thời danh của Hà Nội như ông Dương Đồ Cổ Hàng Trống, ông An hàng Đào, ông Phúc chủ nhân đồn điền Cam Bố Ha, ông Hùng tay đua xe hơi hạng nhất đường Hà Nội – Hải Phòng, cùng những nhà văn, nhà thơ tên tuổi như Ngọc Giao, Vũ Hoàng Chương, Lê văn Trương, Đinh Hùng…
Là con út mồ côi mẹ từ nhỏ, Kiều Chinh được Bố thương đi đâu cũng mang theo, không cuộc họp mặt nào của bố mà thiếu vắng. Vì thế, bà đã thấm nhuần tư tưởng của Bố và những bằng hữu của ông. Ngay từ thời thơ ấu, Bố còn luôn đưa cô ‘công chúa của bố’ đi xem xi nê tại rạp Majestic hay rạp Philhamonique. Khi ngồi bên bố, không những xem phim lại còn được bố giảng giải cho từ truyện phim cho tới các tài tử. Phim ảnh do đó, đã ăn sâu vào tim óc bà từ thuở thơ ấu. Kiều Chinh từng tâm sự : ‘Người đàn ông quan trọng nhất trong đời của tôi là bố tôi…’
Năm 1954, cuộc chiến tranh chống Pháp kết thúc bằng hiệp định Genève, chia cắt hai miền Nam Bắc và cũng cắt đứt cuộc đời ấu thơ tươi đẹp, hạnh phúc nhưng ngắn ngủi của bà. Người chị của Kiều Chinh lập gia đình và theo chồng sang Pháp. Đêm trước ngày cả gia đình di cư vào Nam, người anh theo tiếng gọi thanh niên bỏ nhà tham gia kháng chiến. Sau hai ngày chờ đợi tại phi trường Bạch Mai, phút chót người cha đẩy cô con lên máy bay nói “Con vào Nam trước, Bố ở lại tìm anh rồi sẽ vào sau.”
Đây là lần sau cùng Kiều Chinh trông thấy Bố.
Năm ấy bà mới 17 tuổi, một thân, một mình nơi xứ lạ, trông ngóng ngày gặp Bố, nhưng ngày ấy không bao giờ tới nữa. Kiều Chinh đã khóc hết nước mắt, khi thời hạn 300 ngày tiếp thu miền Bắc chấm dứt, làm tan vỡ ước mơ cha con xum họp. Chiến tranh đã cướp mất tất cả những người thân yêu của bà.
Tại miền Nam Việt Nam, Kiều Chinh được gia đình một người bạn của Bố là ông bà Nguyễn Đại Độ giúp đỡ và sau này chị trở thành con dâu của gia đình. Kiều Chinh kết hôn với thứ nam của cụ Độ là anh Nguyễn Năng Tế, một sĩ quan nhẩy dù VNCH. Lúc đó, bà mới 18 tuổi. Cuộc hôn nhân mang lại ba người con, một gái hai trai.
Năm 1957, hai năm sau ngày di cư, Kiều Chinh được mời đóng vai ni cô trong cuốn phim đầu tiên ‘Hồi chuông Thiên Mụ’ và nhiều phim sau đó. Dù là một diễn viên, khi ra ngoài được gọi là ‘minh tinh màn bạc’ nhưng sau cánh cổng của gia đình, bà vẫn chu toàn mọi bổn phận làm dâu, làm vợ và làm mẹ trong một gia đình nền nếp kiểu Bắc.
Chuyến bay vòng quanh thế giới
Trung tuần tháng 4 năm 1975, chưa đủ một tuần sau khi trở về VN sau khi hoàn tất phim ‘Full House’ tại Singapore, Kiều Chinh lại phải đáp chuyến máy bay thương mại cuối cùng rời khỏi VN. Niềm hy vọng được gặp ngưòi cha yêu dấu sau 22 năm xa cách đã bị dập tắt vì ‘nước mắt chảy xuôi’, chị phải tìm cách sang Canada, nơi cả ba người con của chị đang du học. Tới Singapore, bà bị bắt vào nhà giam vì thông hành ngoại giao mà bà được chính phủ VNCH trao cho sau khi được tặng tước hiệu ‘Sứ giả của Nghệ Thuật và Thiện Chí của VN’, với phim ‘Devil Within’ tại Ấn độ năm 1971, không còn giá trị. May sao lúc đó tạp chí Female tại Singapore có đăng bài về phim ‘Full House’ và hình bà tại trang bìa. Tờ báo đã giúp bà ra khỏi nhà giam và được lệnh rời Singapore trong vòng 48 tiếng đồng hồ.
Sau khi Sài Gòn không còn tên gọi, nhiều người đã trải qua một hành trình đi tìm tự do khó quên. Hành trình tìm tự do của Kiều Chinh cũng thật đặc biệt. Chiều ngày 25/4/1975, bà bay chuyến bay vòng quanh thế giới trong lúc Sàigòn hấp hối, và bà không được phép nhập cảnh bất cứ một quốc gia nào vì, Nam VN đối với quốc tế lúc bấy giờ là đang trong tình trạng vô chính phủ. Chờ cho tới khi miền Nam mất, lúc ấy bà mới có quyền xin tị nạn.
Sau 100 giờ bay, với những giờ phút đau khổ, lo sợ, nôn nóng đến tột cùng của cảnh ‘nước mất, nhà tan’, với bộ quần áo, và chiếc sắc tay duy nhất trên người, Kiều Chinh đã đáp xuống không biết bao nhiêu là phi trường trên quả địa cầu. Đúng 6 giờ chiều ngày 30/4/1975, khi chuyến bay của bà đáp xuống Torronto, Canada. Kiều Chinh mừng tủi ôm được ba người con trong tay, nước mắt trào ra khi nghe tin tên Saigon đã không còn.
Khi thành người tị nạn tại Canada, công việc đầu tiên Kiều Chinh là quét dọn, hốt phân gà, với số lương tối thiểu. Anh Tế lúc này cũng đã tới đảo Guam rồi sau đó sang Canada đoàn tụ với gia đình. Hiểu rằng đây không phải là đời sống của mình và tương lai các con, Kiều Chinh quyết định tìm mọi cách vào Mỹ. Tháng 7 năm 1975, nhờ sự bảo lãnh của người bạn cũ là tài tử Tippi Hedren, Kiều Chinh và gia đình sang định cư tại California.
Lời nguyện cầu đoàn tụ
Khi Kiều Chinh bắt đầu tìm được một chỗ đứng tương đối thì được tin bố mất sau những ngày lao tù. Ông đã chết trong cô đơn và thiếu thốn. Niềm hy vọng được gặp bố băng xương bằng thịt cũng tiêu tan. Cuộc hôn nhân kéo dài 25 năm, đã chính thức chấm dứt (Nguyễn Năng tế). Và khi hỏi về người chồng cũ bây giờ đã có gia đinh mới, bà luôn nhẹ nhàng nói : ‘Anh Tế, đúng như cái tên mà các cụ đã đặt, anh ấy là một người rất tử tế. Chỉ tiếc duyên phận của mình chỉ có vậy. Bây giờ mình vẫn coi anh ấy như người anh, người bạn, thường gặp nhau trong những sinh hoạt chung của gia đình.”
Trong chuyến trở về VN lần đầu tiên năm 1995, sau 20 năm xa Sài gòn và 41 năm xa Hà Nội trong chuyến công tác cho Viêt Nam Children’s Fund, tổ chức xây trường cho trẻ em VN, Kiều Chinh đã ôm lấy mộ của bố, nỗi đớn đau cuả 41 năm xa cách, nhớ thương bật thành tiếng khóc : ‘Bố ơi, con đã về ! Chị đã khóc lặng người trước mộ phần của bố.
Nỗi đau khi nghĩ về những đày ải bố phải gánh chịu trong những ngày tù đày và những khốn khổ thiếu thốn cả miếng ăn, mọi người đều xa lánh khiến bố đã chết trong cô đơn và đói lạnh đã cắt từng tế bào của người nghệ sĩ VN tị nạn.
Và trong những giờ vinh quang nhất của sự nghiệp, buổi lễ nhận giải Emy Arward cho phim tài liệu “Kieu Chinh, A Journey Home” của nhà sản xuất Patrick Perez; phim nói về chuyến thăm quê hương của Kiều Chinh. Bà đã tuyên bố trước hàng ngàn khán giả tại chỗ và hàng trăm triệu khán giả trên toàn thế giới qua những cuộc trực tiếp truyền hình : “Xin nguyện cầu cho sự đoàn tụ đưọc đến với tất cả các gia đình bị chia lìa vì chiến tranh trên toàn thế giới”
Sống như năm đời sống
Đã có rất nhiều nhà văn, nhà báo, nhà làm phim nổi tiếng Việt Nam cũng như ngoại quốc viết và nhận định về cuộc đời, và con người của Kiều Chinh. Mỗi người nhìn một cách khác nhau nhưng, người viết thích nhất là nhận xét của hai nhân vật, đó là nhà văn nữ Alison Leslie Gold, và nữ tài tử nổi tiếng Tippi Hedren.
Bà Alison Leslie Gold, người viết cuốn ‘Nhật ký của Ann Frank’, một trong những ‘best seller’ đã được dịch ra 16 thứ tiếng và được làm thành phim đoạt giải Emy Award năm 1994, phim ‘The Attic’, Bà Gold đã viết về Kiều Chinh như sau : ‘Kiều Chinh là một phụ nữ phi thường. Bà đã sống như năm đời sống. Kiều Chinh đã sống như một nhân chứng chua cay và từng trải qua cơn lốc thời cuộc mang nhiều tính tranh cãi nhất cuả thời đại chúng ta. Tôi xin ngả mũ chào Kiều Chinh, một phụ nữ có sắc đẹp cao quý của viện bảo tàng, một nghệ sĩ với tài năng hiếm có, và với tôi, Kiều Chinh là người bạn trung thực và cao quý.’
Nhận xét về con người của chị Kiều Chinh, Tippi Hedren, một trong những tài tử hàng đầu của Hollywood, người đã bảo trợ Kiều Chinh vào Mỹ, đã nhận xét như sau : ‘Kiều Chinh thực sự là một trong những phụ nữ can đảm nhất, mạnh mẽ nhất, và dịu dàng nhất mà tôi được quen biết trong suốt cuộc đời của tôi’ ever met in my life.)
Cuộc đời của Kiều Chinh là một định mệnh khắc nghiệt, một thân phận nổi trôi với vận nước thăng trầm. Có thể nói, đời bà hạnh phúc, đắng cay, thành công, thất bại đã đến mức tận cùng của nó. Nhưng bà đã vượt lên tất cả bằng nghị lực, sự quả cảm, lòng vị tha, một nhân cách đặc biệt, và bằng một sức làm việc kiên trì, bền bỉ hiếm có.
Sống giữa ánh sáng chói loà của kinh đô điện ảnh, thế giới của bà là thế giới của vật chất xa hoa với phấn son, áo quần, trang sức, xe cộ… nhất nhất phải là đệ nhất, nhưng bà sống rất nội tâm. Ngoài những giờ đi đóng phim và học hỏi, trau dồi nghề nghiệp, đã dành thì giờ và những gì bà có để yêu thương gia đình, yêu quý bạn bè, dành một phần đời không nhỏ cho các hoạt động xã hội từ những ngày còn ở VN với các thương bệnh binh và cô nhi quả phụ. Đến việc chia xẻ với người VN tị nan trong những ngày tháng bơ vơ tại xứ lạ, quê người. Và cho tới nay, hội VCF do bà là Chủ tịch sáng lập đã xây cất xong 42 trường tiểu học cho nhiều chục ngàn trẻ em Việt Nam tại các vùng quê từng bị tàn phá bởi chiến tranh.
Bí quyết nào giúp chị bảo đảm được những giá trị tinh thần kể trên nhưng vẫn tạo cho mình một bề ngoài với vẻ đẹp, với phong thái hàng đầu tại Hollywood ? Chính là Kiều Chinh đã không chạy đua với hào nhoáng, xa xỉ, và bà đã chọn cái đẹp cuả sự đơn gỉản nhưng thanh nhã và trang trọng, một sự giản đơn có chọn lọc nên không tầm thường. Bà là biểu trưng cho cái đẹp tự nhiên, kín đáo cổ điển luôn vững bền và đứng trên những cái đẹp rực rỡ, chói chang mau tàn, mau chán.
(https://cafevannghe.wordpress.com/…/n%e1%bb%af-tai-t%e1%bb…/) (hình 2: bùi vĩnh phúc, kiều chinh, cung trầm tưởng, lena nguyễn, nguyễn đức tùng, hà nguyên du)

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017
Vụ kiện Trịnh Vĩnh Bình vs. Chính phủ Việt Nam: Một số nhận định sơ bộ
Tác giả: Nguyễn Thanh Tuân (Luật sư và Trọng tài viên đang hành nghề ở Tp. Hồ Chí Minh)
.Trong cả hai lần kiện Chính phủ Việt Nam (2005 và 2017), Nguyên đơn Trịnh Vĩnh Bình đều không có yêu cầu đòi Chính phủ Việt Nam trả lại tài sản, mà chỉ yêu cầu bồi thường bằng tiền (100 triệu USD và 1,25 tỷ USD). Điều này vừa thể hiện sự khôn ngoan của Bên ông Bình, vừa cũng thể hiện điểm yếu của Nguyên đơn, khi họ muốn tránh bằng mọi giá việc xác định Tính Hợp Pháp của việc “đầu tư”, cũng như của “các tài sản bị tịch thu”.
.KD: Đọc được bài này trên NCQT. Xin đăng lên để bạn đọc có nhu cầu theo dõi, chia sẻ
—————–
Dẫn nhậpTừ ngày 21/08 đến ngày 27/08/2017 vừa qua, Tòa án Trọng tài Quốc tế (ICA – International Court of Arbitration), một cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, bên cạnh Phòng Thương mại Quốc tế (ICC), có trụ sở tại Paris, đã mở phiên xét xử vụ tranh chấp: Công dân Vương quốc Hà Lan (gốc Việt), ông Trịnh Vĩnh Bình, kiện Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Vụ kiện liên quan đến việc Việt Nam vi phạm Thỏa thuận giữa hai bên tại Singapore năm 2006 về việc Việt Nam bồi thường bằng tiền và trả lại tài sản mà ông Trịnh Vĩnh Bình đã đầu tư theo quy định của Hiệp định Đầu tư Hà Lan – Việt Nam (10/3/1994) nhưng đã bị Chính phủ Việt Nam tịch thu trước đây.
Cho đến thời điểm có bài viết này, Hội đồng Trọng tài được thành lập tại ICA chưa công bố phán quyết, và cũng do quy định Trọng tài xử kín, nên không bên nào, và không có ai, được phép công bố thông tin liên quan đến diễn biến phiên tòa và phán quyết của Trọng tài. Thông tin chính thức và đáng tin cậy về nội dung, diễn biến của vụ kiện cũng không nhiều. Vì vậy, bài viết này dựa trên những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (một số tin chưa được kiểm chứng), qua những sàng lọc, tổng hợp và phân tích sơ bộ, để bình luận về các khả năng trên cơ sở suy luận logic cho Diễn biến và Dự báo về Kết quả (những nét chính của Phán quyết của Trọng Tài) của vụ án).
Tóm tắt diễn biến
Ông Trịnh Vĩnh Bình – một Việt kiều có quốc tịch Hà Lan, cuối những năm 1980 đã đem theo tiền và vàng về Việt Nam đầu tư nhưng không đăng ký chính thức để thành lập doanh nghiệp theo Luật đầu tư nước ngoài (29/12/1987) của Việt Nam. Do ở thời điểm đó pháp luật chưa cho phép người nước ngoài (bao gồm cả Việt kiều có quốc tịch nước ngoài) đứng tên mua nhà và đứng tên nhận sang nhượng Quyền sử dụng đất, ông Bình đã nhờ người thân đứng tên giùm đất đai, nhà cửa và hai doanh nghiệp trong nước.
Cũng có nguồn tin (chưa được kiểm chứng) nói ông Bình được một số cán bộ lãnh đạo cao cấp động viên đem tiền, vàng về nước đầu tư và chính phủ Việt Nam cũng giúp đỡ riêng cho ông (không theo trình tự thủ tục luật định) trong việc làm thủ tục; và thậm chí cũng có tin nói ông Bình đã làm Giấy ủy quyền cho thân nhân ở Việt Nam đứng tên giùm đất đai nhà cửa ở Việt nam, và giấy này đã được “công chứng” (được chứng thực) bởi Đại sứ quán Việt Nam tại Paris (Nếu có thật thì việc chứng thực này cũng trái với quy định của pháp luật đất đai, đầu tư) … Công việc làm ăn của ông Bình sau đó đã gặt hái được nhiều thành công, phát triển nhanh chóng.
Thực tế, do chính quyền địa phương chỉ làm thủ tục giao đất cho người có hộ khẩu thường trú tại địa phương, và quy định từ thời đó là mỗi người chỉ được có một hộ khẩu thường trú, nhưng ông Bình đã nhờ bà con họ hàng cư trú (có hộ khẩu chính thức) ở một tỉnh phía Nam đến Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai làm thêm hộ khẩu thường trú tại các địa phương đó, từ đó xin giao đất, đứng tên nhận chuyển nhượng đất … giùm ông Bình tại các địa phương nói trên. Sự việc này trái pháp luật ở hai điểm (i) Vi phạm quy định về (một) hộ khẩu; và (ii) Vi phạm quy định theo Luật đất đai do đã nhờ người đứng tên nhận giùm Quyền sử dụng (sở hữu) đất đai.
Ngày 19/03/1994, Hà Lan và Việt Nam ký Hiệp định song phương về Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư lẫn nhau (sau đây gọi tắt là Hiệt định Việt Nam – Hà Lan). Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/02/1995, nhưng cũng có quy định rõ Hiệp định cũng có hiệu lực hồi tố (retroactive) đối với cả các khoản đầu tư của công dân hai nước, nếu có, đã được thực hiện từ sau ngày 30/04/1975, tức là ngay cả trước khi Hiệp định có hiệu lực (Điều 10). Cụ thể, theo Hiệp định:
Điều 1: Với mục đích của Hiệp định này:
(a) Thuật ngữ “Đầu tư” bao gồm mọi loại tài sản, đặc biệt nhưng không chỉ là:
(i) sở hữu động sản và bất động sản cũng như các quyền sở hữu khác đối với mọi loại tài sản;
(ii) các quyền phát sinh từ cổ phần, trái phiếu và các lợi ích khác của công ty và liên doanh;
(iii) chứng quyền về tiền, về tài sản khác hoặc về bất kỳ hoạt động nào có giá trị kinh tế;
(iv) các quyền trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, qui trình kỹ thuật, đặc quyền kế nghiệp và bí quyết công nghệ;
(v) những quyền được pháp luật đảm bảo gồm các quyền thăm dò, khai thác, chiết xuất, sử dụng các tài nguyên thiên nhiên.
(b) Thuật ngữ “công dân” tùy theo mỗi Bên ký kết:
(i) Các thể nhân có quốc tịch của Bên ký kết đó;
(ii) các pháp nhân được thành lập theo luật của Bên ký kết;
(iii) các pháp nhân không được thành lập theo luật pháp của Bên ký kết, nhưng chịu sự kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bởi thể nhân quy định tại mục (i), hoặc bởi pháp nhân quy định tại mục (ii)
Điều 6: Không một Bên ký kết nào được thực hiện bất kỳ biện pháp nào để tước đoạt trực tiếp hoặc gián tiếp những đầu tư của các công dân của Bên ký kết kia, trừ khi được thực hiện với những điều kiện sau:
(a) Các biện pháp được thực hiện vì lợi ích công cộng và theo thủ tục của Luật pháp;
(b) Các biện pháp không có sự phân biệt đối xử hoặc trái với bất cứ cam kết nào mà Bên ký kết cam kết như những biện pháp có thể thực hiện;
(c) Các biện pháp áp dụng phải được bồi thường công bằng. Việc bồi thường đó sẽ theo đúng giá trị thực tế của những đầu tư, bao gồm lãi với lãi suất thương mại thông thường cho đến ngày chi trả. Để có hiệu qủa cho người đòi bồi thường, khoản bồi thường sẽ được trả và chuyển không chậm trễ sang nước mà người đó xác định, và bằng đồng tiền của nước mà người đó là công dân hoặc bất kỳ đồng tiền tự do chuyển đổi nào mà người đó chấp thuận.
Điều 9:
1. Tranh chấp giữa một Bên ký kết với công dân của Bên ký kết kia liên quan tới đầu tư của công dân của Bên ký kết kia trên lãnh thổ của Bên ký kết đó, thì nếu có thể sẽ được giải quyết bằng hòa giải.
2. Nếu vụ tranh chấp đó không được giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày một Bên tranh chấp đề nghị giải quyết bằng hòa giải thì theo yêu cầu của công dân liên quan, vụ tranh chấp sẽ được đưa ra Tòa án trọng tài Ad-hoc được thành lập theo thỏa thuận đặc biệt hoặc theo Qui tắc Trọng tài của Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế.
3. Trong trường hợp các bên ký kết tham gia Công ước giải quyết các tranh chấp về đầu tư giữa Nhà nước với công dân của Nhà nước kia ký ngày 18/03/1965 tại Washington, thì những tranh chấp nêu tại khoản 1 Điều này, theo yêu cầu của công dân có liên quan sẽ được đưa ra Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp về đầu tư để giải quyết bằng hòa giải hay trọng tài theo Công ước đó.
4. Mỗi Bên ký kết theo đây chấp thuận vô điều kiện về việc đưa các tranh chấp ra xét xử ở Trọng tài quốc tế theo các quy định tại Điều này.
Năm 1996, chính quyền tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã bắt giữ ông Trịnh Vĩnh Bình với nhiều cáo buộc hình sự, trong đó có các tội danh “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai”, “Trốn thuế” và tội “Đưa hối lộ” theo quy định của Bộ Luật Hình sự Việt Nam 1985 (sửa đổi bổ sung năm 1989). Theo báo Công an Nhân dân ngày 06/06/2005, cho tới khi bị cơ quan an ninh điều tra Bà Rịa – Vũng Tàu bắt giữ, ông Bình đã nắm trong tay 11 căn nhà, 114 nền nhà và 2.847.745 m2 đất. Với những tội danh nói trên, ông Bình đã bị kết án 11 năm tù (bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật), bị tịch thu tài sản là nhà, đất do người khác đứng tên giùm, và một số tài sản là động sản, tiền mặt, đồ cổ…
Xung quanh việc bắt giam, truy tố và xét xử ông Trịnh Vĩnh Bĩnh, nội bộ Việt Nam khi đó cũng không thống nhất. Thanh Niên là tờ báo công khai không đồng tình với việc bắt giam, truy tố, xét xử và kết án ông Bình. Giáo sư Nguyễn Vi Khải – thành viên Ban nghiên cứu, cố vấn Thủ tướng Phan Văn Khải khi đó, hiện là Viện phó Viện Nghiên cứu các vấn đề phát triển (VIDS) cho biết, Ban nghiên cứu của ông đã có ý kiến, kiến nghị tới Thủ tướng Phan Văn Khải về sự việc của ông Trịnh Vĩnh Bình, nhằm tránh ảnh hưởng xấu đến hình ảnh, môi trường đầu tư tại Việt Nam, đánh mất cơ hội hội nhập quốc tế. “Thủ tướng có văn bản gửi xuống cho các ngành an ninh, Bộ trưởng công an lúc đó là ông Lê Minh Hương, để xem xét sự việc và tìm nguyên nhân giải quyết theo luật pháp. Khoảng hai lần Thủ tướng yêu cầu Bộ Công An giải trình.”
Tuy có ý kiến của Thủ tướng và sự lên tiếng của nhiều quan chức cấp cao trong bộ máy khi đó, như Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đưa vụ việc ra Quốc hội, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, nhưng phía Cơ quan Điều tra – công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và các Cơ quan Tư pháp (Điều tra, Truy tố, Xét xử) vẫn đã xử lý vụ việc theo hướng hình sự, tuyên ông Trịnh Vĩnh Bình phạm tội, phải chịu mức án 11 năm tù và tịch thu toàn bộ tài sản sau 2 lần xét xử (xét sơ thẩm tại Tòa án Nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và xét xử phúc thẩm bởi Tòa án Nhân dân Tối cao).
Sau khi ông Bình bị bắt giam và bị kết án, một số cán bộ thi hành án ở địa phương đã bị truy tố, chịu án tù, do đã có vi phạm pháp luật trong khâu bán đấu giá tài sản bị tịch thu không đúng quy định của pháp luật, làm thiệt hại cho ông Bình và cho ngân sách Nhà nước.
Năm 2000, ông Trịnh Vĩnh Bình rời khỏi Việt Nam (có tin nói ông bỏ trốn qua đường Campuchia), trở về Hà Lan và năm 2003 tiến hành khởi kiện Chính phủ Việt Nam theo quy định tại (khoản 4) Điều 9 của Hiệp định Việt Nam- Hà Lan, tại Trung tâm Quốc tế Giải quyết các Tranh chấp về Đầu tư (ICSID) – Stockholm (Thụy Điển), với sự giúp đỡ của hãng luật Covington Burling của Mỹ. Theo đơn kiện khi đó, ông Bình yêu cầu phía Việt Nam phải bồi thường số tiền hơn 100 triệu USD.
Sau đó, vào năm 2006, ông Bình và Chính phủ Việt Nam đạt được thoả thuận bên ngoài Toà Trọng tài ICSID, ký tại Singapore (sau đây gọi tắt là “Thỏa thuận 2006”). Theo một số nguồn tin, nội dung của Thỏa thuận 2006 có quy định: Chính phủ Việt Nam chấp thuận miễn chấp hành hình phạt tù cho ông Bình, bồi thường 15 triệu USD, “trả lại tài sản” cho ông Bình, và cho phép ông trở lại Việt Nam để tiếp tục đầu tư. Đổi lại, ông Bình rút đơn kiện khỏi Tòa Trọng tài ICSID và không tiết lộ nội dung Thỏa thuận 2006.
Về nội dung cụ thể của việc “Trả lại tài sản” trong Thỏa thuận 2006, hiện có nhiều nguồn tin (chưa được kiểm chứng) khác nhau về vấn đề này: (1) “Trả lại TOÀN BỘ TÀI SẢN”; (ii) “Trả lại TÀI SẢN MỘT CÁCH HỢP LÝ” (Theo Tiến sỹ Đinh Hoàng Thắng nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan); và (iii) “Trả lại (các) TÀI SẢN HỢP PHÁP” (Theo Giáo sư Nguyễn Đình Cống).
Theo tin từ báo Thanh Niên, phía Việt Nam đã miễn chấp hành hình phạt tù có hời hạn (11 năm) cho ông Trịnh Vĩnh Bình (Bản án Hình sự vẫn có hiệu lực, không bị hủy, không có ai không tuyên vô tội hay xóa tội, chỉ là miễn chấp hành – không phải ngồi tù). Về số tiền 15 triệu USD bồi thường cho ông Bình theo Thỏa thuận 2006, có tin nói là phía Việt Nam đã trả xong, dù chậm trễ vì mãi đến năm 2014 mới trả hết và ông Bình cũng không đòi tiền lãi từ năm 2006 đến 2014.Tuy nhiên, cho tới nay (9/2017) ông Bình vẫn chưa được nhận lại tài sản theo Thỏa thuận 2006.
Tháng 01/2015, ông Trịnh Vĩnh Bình tái khởi kiện Chính phủ Việt Nam tại Tóa án Trọng tài quốc tế (ICA) Paris, với lý do chính phủ Việt Nam “Không thực hiện đúng Cam kết trong Thỏa thuận 2006” và đòi chính phủ Việt Nam bồi thường ít nhất 1,25 tỷ USD (không thấy nói đến việc đòi Việt Nam phải trả lại tài sản đã tịch thu của ông).
Ngày 21/08/2017, phiên xử đầu tiên của vụ kiện diễn ra tại Paris. Giáo sư Nguyễn Vi Khải, nguyên thành viên Ban nghiên cứu, cố vấn Thủ tướng Phan Văn Khải, hiện là Viện phó Viện Nghiên cứu các vấn đề phát triển (VIDS) dự đoán, tuy kết quả thắng cuộc của ông Trịnh Vĩnh Bình là “mong manh”, nhưng vẫn có “hệ lụy nguy hiểm” đối với Việt Nam.
Như vậy, nhiều khả năng là Trọng tài sẽ sẽ tập trung xem xét đơn kiện và lập luận của hai đội luật sư của hai Bên, để quyết định hai vấn đề: (1) Chính phủ Việt nam có phải bồi thường tiền cho ông Bình hay không?”; và (2) Nếu câu trả lời là “Có”, thì sẽ là bồi thường bao nhiêu, và xác định trên cơ sở nào?
Những vấn đề pháp lý trong vụ kiện 2017
1. Tòa sẽ xử tranh chấp nào?
Tranh chấp được xét xử sẽ (được coi) là một Tranh chấp Thương mại, và do Việt Nam đã tự nguyện từ bỏ Quyền Miễn trừ quốc gia khi tham gia Hiệp định Bảo hộ đầu tư với Hà Lan và khi ký Thỏa thuận 2006, nên vụ việc có thể đã được giải quyết theo các nguyên tắc của Tư pháp quốc tế.
Trên cơ sở so sánh, đối chiều và kết quả sàng lọc các nguồn thông tin của chúng tôi: Cũng giống như yêu cầu trong vụ kiện lần đầu, khi ông Bình kiện Chính phủ Việt Nam ra Trung tâm Quốc tế Giải quyết các Tranh chấp về Đầu tư (ICSID) năm 2005 để đòi bồi thường 100 triệu USD, lần này ông Trịnh Vĩnh Bình cũng đã kiện Chính phủ Việt nam, để đòi phía Việt Nam phải bồi thường thiệt hại 1,25 tỷ USD, vì đã “Vi phạm Thỏa thuận 2006”, qua việc không thực hiện đầy đủ nội dung Thỏa thuận, chứ ông KHÔNG ĐÒI TÀI SẢN BỊ TỊCH THU theo quy định của Hiệp định Việt Nam- Hà Lan.
Đây có thể là chiến lược khá khôn ngoan của nhóm luật sư của ông Bình, nhằm mục đích tránh tối đa việc đụng chạm đến vấn đề Tính hợp pháp của việc “đầu tư” và của “Tài sản thu được từ đầu tư”, tránh sa đà vào việc viện dẫn, áp dụng quy định của Pháp luật của Việt Nam về Ủy quyền/Ủy thác đầu tư và Đầu tư nước ngoài (tránh bị cáo buộc đã “đầu tư chui”). Khi chọn chiến lược tranh tụng như vậy, có thể họ đã nhằm đến việc vận dụng quy định về bồi thường do vi phạm hợp đồng theo Luật điều chỉnh mà chúng tôi sẽ bàn dưới đây.
Như vậy, theo nguyên tắc “Kiện gì, xử nấy”, Trọng tài Quốc tế ICA (Paris) chắc là đã chỉ xem xét, và sẽ ra phán quyết cho, tranh chấp “Vi phạm Thỏa thuận 2006, và yêu cầu yêu cầu bồi thường 1,25 tỷ USD” của Nguyên đơn.
2. Thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài đang xét xử vụ kiện tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Paris:
Theo nguyên tắc chung về xét xử tranh chấp bằng con đường Trọng tài, Trọng tài chỉ có thẩm quyền xử tranh chấp khi, và chỉ khi, các bên tranh chấp trước đó đã cùng thỏa thuận chọn một trung tâm Trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp giữa họ. Trong vụ kiện Trịnh Vĩnh Bình chống lại Chính phủ Việt Nam, một Hội đồng Trọng tài đã được thành lập theo Quy tắc Trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Paris để xét xử tranh chấp. Điều đó đã chứng tỏ các Bên tham gia Thỏa thuận 2006 đã cùng nhất trí đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Paris, và điều đó cũng có nghĩa là Hội đồng Trọng tài đang xét xử vụ kiện hoàn toàn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
3. Luật áp dụng để điều chỉnh Thỏa thuận 2006 và cũng dùng để xét xử vụ kiện:
(a) Khả năng áp dụng LUẬT Ở NƠI KÝ KẾT HỢP ĐỒNG, hoặc LUẬT Ở NƠI CÓ TÀI SẢN:
Nếu các Bên đã không có thỏa thuận gì về Luật được áp dụng để giải thích và thực hiện Thỏa thuận 2006, thì Luật áp dụng để giải thích và thực hiện Thỏa thuận 2006 sẽ được xác định qua một trong các nguyên tắc thông dụng trong Tư pháp quốc tế: (i) Luật ở nơi ký kết Hợp đồng (thỏa thuận) – “Lex Loci Contractus”, hoặc (ii) Luật của nơi có tài sản – “Lex Loci Proprietas”. Tuy nhiên, dù Trọng tài có quyết định áp dụng nguyên tắc chọn Luật, đặc biệt là Luật về Hợp đồng, của Singapore – nơi ký kết hợp đồng để giải quyết tranh chấp, thì cũng rất khó tránh việc phải dẫn chiếu đến, và áp dụng, Luật của nơi có tài sản, tức là Luật của Việt Nam.
(b) Khả năng áp dụng quy định của Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư Việt Nam – Hà Lan 1994:
Bất kể việc ông Bình đã rút đơn khởi kiện Chính phủ Việt Nam tại Trung Tâm Trọng tài ICSIS ở Stockholm (Thụy Điển) sau khi hai Bên ký Thỏa thuận 2006, có rất nhiều khả năng là Hội đồng Trọng tài vẫn sẽ phải dẫn chiếu đến Hiệp định giữa Hà Lan và Việt Nam (1994) như một nguồn để xác định tài sản tranh chấp theo Thỏa thuận 2006.
Như vậy, theo Hiệp định, ông Bình được cho là đã đầu tư vào Việt Nam với tư cách thể nhân (công dân) Hà Lan, chứ không nhân danh chủ một Công ty (pháp nhân) Hà Lan đầu tư vào Việt Nam. Đồng thời, do sự không rõ ràng của điểm (iii) mục (b) của Điều 1, hai pháp nhân (công ty) được thành lập theo luật Việt Nam và đứng tên bởi người nhà của ông Bình, chịu sự kiểm soát của ông Bình, tại Việt Nam hiện không rõ là có được coi là “công dân” Hà Lan theo Hiệp định, từ đó đất đai, tài sản do hai công ty này sở hữu có được bảo hộ theo Hiệp định, hay không?
Ngoài ra, Điểu 1 và toàn bộ nội dung của Hiệp định cũng KHÔNG ghi rõ là sự đầu tư của công dân của một Bên vào Bên kia có phải tuân thủ pháp luật tương ứng của Bên nhận đầu tư, chẳng hạn quy định về đầu tư, hay không. Chẳng hạn, nếu công dân Việt Nam đầu tư ở Hà Lan bằng cách mua đất đai, lập trang trại, mua máy móc, thiết bị và thuê nhân công để đầu tư … trồng cây cần sa, một chất gây nghiện, thì nhà đầu tư có bị xử lý hình sự, và tài sản và kết quả đầu tư đó có bị tịch thu hay không? Thực tế cho thấy kiểu “đầu tư” vi phạm pháp luật nước chủ nhà, thì thường không được pháp luật bảo hộ và sẽ bị xử lý.
Nếu việc đầu tư của công dân của một Bên vào Bên kia luôn phải tuân thủ pháp luật tương ứng của Bên nhận đầu tư, như một chuyện đương nhiên, thì việc công dân của một Bên “lách” luật, nhờ người khác đứng tên giùm để sở hữu tài sản, trái với quy định của Bên nhận đầu tư, thì việc “đầu tư lách luật” cũng như “tài sản” phát sinh tương ứng đương nhiên không thể được bảo hộ theo quy định của Hiệp định song phương.
(c) Khả năng áp dụng Luật Việt Nam:
Khi cần xác định Việt Nam có phải trả lại tài sản, hay bồi thường cho ông Trịnh Vĩnh Bình hay không, và nếu có, là tải sản nào, thì theo nguyên tắc dùng Luật của quốc gia, nơi có tài sản (bất động sản) đang tranh chấp trong Tư pháp quốc tế, khả năng rất cao là Trọng tài sẽ buộc phải dẫn chiếu đến Luật Đất đai, Luật đầu tư nước ngoài và Luật dân sự Việt Nam để phân xử và quyết định: (i) hành vi của ông Bình có phải là hoạt động đầu tư hợp pháp hay không? (ii) việc nhờ người khác đứng tên giùm có phải là việc ủy quyền, hay ủy thác đầu tư hợp pháp hay không? và (iii) những tài sản nào của ông Bình thuộc diện sẽ được trả lại như kết quả hợp pháp của việc đầu tư?
(d) Luật Hình thức (Luật tố tụng): Quy tắc Trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Paris sẽ được Hội đồng Trọng tài áp dụng cho quá trình xét xử vụ kiện, nếu các Bên đã không có thỏa thuận khác.
4. Phía Việt Nam liệu có phải trả lại tài sản, hoặc bồi thường cho ông Bình hay không?
Theo Điều 6, Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Thương mại Đầu tư giữa Việt Nam-Hà Lan: “Không một Bên ký kết nào được thực hiện bất kỳ biện pháp nào để tước đoạt trực tiếp hoặc gián tiếp những đầu tư của các công dân bên kia”. Cũng có nhiều người cho rằng đây là cơ sở để cho rằng ông Trịnh Vĩnh Bình có nhiều khả năng sẽ thắng trong vụ kiện này.
Tuy nhiên, có rất nhiều khả năng là phía Việt Nam sẽ không còn cách nào tốt hơn là sẽ buộc phải bảo vệ quan điểm, rằng ông Trịnh Vĩnh Bình đã vi phạm pháp luật của Việt Nam về đầu tư nước ngoài (đầu tư chui), về quản lý đất đai (Luật đất đai), quy định về quản lý hộ khẩu, tiền tệ, ngân hàng (vận chuyển tiền tệ qua biên giới trái phép)… để Trọng tài xem xét.
Khả năng rất cao là Trọng tài sẽ không ra ra phán quyết để buộc Việt Nam phải trả lại tài sản (nào đó) cho Nguyên đơn Trịnh Vĩnh Bình, vì Nguyên đơn không yêu cầu trả lại tài sản như thế.
Vậy thì cũng có khả năng rất cao, là Trọng tài sẽ phán quyết buộc Việt Nam phải bồi thường, tuy nhiên cũng hầu như chắc chắn sẽ không phải là bồi thường đúng 1,25 tỷ USD như ông Bình đang đòi, mà sẽ là một con số khác, thấp hơn (rất?) nhiều, chỉ là giá trị của những tài sản được coi là hợp pháp, nếu Trọng tài chấp thuận dẫn chiếu đến nguyên tắc áp dụng Luật ở nơi có tài sản để phán quyết rằng Nguyên đơn Trịnh Vĩnh Bình cũng có lỗi vi phạm pháp luật Việt Nam, từ đó giảm thiểu mức bồi thường dành cho ông.
5. Một số vấn đề cần lưu ý:
Thứ nhất, khi nộp đơn kiện, phía Nguyên đơn Trịnh Vĩnh Bình, nếu xét từ khía cạnh Hiệp định khuyến khích và Bảo hộ đầu tư Việt Nam – Hà Lan, sẽ có lợi thế khi viện dẫn Điều 6: “Không một Bên ký kết nào được thực hiện bất kỳ biện pháp nào để tước đoạt trực tiếp hoặc gián tiếp những đầu tư của các công dân bên kia”.
Tuy nhiên, trong cả hai lần kiện Chính phủ Việt Nam (2005 và 2017), Nguyên đơn Trịnh Vĩnh Bình đều không có yêu cầu đòi Chính phủ Việt Nam trả lại tài sản, mà chỉ yêu cầu bồi thường bằng tiền (100 triệu USD và 1,25 tỷ USD). Điều này vừa thể hiện sự khôn ngoan của Bên ông Bình, vừa cũng thể hiện điểm yếu của Nguyên đơn, khi họ muốn tránh bằng mọi giá việc xác định Tính Hợp Pháp của việc “đầu tư”, cũng như của “các tài sản bị tịch thu”.
Thứ hai, có thể sẽ có sự khác biệt trong quan điểm của hai Bên tranh chấp về vần đề “Ủy quyền/Đứng tên giùm”, buộc Trọng tài phải dẫn chiếu Luật Điều chỉnh để phân xử.
Theo luật pháp và tập quán ở các quốc gia có nền Kinh tế Thị trường đã phát triển (EU, Mỹ, Canada, Úc, Nhật…), việc một tổ chức, cá nhân giao một khoản tiền vốn cho một cá nhân hay tổ chức khác thay mình thực hiện việc đầu tư thông qua một Hợp đồng ủy quyền hay Hợp đồng Ủy thác đầu tư là chuyện rất bình thường. Thông qua các Hợp đồng như vậy, Nhà đầu tư không cần tiết lộ danh tính, nhưng vẫn được coi là chủ sỡ hữu hợp pháp của số tiền vốn và kết quả đầu tư.
Tại Việt Nam, ở thời điểm cuối những năm 1980, việc nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài 1987 vẫn còn rất khó khăn. Luật quy định phải có dự án đầu tư được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, phải thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh…, và tiền vốn hay tài sản khác dùng để góp vốn đầu tư được đưa vào một cách hợp pháp, thông qua ngân hàng, hoặc thủ tục nhập khẩu, thẩm định giá trị rất nghiêm ngặt… Nếu ông Bình đưa tiền và vàng vào Việt Nam theo các con đường khác, thì việc dùng tiền đó để đầu tư có thể bị coi là không hợp pháp.
Ngoài ra, việc giao đất, công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng có quy định riêng, không chấp nhận nhờ người khác “đứng tên giùm” trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, trong hồ sơ xin giao đất… Việc ông Bình nhờ bà con đứng tên giùm trong giấy tờ hồ sơ xin giao đất, nhận chuyển nhượng (mua) đất do ông Trịnh Vĩnh Bình và những người đứng tên giùm đã có nhiều hành vi vi phạm pháp luật, những hành vi đó sẽ phải được coi là “đầu tư chui”, đầu cơ thâu tóm đất đai…bất hợp pháp.
Thứ ba, cho tới nay, bản án Hình sự của Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam đối với ông Trịnh Vĩnh Bình vẫn còn nguyên hiệu lực, ở cả hai phần án phạt tù và xử lý (tịch thu) tài sản vi phạm pháp luật. Ông Bình mới chỉ được “Miễn chấp hành hình phạt tù”, chứ chưa được xóa án. Việc vẫn còn bản án Hình sự có hiệu lực đối với ông Bình sẽ là một cơ sở quan trọng để xem xét tính hợp pháp của việc “đầu tư” và của “các tài sản thu được từ đầu tư” của ông Bình, giống như khi cần xem xét tính hợp pháp của việc “đầu tư bằng cách… trồng cây cần sa” đã nói ở trên.
Cũng có dư luận cho rằng việc xét xử hình sự đối với ông Bình là “Hình sự hóa quan hệ kinh tế”, là “Vi phạm nhân quyền”… Nhưng chắc chắn là Trọng tài Quốc tế Paris khi xét xử vụ kiện này (Vi phạm Thỏa thuận 2006) như một vụ tranh chấp thương mại sẽ không thể (hay không có thẩm quyền) xem xét vụ kiện từ góc độ oan sai trong án hình sự, hay nhân quyền…
Thứ tư, về vấn đề bồi thường, điều này tùy thuộc vào việc dùng Luật nào để điều chỉnh Thỏa thuận 2006 và xét xử tranh chấp.
Thông thường thì Trọng tài quốc tế sẽ căn cứ thực tế diễn biến (nội dung) của vụ kiện, Luật điều chỉnh Hợp đồng, các lỗi vi phạm hợp đồng và thiệt hại phát sinh thực tế để quyết định: Ai phải bồi thường cho ai? Bồi thường bao nhiêu và dựa trên cơ sở nào?
Nếu là bồi thường theo Luật điều chỉnh mà sẽ được xác định theo nguyên tắc chọn Luật ở nơi ký kết Hợp đồng (Lex Loci Contractus), thì phải xem xét quy định về bồi thường theo Luật pháp của Singapore, nơi ký Thỏa thuận 2006. Nhìn chung, Luật Singapore, đặc biệt là Luật về Hợp đồng, chịu nhiều ảnh hưởng từ Luật của Anh và trường phái Thông Luật (Common Law). Xét về nguyên tắc, các thiệt hại của Bên bị vi phạm hợp đồng sẽ được Bên vi phạm bồi thường đầy đủ.
Tuy nhiên, Luật của Singapore cũng có quy định về các khoản (loại) bồi thường bổ sung khác, làm cho tổng giá trị bồi thường, trong những trường hợp cụ thể, cao hơn nhiều so với thiệt hại thực tế. Tài sản bị tịch thu của ông Bình ở thời điểm năm 2005, khi ông nộp đơn kiện Việt Nam ở Trọng tài Stockholm được xác định chỉ khoảng 30 triệu USD, và Việt Nam đã chấp nhận bồi thường cho ông 15 triệu USD cùng với “Trả lại tài sản”. Tuy nhiên, trong lần kiện này, nếu áp dụng Luật Singapore để xác định tổng giá trị bồi thường, nếu có, thì chúng tôi tin rằng con số đó có thể sẽ cao hơn, nhưng chắc là vẫn sẽ thấp con con số 1,25 tỷ USD.
Trong khi đó, nếu là bồi thường theo Luật mà sẽ được xác định theo nguyên tắc chọn Luật ở nơi có tài sản (Lex Loci Propietas), thì phải xem xét quy định về bồi thường theo Luật thương mại hiện hành của Việt Nam, tức sẽ căn cứ theo các yếu tố: (i) Có sự sự vi phạm Thỏa thuận, (ii) có thiệt hại là hậu quả trực tiếp từ sự vi phạm Thỏa thuận của một Bên, và (iii) Thiệt hại phải cụ thể, có thể tính toán được (bằng tiền).
Ngoài ra, nếu phía Việt Nam chưa thực hiện Thỏa thuận 2006 với lý do hai Bên chưa hợp tác được với nhau (hoặc do ông Bình từ chối hợp tác), để xác định được tính hợp pháp của tài sản sẽ được trả lại, thuộc một trong ba khả năng cho vấn đề nội hàm của thuật ngữ “tài sản” trong Thỏa thuận 2006 mà chúng tôi đã đề cập ở trên, thì để tránh bế tắc cho vụ kiện, rất có thể hai Bên vừa qua đã nhất trí bổ sung yêu cầu Hội đồng Trọng tài phân xử để xác định liên quan đến “các tài sản sẽ được trả lại”, Việt Nam, do không vi phạm Thỏa thuận 2006, sẽ không phải bồi thường cho ông Bình.
Nếu phía Việt Nam trước đây rõ ràng đã từ chối hợp tác với Ông Bình để xác định tài sản sẽ được trả lại, thì Việt Nam đã vi phạm Thỏa thuận 2006, và vì vậy sẽ phải bồi thường cho ông Bình theo Luật điều chỉnh Thỏa thuận đã được đề cập ở trên.
Lời kết
Hiện nay đã có những dấu hiệu cho thấy Chính phủ Việt Nam dường như đã sẵn sàng chấp nhận bồi thường một cách hợp lý, để tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, nhưng cũng sẵn sàng “chơi tới cùng” nếu bị ép quá.
Theo tin từ Vietnamnet (30/8/2017), trong cuộc họp báo của Chính phủ, phần trả lời về vụ Trịnh Vĩnh Bình kiện chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ Mai Tiến Dũng đã thông báo chính thức: “…quan điểm của Chính phủ, Thủ tướng là tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch cả với doanh nghiệp trong và ngoài nước. Hiện vụ việc này Toà án quốc tế đang xem xét. Theo các nguyên tắc về bảo hộ, khi có vấn đề tranh chấp vi phạm thoả thuận của một địa phương nào đó với nhà đầu tư nước ngoài thì họ không kiện địa phương mà kiện Chính phủ. Trong vụ này, Toà quốc tế đang xem xét, chúng ta cũng phải đợi thôi. Nhưng quan điểm của Thủ tướng là chúng ta tạo môi trường minh bạch, tạo niềm tin đối với nhà đầu tư nước ngoài”.
Theo một nguồn tin khác: ngày 28/8/2017, bà Nguyễn Phương Trà, Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trả lời gần 10 câu hỏi liên quan đến vụ kiện của ông Trịnh Vĩnh Bình: “Việt Nam luôn hoan nghênh và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tại Việt Nam. Mọi hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam. Những hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng các quy định pháp luật”.
Theo thông lệ của hình thức giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tai, nhiều khả năng Hội đồng Trọng tài sẽ cần một thời gian để đưa ra một phán quyết bằng văn bản gửi trực tiếp cho các Bên, và cũng chưa có gì chắc chắn là nội dung phán quyết sẽ được công bố ra công chúng, do đặc điểm “giữ bí mật” của hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Vì vậy, rất có thể những thông tin chính thức về nội dung, diễn biến và kết quả (chi tiết) của vụ kiện này sẽ không bao giờ được công bố rộng rãi.
————–
http://nghiencuuquocte.org/2017/09/04/vu-kien-trinh-vinh-binh-vs-chinh-phu-viet-nam/
Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017
Từ Quy định 90, nhìn lại ‘tiêu chí đặc biệt’ trước đại hội 12
Ông Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số 90 -QĐ/TW về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý vào tháng Tám năm 2017 nhằm mục đích gì?
Nếu căn cứ vào bối cảnh ra đời của Quy định 90, người ta có thể nhận ra một ý nghĩa, hoặc hàm ý khác hơn là những nội dung chung chung và có vẻ giáo điều của nó.
Người ký và rất có thể chính là tác giả của “phát minh Quy định 90” là ông Nguyễn Phú Trọng. Với nhân vật này, nếu dư luận chung còn ví ông với hình ảnh “giáo làng” trước đại hội 12 của đảng cầm quyền vào đầu năm 2016, thì sau đại hội này cùng chiến thắng gần như tuyệt đối dành cho ông Trọng, dư luận xã hội đã từ ngạc nhiên đến có phần kinh ngạc, thậm chí một số chính trị gia còn dành cho ông Trọng một sự thán phục lần đầu tiên về “thủ pháp chính trị” của ông đã “nâng lên một tầm cao mới”.
Bối cảnh hậu đại hội 12, đặc biệt là từ nửa cuối năm 2016 đến nay lại mang màu sắc tiền đại hội 12. Nghĩa là đảng vẫn phải xử lý cuộc khủng hoảng nội bộ, nạn tham nhũng trầm kha chưa hề vơi bớt, cùng cơn “binh lửa” mới toanh mà giờ đảng mới nhận ra: nạn cát cứ quyền lực và sứ quân khu vực. Một trong những “tư tưởng gia” của đảng là ông Nhị Lê – Phó tổng biên tập Tạp chí Cộng sản – mới đây đã phải tán thán là hiện thời có đến hàng trăm sứ quân.
Lại nhớ thời tiền đại hội 12. Sau Hội nghị trung ương 12 vào đầu tháng 10/2015 được coi là “bất phân thắng bại”, Hội nghị trung ương 13 lại càng mang tính gấp rút, quyết đoán và “nghệ thuật chính trị” hơn khi chỉ còn một tháng nữa sẽ diễn ra đại hội 12 của đảng cầm quyền. Đến lúc này đã xuất hiện vấn đề “tiêu chí đặc biệt” – nằm trong một văn bản của đảng mà ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng bí thư đảng, và ông Tô Huy Rứa – Trưởng ban tổ chức trung ương – được coi là đồng tác giả. Một số trong những nội dung đáng chú ý của “tiêu chí đặc biệt” là nhân sự cấp cao không được để “người thân trục lợi” và không có “vấn đề lịch sử chính trị hiện nay”. Nếu “dính” phải những nội dung trên, nhiều khả năng nhân sự cấp cao sẽ không được Ban chấp hành trung ương và Bộ chính trị giới thiệu để trở thành ứng cử viên tổng bí thư tại đại hội 12.
Khi “tiêu chí đặc biệt” được nêu ra, rất nhiều dư luận đã cho rằng những điều kiện này về thực chất là nhằm loại Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khỏi cuộc đua giành cái ghế tổng bí thư.
Lồng trong bối cảnh cuộc xung đột quyền lực trong nội bộ đảng đang đẩy lên cao điểm, bầu không khí trước đại hội 12 lại có thể khiến dư luận nhớ lại một sự kiện gần tương tự tại Hội nghị trung ương 6 của đảng cầm quyền vào cuối năm 2012.
Đọc phát biểu kết thúc Hội nghị 6, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã “rơi nước mắt vào lịch sử” – như một câu ví von rất thơ và điệu nghệ về sau này của thuộc cấp ông Trọng, như thể chữa thẹn cho ông. Nhưng thực ra, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang cùng một số “đồng chí” khác trong Bộ chính trị đã bất lực mà không thể kỷ luật được “đồng chí X” – biệt hiệu được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đặt.
Tuy nhiên, ông Sang – đối thủ được coi là không khoan nhượng trong cuộc cạnh tranh quyền lực với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – đã không thể làm gì được “đồng chí X”. Trong cuộc bỏ phiếu quyết định có kỷ luật khiển trách hay không Thủ tướng Dũng, được biết có đến hơn 70% trong số 175 ủy viên trung ương không tán thành. Kế hoạch loại Thủ tướng Dũng của các ông Trọng – Sang cũng vì thế đã thất bại cay đắng.
3 năm rưỡi sau, những vấn đề mà phe đảng quy kết đối với Thủ tướng Dũng còn nhiều gấp bội trước đó, kể cả “vấn đề chính trị hiện nay”.
Vào tháng 10/2015 đã xuất hiện một lá thư dài đến 9 trang A4 – được cho là của ông Nguyễn Tấn Dũng – giải trình trước Tổng bí thư và Bộ Chính trị về 12 điểm, trong đó có những nội dung liên quan đến tiêu chí “không để người thân trục lợi” và “vấn đề lịch sử chính trị hiện nay”.
Sau Hội nghị trung ương 14 và sát thời điểm bỏ phiếu quyết định vận mạng chức danh tổng bí thư, phía Tuyên giáo trung ương đã công khai hóa việc “chỉ giữ lại một đồng chí thuộc trường hợp “đặc biệt”, còn 9 đồng chí quá tuổi trong Bộ chính trị đều xin rút”.
Công bố trên đã chính thức thông báo sự rút lui của Ủy viên bộ chính trị Nguyễn Tấn Dũng.
Còn giờ đây, câu chuyện “người thân trục lợi” đã được hóa thân vào chiến dịch “kiểm tra tài sản 1.000 quan chức” của Tổng bí thư Trọng.
Nếu “tiêu chí đặc biệt” về “không để người thân trục lợi” và “vấn đề lịch sử chính trị hiện nay” được ban hành ngay trước đại hội 12, Quy định 90 được công bố khi Hội nghị trung ương 6 của đảng cầm quyền sẽ diễn ra vào khoảng giữa tháng 10/2017.
Và nếu số lượng sứ quân lên đến hàng trăm, bài toán mà ông Trọng muốn giải có lẽ là phải thẳng tay loại ra, hoặc “luân chuyển cán bộ”, hoặc vô hiệu hóa đến phân nửa Ban chấp hành trung ương, nếu không phải tại Hội nghị trung ương 6 thì cũng phải làm sau đó không lâu. Quy định 90 có lẽ không ngoài mục tiêu đó.
Thiền Lâm – Cali Today News
Bản sắc Nguyễn Phú Trọng
Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu
Khi đại hội đảng CSVN 12 kết thúc, việc Nguyễn Phú Trọng đã 72 tuổi được ở lại tiếp tục làm tổng bí thư. Lý giải cho sự vô lý này, Nguyễn Phú Trọng giải thích đó là chính sách của đảng nhằm đạt mục tiêu ba lứa tuổi tiếp nối trong đảng nhưng sau này thì ông ta khi chắc ghế tổng bí thư lại giải thích đó là sự tin tưởng của các đảng viên.
Nguyễn Phú Trọng đã tập trung thời gian và công sức của mình vào việc làm sao kéo dài được quyền lực, trong khi các đối thủ của ông ta bận bịu giải quyết nhiều việc, thì Trọng rảnh rang ngồi vẽ kế hoạch , vạch chương trình để mình thâu tóm được quyền lực. Không phải lo lắng về cơm áo, gạo tiền cho nhân dân, chẳng phải đối mặt với hàng muôn vàn vấn nạn và bức xúc của xã hội như người khác. Trọng tha hồ có thời gian tính mưu kế gây chia rẽ, nghị kỵ, đấu đá giữa các thế lực cạnh tranh nhau rơi vào cảnh đôi bên sứt mẻ và còn lại Trọng ở giữa hưởng lợi.
Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Phú Trọng, trưởng ban tổ chức trung ương Tô Huy Rứa lúc đó đã nghiên cứu và đưa ra quyết định 244 vào tháng 6 năm 214. Quyết định này có mục chỉ những người trong Bộ Chính Trị giới thiệu ra trung ương mới được chấp nhận, những người do trung ương giới thiệu thì phải tự xin rút lui không ra ứng cử ở đại hội.
Đến đại hội 12 Nguyễn Phú Trọng trên cương vị đứng đầu Bộ Chính Trị đã tự giới thiệu mình là người duy nhất ở lại ra ứng cử mặc dù quá tuồi. Nhờ cái công soạn ra quyết định 244 và đưa ra trung ương, giúp cho Trọng ở lại làm tổng bí thư mà Tô Huy Rứa thoát tội sau này. Vào giữa năm 2016 Nguyễn Phú Trọng mở chiến dịch tiêu diệt Đinh La Thăng, một uỷ viên BCT đã làm Trọng khó chịu. Để mở màn chiến dịch này Trọng nhằm vào Trịnh Xuân Thanh, con của một người hàng xóm cũng là con của một đồng chí cao cấp trong đảng đã về hưu.
Trịnh Xuân Thanh được lên chức nhờ sự che đỡ của Tô Huy Rứa. Thanh đã chiều chuộng, chăm sóc Tô Linh Hương con gái của Rứa và thường xuyên đến nhà Rứa để cung phụng cho và Nhung vợ Rứa những món quà hay những xấp tiền khủng. Sự mua chuộc, săn đón của Trịnh Xuân Thanh với vợ con nhà Tô Huy Rứa đã thành tin đồn Tô Linh Hương là tình nhân của Thanh là vậy.
Việc truy xét kỷ luật Trịnh Xuân Thanh trong vấn đề luân chuyển dừng lại ở cấp phó của Rứa, một kẻ cũng đã về hưu, kỷ luật lấy lệ. Còn Rứa không hề hấn gì. Dân chúng không hiểu chuyện, nhưng những cán bộ trong đảng đều ngao ngán kiểu đánh tiêu cực của Nguyễn Phú Trọng thiếu khách quan. Gặp người mình ghét thì làm triệt để, xúi báo chí tung hô, ca ngợi. Gặp phải kẻ tay chân của mình thì nín bặt như tố chuyện luân chuyển của Trịnh Xuân Thanh hay cơ cấu Thanh làm nguồn thứ trưởng lẽ ra phải đến Rứa thì lại ngừng. Cũng như chuyện bí thư Thanh Hoá có bồ riêng, xe sang, biệt thự gây bão dư luận Trọng cũng giả điếc, hay vụ Yên Bái quan chức đầu tỉnh chiếm đoạt đất công khiến dân chúng bức xúc Trọng cũng làm ngơ.
Bởi những nhân vật tai tiếng đó là sân sau của Trọng, hơn nữa Trọng đang bận để ra mưu nhằm tiếp tục củng cố vị trí tổng bí thư không chỉ đến hết nhiệm kỳ mà còn đến cả nhiệm kỳ nữa. Trọng ban hành quyết định 89, 90 liên tiếp đưa ra những mục tiêu làm tổng bí thư mà chỉ có Trọng đạt được, trong đó nhấn mạnh phần có lý luận chính trị của chủ nghĩa Mác Lê. Đáng chú ý quyết định này được đưa ra khi Trọng đã phế truất nhanh chóng Đinh Thế Huynh, người duy nhất trong Bộ Chính Trị là đối thủ về mặt lý luận chủ nghĩa Mác Lê với Trọng. Quyết định 89, 90 cũng đưa ra chớp nhoáng khi chủ tịch Trần Đại Quang bị u phổi lành tính. Căn bệnh của Quang không nguy hiểm, nhưng cuộc phẫu thuật và điều trị cần phải có thời gian.
Bài liên quan:
Từ Quy định 90, nhìn lại ‘tiêu chí đặc biệt’ trước đại hội 12
Một quy định đen tối thâu tóm quyền lực
Những tử huyệt của ông Tổng
Phải nói Trọng rất biết tận dụng cơ hội người khác đổ bệnh để khẳng định vị trí của mình, trắng trợn vô nhân tính trong thời điểm cần thiết là những đặc tính tiêu biểu của Trọng mà những uỷ viên bộ chính trị khoá 11 và khoá 12 không ai bằng được Trọng. Ẩn mình quan sát, bày trận và tận dụng lúc người khác có chuyện để ra tay, không có tình nghĩa, không sợ dư luận bởi Trọng biết khi chiến thắng thì những mưu mô của Trọng không ai dám vạch ra, trái lại chỉ có những lời ca tụng như Trọng đã dùng quyết định 244 trước kia thành công.
Con người đầy tham vọng quyền lực và danh tiếng như Nguyễn Phú Trọng phải làm mọi thủ đoạn để được nắm quyền là tất nhiên, thậm chí y sẽ nắm quyền đến lúc chết. Nếu như Nguyễn Phú Trọng phải về hưu bây giờ, chắc chắn Trọng sẽ ngã bệnh chết vì bị khủng hoảng tinh thần. Trọng khó có được cái bản lĩnh như Nguyễn Minh Triết khi giã từ chính trường về làm dân thường vui thú điền viên. Trọng là mẫu người mà người ta đã dựng thành phim hài, trong đó nhân vật chính là quan chức về hưu không thể quen được cảnh đang bao người tung hô, nịnh bợ bất chợt về hưu quanh quẩn xó nhà không ai ngó đến. Con người như Trọng nếu phải về giữa nhiệm kỳ, y chỉ có khủng hoảng tâm lý dẫn đến cái chết. Hiện nay Trọng sức khoẻ đã khá yếu, một bữa cơm Trọng ăn hơn 2 tiếng đồng hồ, vấn đề vệ sinh đại tiểu tiện của Trọng cũng mất cả tiếng đồng hồ. Chỉ nhờ vào ánh hào quang quyền lực làm động cơ thúc đẩy cho Trọng sống, nếu như ánh hào quang đó tắt tính mạng Trọng đi theo cũng là điều dễ hiểu.
Đây là thời khắc đáng sợ cho vận mệnh đất nước Việt Nam, một con người tham quyền cố vị dùng mọi thủ đoạn như Trọng đang nắm quyền đất nước, tất ở dưới sẽ sinh ra vô số bọn ninh bợ, tấu điêu, lừa dối hiện trạng đất nước. Trọng cứ ngỡ mình là một minh quân trong mắt dân chúng và đời sống dân chúng ngoài kia đang sung túc, hạnh phúc. Vây quanh Trọng là một lũ nịnh thần và những báo cáo tốt đẹp qua những con số láo toét về kinh tế, chỉ số đời sống, thành tích mà Trọng không hề hiêu rõ chỉ biết nghe thấy sướng tai. Cùng với những tố cáo người này, người kia để Trọng xử lý. Đứng đầu lũ nịnh thần là Nguyễn Xuân Phúc, một kẻ gian xảo và nịnh bợ hiện ra rõ ra mặt và những lời nói.
Trong lịch sử Việt Nam đã có nhiều trường hợp vua quan như bọn Trọng, Phúc ngày nay. Mỗi lần như thế dân chúng lại điêu linh, cướp bóc, lừa đảo, băng hoại đạo đức diễn ra tràn lan trong cuộc sống người dân. Thuế cao, phí nặng, bệnh tật hoành hoành là những thứ song hành đổ lên đầu dân đen. Thử nhìn tổng thể xã hội bây giờ và soi chiếu vào cảnh vua tôi của Trọng, Phúc có khác gì thời xã hội phong kiến thối nát, suy tàn không.?
Một điều nghiệt ngã của lịch sử là những tên vua bạo chúa chỉ có bị giết chết mới chấm dứt được nỗi khổ trong nhân dân. Nhưng thực tế số bị nổi dậy, giết chết ít hơn số bạo chúa sống đến chết già. Một dân tộc hay một đất nước may mắn thì những tên bạo chúa bị giết chết, còn những đất nước kém may mắn những tên bạo chúa sống đến lúc chúng quá già không sống được. Đất nước Việt Nam đang rơi vào cảnh thứ hai.
Nguyễn Phú Trọng ban hành quyết định 89, 90 như môt tuyên bố, chỉ có y làm tổng bí thư đến khi nào y chết mới thôi.
Đây mới là sự dân chủ tiêu biểu của chế độ cộng sản nói chung và sự dân chủ đầy bản sắc Nguyễn Phú Trọng nói riêng.
Khi đại hội đảng CSVN 12 kết thúc, việc Nguyễn Phú Trọng đã 72 tuổi được ở lại tiếp tục làm tổng bí thư. Lý giải cho sự vô lý này, Nguyễn Phú Trọng giải thích đó là chính sách của đảng nhằm đạt mục tiêu ba lứa tuổi tiếp nối trong đảng nhưng sau này thì ông ta khi chắc ghế tổng bí thư lại giải thích đó là sự tin tưởng của các đảng viên.
Nguyễn Phú Trọng đã tập trung thời gian và công sức của mình vào việc làm sao kéo dài được quyền lực, trong khi các đối thủ của ông ta bận bịu giải quyết nhiều việc, thì Trọng rảnh rang ngồi vẽ kế hoạch , vạch chương trình để mình thâu tóm được quyền lực. Không phải lo lắng về cơm áo, gạo tiền cho nhân dân, chẳng phải đối mặt với hàng muôn vàn vấn nạn và bức xúc của xã hội như người khác. Trọng tha hồ có thời gian tính mưu kế gây chia rẽ, nghị kỵ, đấu đá giữa các thế lực cạnh tranh nhau rơi vào cảnh đôi bên sứt mẻ và còn lại Trọng ở giữa hưởng lợi.
Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Phú Trọng, trưởng ban tổ chức trung ương Tô Huy Rứa lúc đó đã nghiên cứu và đưa ra quyết định 244 vào tháng 6 năm 214. Quyết định này có mục chỉ những người trong Bộ Chính Trị giới thiệu ra trung ương mới được chấp nhận, những người do trung ương giới thiệu thì phải tự xin rút lui không ra ứng cử ở đại hội.
Đến đại hội 12 Nguyễn Phú Trọng trên cương vị đứng đầu Bộ Chính Trị đã tự giới thiệu mình là người duy nhất ở lại ra ứng cử mặc dù quá tuồi. Nhờ cái công soạn ra quyết định 244 và đưa ra trung ương, giúp cho Trọng ở lại làm tổng bí thư mà Tô Huy Rứa thoát tội sau này. Vào giữa năm 2016 Nguyễn Phú Trọng mở chiến dịch tiêu diệt Đinh La Thăng, một uỷ viên BCT đã làm Trọng khó chịu. Để mở màn chiến dịch này Trọng nhằm vào Trịnh Xuân Thanh, con của một người hàng xóm cũng là con của một đồng chí cao cấp trong đảng đã về hưu.
Trịnh Xuân Thanh được lên chức nhờ sự che đỡ của Tô Huy Rứa. Thanh đã chiều chuộng, chăm sóc Tô Linh Hương con gái của Rứa và thường xuyên đến nhà Rứa để cung phụng cho và Nhung vợ Rứa những món quà hay những xấp tiền khủng. Sự mua chuộc, săn đón của Trịnh Xuân Thanh với vợ con nhà Tô Huy Rứa đã thành tin đồn Tô Linh Hương là tình nhân của Thanh là vậy.
Việc truy xét kỷ luật Trịnh Xuân Thanh trong vấn đề luân chuyển dừng lại ở cấp phó của Rứa, một kẻ cũng đã về hưu, kỷ luật lấy lệ. Còn Rứa không hề hấn gì. Dân chúng không hiểu chuyện, nhưng những cán bộ trong đảng đều ngao ngán kiểu đánh tiêu cực của Nguyễn Phú Trọng thiếu khách quan. Gặp người mình ghét thì làm triệt để, xúi báo chí tung hô, ca ngợi. Gặp phải kẻ tay chân của mình thì nín bặt như tố chuyện luân chuyển của Trịnh Xuân Thanh hay cơ cấu Thanh làm nguồn thứ trưởng lẽ ra phải đến Rứa thì lại ngừng. Cũng như chuyện bí thư Thanh Hoá có bồ riêng, xe sang, biệt thự gây bão dư luận Trọng cũng giả điếc, hay vụ Yên Bái quan chức đầu tỉnh chiếm đoạt đất công khiến dân chúng bức xúc Trọng cũng làm ngơ.Bởi những nhân vật tai tiếng đó là sân sau của Trọng, hơn nữa Trọng đang bận để ra mưu nhằm tiếp tục củng cố vị trí tổng bí thư không chỉ đến hết nhiệm kỳ mà còn đến cả nhiệm kỳ nữa. Trọng ban hành quyết định 89, 90 liên tiếp đưa ra những mục tiêu làm tổng bí thư mà chỉ có Trọng đạt được, trong đó nhấn mạnh phần có lý luận chính trị của chủ nghĩa Mác Lê. Đáng chú ý quyết định này được đưa ra khi Trọng đã phế truất nhanh chóng Đinh Thế Huynh, người duy nhất trong Bộ Chính Trị là đối thủ về mặt lý luận chủ nghĩa Mác Lê với Trọng. Quyết định 89, 90 cũng đưa ra chớp nhoáng khi chủ tịch Trần Đại Quang bị u phổi lành tính. Căn bệnh của Quang không nguy hiểm, nhưng cuộc phẫu thuật và điều trị cần phải có thời gian.
Bài liên quan:
Từ Quy định 90, nhìn lại ‘tiêu chí đặc biệt’ trước đại hội 12
Một quy định đen tối thâu tóm quyền lực
Những tử huyệt của ông Tổng
Phải nói Trọng rất biết tận dụng cơ hội người khác đổ bệnh để khẳng định vị trí của mình, trắng trợn vô nhân tính trong thời điểm cần thiết là những đặc tính tiêu biểu của Trọng mà những uỷ viên bộ chính trị khoá 11 và khoá 12 không ai bằng được Trọng. Ẩn mình quan sát, bày trận và tận dụng lúc người khác có chuyện để ra tay, không có tình nghĩa, không sợ dư luận bởi Trọng biết khi chiến thắng thì những mưu mô của Trọng không ai dám vạch ra, trái lại chỉ có những lời ca tụng như Trọng đã dùng quyết định 244 trước kia thành công.
Con người đầy tham vọng quyền lực và danh tiếng như Nguyễn Phú Trọng phải làm mọi thủ đoạn để được nắm quyền là tất nhiên, thậm chí y sẽ nắm quyền đến lúc chết. Nếu như Nguyễn Phú Trọng phải về hưu bây giờ, chắc chắn Trọng sẽ ngã bệnh chết vì bị khủng hoảng tinh thần. Trọng khó có được cái bản lĩnh như Nguyễn Minh Triết khi giã từ chính trường về làm dân thường vui thú điền viên. Trọng là mẫu người mà người ta đã dựng thành phim hài, trong đó nhân vật chính là quan chức về hưu không thể quen được cảnh đang bao người tung hô, nịnh bợ bất chợt về hưu quanh quẩn xó nhà không ai ngó đến. Con người như Trọng nếu phải về giữa nhiệm kỳ, y chỉ có khủng hoảng tâm lý dẫn đến cái chết. Hiện nay Trọng sức khoẻ đã khá yếu, một bữa cơm Trọng ăn hơn 2 tiếng đồng hồ, vấn đề vệ sinh đại tiểu tiện của Trọng cũng mất cả tiếng đồng hồ. Chỉ nhờ vào ánh hào quang quyền lực làm động cơ thúc đẩy cho Trọng sống, nếu như ánh hào quang đó tắt tính mạng Trọng đi theo cũng là điều dễ hiểu.
Đây là thời khắc đáng sợ cho vận mệnh đất nước Việt Nam, một con người tham quyền cố vị dùng mọi thủ đoạn như Trọng đang nắm quyền đất nước, tất ở dưới sẽ sinh ra vô số bọn ninh bợ, tấu điêu, lừa dối hiện trạng đất nước. Trọng cứ ngỡ mình là một minh quân trong mắt dân chúng và đời sống dân chúng ngoài kia đang sung túc, hạnh phúc. Vây quanh Trọng là một lũ nịnh thần và những báo cáo tốt đẹp qua những con số láo toét về kinh tế, chỉ số đời sống, thành tích mà Trọng không hề hiêu rõ chỉ biết nghe thấy sướng tai. Cùng với những tố cáo người này, người kia để Trọng xử lý. Đứng đầu lũ nịnh thần là Nguyễn Xuân Phúc, một kẻ gian xảo và nịnh bợ hiện ra rõ ra mặt và những lời nói.
Trong lịch sử Việt Nam đã có nhiều trường hợp vua quan như bọn Trọng, Phúc ngày nay. Mỗi lần như thế dân chúng lại điêu linh, cướp bóc, lừa đảo, băng hoại đạo đức diễn ra tràn lan trong cuộc sống người dân. Thuế cao, phí nặng, bệnh tật hoành hoành là những thứ song hành đổ lên đầu dân đen. Thử nhìn tổng thể xã hội bây giờ và soi chiếu vào cảnh vua tôi của Trọng, Phúc có khác gì thời xã hội phong kiến thối nát, suy tàn không.?Một điều nghiệt ngã của lịch sử là những tên vua bạo chúa chỉ có bị giết chết mới chấm dứt được nỗi khổ trong nhân dân. Nhưng thực tế số bị nổi dậy, giết chết ít hơn số bạo chúa sống đến chết già. Một dân tộc hay một đất nước may mắn thì những tên bạo chúa bị giết chết, còn những đất nước kém may mắn những tên bạo chúa sống đến lúc chúng quá già không sống được. Đất nước Việt Nam đang rơi vào cảnh thứ hai.
Nguyễn Phú Trọng ban hành quyết định 89, 90 như môt tuyên bố, chỉ có y làm tổng bí thư đến khi nào y chết mới thôi.
Đây mới là sự dân chủ tiêu biểu của chế độ cộng sản nói chung và sự dân chủ đầy bản sắc Nguyễn Phú Trọng nói riêng.
Chủ Nhật, 3 tháng 9, 2017
Chín vấn đề nổi bật của ngoại giao Trung Quốc
Biên dịch: Hoàng Lan
Ngoại giao về cơ bản được quyết định bởi thực lực quốc gia. Nhưng không có nghĩa là có thực lực thì có thể làm tốt ngoại giao, ở đây còn có một vấn đề làm thế nào để vận dụng thực lực, việc này liên quan đến tư tưởng, chiến lược và sách lược ngoại giao.
Những năm gần đây cùng với việc nâng cao thực lực quốc gia, phong cách ngoại giao của Trung Quốc cũng có sự thay đổi rất lớn, từ tương đối bảo thủ trước đây chuyển sang tích cực dám nghĩ dám làm, nhưng việc tích cực mạnh dạn này lại không mang lại hiệu quả như mong đợi, trái lại, ở mức độ nào đó khiến cho môi trường tổng thể của Trung Quốc trở nên xấu đi. Ở đây có nhân tố dư luận bên ngoài chưa thể thích ứng với việc nâng cao thực lực của Trung Quốc, tuy nhiên phần nhiều là do bản thân Trung Quốc gây ra. Nói một cách đơn giản ngoại giao Trung Quốc mang lại cho người ta cảm giác “sợ nhưng không phục”, làm người ta sợ thì dễ, bởi thực lực của bạn đặt ở đó, người ta đương nhiên sợ bạn, giống như đứa trẻ sợ người lớn vậy, đây là một phản ứng tự nhiên nảy sinh bởi thực lực quốc gia, nhưng đồng thời với sự sợ hãi, làm cho người ta tôn kính hay nể phục thì rất khó.
Mỹ là bá chủ toàn cầu, nói một cách tương đối, Mỹ xử lý rất tốt mối quan hệ giữa “sợ” và “phục”, làm cho cả thế giới “vừa sợ vừa phục”. Ngoại giao Trung Quốc muốn đạt đến trình độ này, về mặt tư tưởng và thực tiễn ngoại giao cần phải có một sự thay đổi hệ thống, đặc biệt là phải có sự điều chỉnh lớn trong việc xử lý 9 vấn đề dưới dây:
Thứ nhất, thay đổi tư duy và tâm lý đối đầu ngoại giao với Mỹ, điều chỉnh quan hệ Trung-Mỹ
Nếu quan hệ Trung-Mỹ không phải là mối quan hệ quan trọng nhất trên thế giới hiện nay thì cũng là một trong những mối quan hệ quan trọng nhất. Nhưng tầm quan trọng này không phải là đồng đẳng đối với hai bên, Trung Quốc cần Mỹ nhiều hơn so với Mỹ cần Trung Quốc, vì vậy trong cuộc hội kiến với Donald Trump, ông Tập Cận Bình đã nói Trung – Mỹ có hàng nghìn lý do để có mối quan hệ tốt đẹp, không có lý do gì để làm xấu đi mối quan hệ này. Đáng tiếc là trong ngoại giao đối với Mỹ, Trung Quốc thường không để ý đến lời khuyên bảo chân thành này, dùng một tư duy và tâm lý đối đầu để xử lý quan hệ với Mỹ, đặc biệt là trong một số vấn đề nan giải.
Với tư cách là bá chủ toàn cầu, việc Mỹ giữ cảnh giác đối với bất kỳ hành động nào thách thức địa vị bá quyền của mình là có thể hiểu được, Trung Quốc với tư cách là nước lớn trỗi dậy có chế độ xã hội khác với Mỹ, về mặt khách quan sẽ bị Mỹ coi là người khiêu khích, nhưng bản thân Trung Quốc lại hoàn toàn không có ý đồ thách thức bá quyền của Mỹ, bởi một khi có ý đồ này, về mặt tư duy và hành động sẽ biến thành “hễ là Mỹ chắc chắn sẽ phản đối”. Nói như vậy không phải là muốn Trung Quốc luôn hùa theo Mỹ, đối với lợi ích quốc gia của mình đương nhiên phải kiên quyết và giữ kiên định, nhưng phải thực hiện có lý lẽ có căn cứ, phù hợp với luật pháp quốc tế và quy tắc ứng xử quốc tế; đồng thời, không cần phải phô trương thanh thế, phải biết thỏa hiệp và nhún nhường, “ngoại giao phô trương thanh thế” sẽ chỉ có hại cho bản thân.
Đây không đơn giản chỉ là một sự vận dụng sách lược khi thực lực quốc gia không đủ, không đối đầu được với Mỹ, buộc phải trở thành chiến lược quốc gia, kiên trì lâu dài, cho dù trong tương lai có đủ thực lực cũng không được có ý đồ thách thức và thay đổi trật tự toàn cầu dưới sự chủ đạo của Mỹ, chính sách ngoại giao đối với Mỹ cần phải hợp tác lớn hơn đối đầu, làm tốt việc mà nước lớn thứ hai nên làm – nếu Trung Quốc là nước lớn thứ hai. Chỉ khi hiểu được chiến lược lớn thì việc xử lý đối với các vấn đề cụ thể mới không bị mất phương hướng. Đây là một điểm mà ngoại giao Trung Quốc trước tiên phải thay đổi.
Thứ hai, thay đổi chính sách ngoại giao “thù Nhật, ghét Hàn”, thực thi chính sách hòa giải với Nhật Bản, hữu hảo với Hàn Quốc
Trung Quốc và Nhật Bản cùng là hai nước mạnh là cục diện chưa từng có ở Đông Á, điều này dẫn đến Trung Quốc và Nhật Bản chưa thể thích ứng được với đối phương. Đối với Trung Quốc, do nguyên nhân lịch sử và hiện thực, trong gần 10 năm qua, chính sách ngoại giao đối với Nhật Bản của Trung Quốc vẫn chưa thoát khỏi trạng thái “thù hận Nhật Bản”, “ghét Nhật Bản”.
Đối với thái độ xử lý vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku của Nhật Bản, Trung Quốc đương nhiên phải chỉ trích và phản kích, nhưng không nên để vấn đề lịch sử trói buộc ngoại giao hai nước, gây rối cục diện phát triển của hai nước, cũng không nên truyền bá tư tưởng giáo dục thù ghét Nhật Bản một cách sai lầm. Việc xử lý đối với vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku cũng như vậy, duy trì cách tiếp cận lộ trình kép, đó là tách chúng ra, không trói buộc vào toàn bộ quan hệ Trung-Nhật, ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ và hợp tác trong các lĩnh vực khác giữa hai nước. Trung Quốc và Nhật Bản cần phải chủ động hòa giải, chứ không phải là thù hận lẫn nhau.
Trung Quốc cũng nên quan hệ tốt với Hàn Quốc, hiện trạng thái bất thường do vấn đề Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) dẫn đến quan hệ hai nước nhanh chóng sụt giảm cần phải thay đổi. THAAD tuy có gây tổn hại đối với Trung Quốc, nhưng sự tổn hại này so với đại cục quan hệ Trung-Hàn và lợi ích của Trung Quốc trên cả Đông Bắc Á và bán đảo Triều Tiên chỉ đứng thứ hai. Do vậy, không thể vì THAAD mà ảnh hưởng đến cục diện hợp tác giữa hai nước, Trung Quốc có thể bày tỏ thái độ phản đối đối với THAAD, nhưng không nên áp dụng biện pháp kinh tế đặc biệt xúi giục người dân phản đối và trừng phạt Hàn Quốc, làm như vậy sẽ chỉ làm cho Trung Quốc mất đi mối quan hệ với Hàn Quốc. Cần phải kéo dài chính sách “hữu hảo” với Hàn Quốc, đi sâu hợp tác giao lưu giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, dân sự thậm chí an ninh quân sự.
Thứ ba, thay đổi thái độ giữ bình tĩnh đối với Triều Tiên, tăng cường các biện pháp trừng phạt đối với nước này
Trái với việc phải duy trì hợp tác hữu hảo với Hàn Quốc, đối với Triều Tiên lại phải áp dụng biện pháp nghiêm khắc nhằm hối thúc nước này từ bỏ vũ khí hạt nhân.
Mấy năm gần đây, thái độ và chính sách đối với Triều Tiên của Trung Quốc đã thoát khỏi tình hữu nghị vô căn cứ và việc nắm giữ ý thức hệ trước đây, bắt đầu trở nên thiết thực, nhưng sự thay đổi này vẫn không triệt để, chưa hoàn toàn xuất phát từ lợi ích quốc gia, mà chịu ảnh hưởng từ nhân tố địa chính trị và ý thức hệ nên vẫn chưa giải quyết dứt điểm. Thái độ thỏa hiệp của Trung Quốc đối với Triều Tiên thể hiện ở việc do lo ngại tình hình trong nước Triều Tiên rối ren và dẫn đến sụp đổ nên tạm thời chưa xử lý đến vấn đề trừng phạt Triều Tiên, vẫn có phần bênh vực Triều Tiên.
Nếu Triều Tiên không phải là một quốc gia “cứng đầu”, dựa vào tính chất và quan hệ láng giềng của Chính quyền Triều Tiên, Trung Quốc có thể và cần phải tiến hành bênh vực ở mức độ nhất định đối với nước này, nhưng vấn đề là sự thực chứng minh sự bênh vực và giúp đỡ của Trung Quốc đối với Triều Tiên mấy năm qua vừa không mang lại sự chuyển biến tốt cho Triều Tiên, vừa gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, khiến cho bản thân Trung Quốc rất bị động. Đối với Chính quyền Triều Tiên, về cơ bản không thể gửi gắm hy vọng cải thiện, chỉ có duy trì không ngừng gây sức ép cao độ thì mới có thể buộc nước này từ bỏ vũ khí hạt nhân, thay đổi tình trạng nước này.
Thứ tư, thay đổi quan hệ bán đồng minh với Nga, không quá gần gũi với Nga
Trong lịch sử cận hiện đại của Trung Quốc, có hai quốc gia có ảnh hưởng lớn nhất đối với Trung Quốc, một là Mỹ và nước còn lại chính là Nga. Nhưng ảnh hưởng của Mỹ đối với Trung Quốc thể hiện rõ chiều hướng tích cực, còn ảnh hưởng của Nga đối với Trung Quốc lại thể hiện mặt tiêu cực nhiều hơn.
Kể từ thế kỷ này, xuất phát từ nhu cầu cùng chống Mỹ, Trung Quốc và Nga nhanh chóng tiếp cận, đặc biệt là mấy năm gần đây, hai nước ngày càng qua lại gần gũi, thể hiện rõ một loại quan hệ bán đồng minh. Nếu hai nước coi việc hợp tác hỗ trợ lẫn nhau là một sự vận dụng sách lược chống lại Mỹ thì có thể hiểu được, nhưng đối với Trung Quốc phải tránh việc tiếp cận với Nga trở thành chiến lược, biến thành quan hệ đồng minh hoặc bán đồng minh để đối đầu với Mỹ.
Ở đây không bàn đến việc trong lịch sử, chỉ riêng việc xem xét từ thực tế, một là trong việc hợp tác hỗ trợ lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nga, xét từ kinh nghiệm mười mấy năm qua, không thay đổi được cục diện “Nga chủ trì, Trung Quốc phục tùng”; hai là Nga cũng có tâm lý đề phòng Trung Quốc. Chẳng hạn, về mặt bán vũ khí tiên tiến, hợp tác năng lượng và tranh giành quyền lãnh đạo Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), Nga luôn đề phòng Trung Quốc, đã làm rất nhiều chuyện mờ ám nhằm hại Trung Quốc, như ra sức lôi kéo Ấn Độ vốn không hứng thú với SCO tham gia nhằm kiềm chế Trung Quốc; ba là trong quan hệ với Mỹ và Liên minh châu Âu (EU), mâu thuẫn giữa Nga và các nước này lớn hơn mâu thuẫn giữa Trung Quốc với các nước này, việc hợp tác Trung-Nga có khả năng khiến cho Trung Quốc trở thành một quân cờ để Nga đối đầu với Mỹ và EU; bốn là trong quan hệ Trung-Nga, Trung Quốc muốn được hưởng lợi nhiều hơn là đầu tư mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau này. Lợi ích chung Trung-Nga không bằng lợi ích chung Trung-Mỹ, vì vậy, Trung Quốc phải ý thức được rằng việc kết quan hệ bán đồng minh với Nga đối với lợi ích chiến lược của Trung Quốc mất nhiều hơn được, cần phải thay đổi tình hình này.
Thứ năm, thay đổi nguyên tắc không can thiệp công việc nội bộ của nhau, làm một nước lớn toàn cầu có trách nhiệm
Đây không phải là nói Trung Quốc là nước không có trách nhiệm, mà nghĩa là trách nhiệm này nhất định phải tăng lên cùng với thực lực quốc gia của Trung Quốc, tức là tương xứng với nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu và nước lớn mới nổi. Cần phải thừa nhận rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc đã hưởng thụ miễn phí từ hệ thống toàn cầu, tận dụng tối đa ưu thế của hệ thống quốc tế hiện hành có lợi cho Trung Quốc. Trung Quốc muốn phát huy vai trò lớn hơn trong cộng đồng quốc tế, chiếm vị trí quan trọng hơn trong hệ thống quản trị toàn cầu thì phải dùng năng lực bản thân để phản hồi cộng đồng quốc tế, cung cấp sản phẩm công cộng nhiều hơn, tốt hơn cho toàn cầu, bao gồm việc cải thiện điểm bất hợp lý, không công bằng trong hệ thống quốc tế hiện hành. Muốn làm được điều này, Trung Quốc phải thay đổi nguyên tắc không can thiệp công việc nội bộ của nhau vốn được xem là nền tảng ngoại giao mấy chục năm qua.
Không can thiệp công việc nội bộ của nhau thường được cổ xúy khi thực lực quốc gia của một nước nhỏ yếu và tồn tại sự thiếu hụt đạo đức, hoặc không muốn gánh vác nghĩa vụ quốc tế. Nguyên tắc này vào mấy chục năm trước đã giúp Trung Quốc giành được một số lượng lớn bạn bè ở thế giới thứ ba. Trung Quốc vừa tự nhận là đang trỗi dậy, trong thực tiễn ngoại giao vẫn còn giữ khư khư nguyên tắc này thì không những sẽ bị cộng đồng quốc tế coi là một thành viên không có trách nhiệm, mà về mặt khách quan sẽ còn trói buộc và hạn chế Trung Quốc phát huy vai trò nước lớn. Đương nhiên, từ bỏ nguyên tắc không can thiệp công việc nội bộ của nhau không phải là khuyến khích Trung Quốc tùy tiện can thiệp công việc nội bộ của người ta, hoặc lấy đó làm cái cớ để thực thi bá quyền, mà là khi cộng đồng quốc tế nảy sinh sự việc bất công phải dũng cảm giương cao chính nghĩa
Thứ sáu, thay đổi ngoại giao ý thức hệ, xóa bỏ màu sắc dân tộc chủ nghĩa trong ngoại giao
Thành phần ý thức hệ trong ngoại giao Trung Quốc luôn nặng nề, tuy dựa vào tình hình quốc tế và môi trường quốc tế mà Trung Quốc phải đối mặt, nhưng ở mức độ rất lớn là dùng ý thức hệ để chỉ đạo kết quả ngoại giao.
Sau khi cải cách, ngoại giao ý thức hệ này đã có sự thay đổi rất lớn, ở một số thời điểm nào đó xuất hiện với hình thức mới đối với một số quốc gia nào đó, điều này biểu hiện rất rõ rệt trong mấy năm gần đây. Ngoại giao ý thức hệ không phải là một kiểu ngoại giao xuất phát từ sự phải trái đúng sai của bản thân sự việc và lợi ích quốc gia, mà là quan niệm giá trị và nhu cầu do đảng cầm quyền chỉ định đặc biệt: thực thi các khái niệm ngoại giao nếu “kẻ địch” phản đối thì mình ủng hộ, còn “kẻ địch” tán thành thì mình sẽ phản đối. Chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với Mỹ, Nhật Bản, Nga, Triều Tiên cũng như một số quốc gia ở Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh như Venezuela mang đậm màu sắc ý thức hệ.
Ngoại giao giá trị quan muốn tránh được hoàn toàn rất khó, nhưng không được mở rộng, cực đoan hóa ngoại giao giá trị quan, nâng lên thành ngoại giao ý thức hệ, dùng ý thức hệ để phác họa, biến thành một kiểu ngoại giao bảo thủ, dẫn đến lợi ích quốc gia hoàn toàn bị ý thức hệ trói buộc. Trung Quốc từng chịu thiệt thòi rất lớn trên phương diện này, hiện vẫn chưa rút ra được bài học.
Ngoài ngoại giao ý thức hệ, cùng với việc tăng cường thực lực quốc gia của Trung Quốc, Trung Quốc lại xuất hiện ngoại giao dân tộc chủ nghĩa, ngoại giao phục vụ cho lợi ích dân tộc thì không có gì sai, nhưng không được đưa lợi ích của dân tộc mình vượt lên trên lợi ích của dân tộc khác, càng không thể lấy cớ lợi ích dân tộc, thực thi ngoại giao cường quyền. Trên thực tế, lợi ích dân tộc của Trung Quốc ở mức độ rất lớn biến thành một cái cớ để phục vụ cho nhóm lợi ích đặc biệt, xét về vấn đề này, ngoại giao dân tộc chủ nghĩa là một biến tướng của ngoại giao ý thức hệ hiện nay, rất khó tách biệt rõ ràng hai vấn đề này.
Thứ bảy, thay đổi biện pháp “thọc gậy bánh xe” đối với các nước có quan hệ ngoại giao với Đài Loan, không nên làm nổi rõ nguyên tắc “Một Trung Quốc”, không chiến tranh ngoại giao với Đài Loan
Quan hệ giữa Đại lục và Đài Loan tuy không phải là quan hệ quốc gia, nhưng việc xử lý quan hệ giữa hai bờ eo biển cũng liên quan đến ngoại giao. Việc Panama thiết lập quan hệ ngoại giao của Trung Quốc thời gian gần đây đã gây chấn động rất lớn đối với Đài Loan.
Nếu nói Panama do vị trí địa lý đặc thù và việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nước này có giá trị đối với Đại lục thì việc “thọc gậy bánh xe” đối với các nước có quan hệ ngoại giao với Đài Loan chỉ thuần túy là để trừng phạt và trả thù Đài Loan. Nhưng làm như vậy sẽ chỉ khiến cho Đài Loan xa cách Đại lục hơn nữa, cho dù Đại lục không hề để ý đến vấn đề này, việc lôi kéo toàn bộ các nước có quan hệ ngoại giao với Đài Loan cũng sẽ không thể gia tăng vị thế quốc tế và lợi ích quốc gia của Đại lục, trái lại phải bỏ ra nhiều chi phí cho vấn đề này.
Bởi các nước có quan hệ ngoại giao với Đài Loan ngoài rất ít quốc gia có tầm ảnh hưởng như Tòa thánh Vatican…, phần lớn đều là các quốc gia nhỏ và nghèo mà người ta không nhớ nổi tên. Cho dù thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước đó thì cũng không có ý nghĩa lớn đối với Đại lục. Trái lại, để thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước này, Đại lục lại phải bỏ ra không ít nguồn lực. Những nước có quan hệ ngoại giao với Đài Loan này còn bao gồm đa số nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Đại lục, đều có tâm lý chủ nghĩa cơ hội, “dao động” giữa hai bờ eo biển Đài Loan, lấy nguyên tắc “Một Trung Quốc” làm mồi nhử để sách nhiễu hai bờ eo biển.
Tình hình này hoàn toàn là hậu quả của việc kiên trì cứng nhắc nguyên tắc “Một Trung Quốc”. Các nước có quan hệ ngoại giao với Đài Loan hiện nay chỉ còn lại 20 nước, cho dù để Đài Loan phát triển quan hệ ngoại giao với các nước đó cũng không thể làm thay đổi được nhận thức của cộng đồng quốc tế đối với nguyên tắc “Một Trung Quốc” và vị thế quốc tế của Đài Loan. Nếu Đài Loan không chịu thừa nhận “Nhận thức chung 1992” thì Đại lục chỉ cần nắm chắc điểm tới hạn là được, tức là đối với Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc cũng như các tổ chức quốc tế khác mà Đại lục tham gia và cả các nước thiết lập quan hệ ngoại giao với Đại lục, yêu cầu họ phải giữ vững nguyên tắc “Một Trung Quốc”, không phát triển quan hệ chính thức với Đài Loan. Đây là trách nhiệm và nghĩa vụ của họ, mà không cần thiết phải “thọc gậy bánh xe” các nước có quan hệ ngoại giao với Đài Loan, ngăn chặn không gian quốc tế của Đài Loan. Nếu có quốc gia và tổ chức quốc tế nào do dự, dùng nguyên tắc “Một Trung Quốc” để thách thức và sách nhiễu Đại lục thì Đại lục có thể cân nhắc gia tăng răn đe.
Hiện trạng trước mắt là do Đại lục quá nhấn mạnh nguyên tắc “Một Trung Quốc”, dẫn đến rất nhiều nước cho rằng có kẽ hở để lợi dụng, đòi hỏi không có điểm dừng đối với Trung Quốc. Và để viết trên thông cáo ngoại giao “Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời với Trung Quốc”, hàng năm Trung Quốc đều phải trả nhiều cái giá đặc biệt. “Ngoại giao vung tiền” bị chỉ trích đều được sử dụng ở phương diện này.
Nếu như trước đây Trung Quốc vì thực lực quốc gia tương đối yếu, không có công cụ hữu hiệu nào để đối phó và trừng phạt những quốc gia có ý đồ “ăn hai mang”, vậy thì giờ đây trong hòm công cụ của Trung Quốc có rất nhiều công cụ trừng phạt có thể vận dụng. Trong trường hợp này, tin rằng đại đa số quốc gia do lợi ích của mình đều có thể sáng suốt đưa ra lựa chọn, hoàn toàn không cần thiết phải lần nào cũng nhấn mạnh, muốn người ta thừa nhận “Một Trung Quốc”, lãng phí một số lượng lớn nguồn lực quốc gia. Vì vậy, cần phải cho Đài Loan một khoảng không gian quốc tế ra sao?
Thứ tám, thay đổi đúng lúc thái độ không tiếp xúc, không đàm phán với Đạtlai Lạtma, né tránh yêu cầu đòi độc lập đang trở nên gay gắt của Tây Tạng
Giống như Đài Loan, Tây Tạng cũng đã khiến Trung Quốc phải chi trả một khoản lớn chi phí không cần thiết. Một biểu hiện nổi bật về mặt ngoại giao trong vấn đề Tây Tạng chính là thái độ đối với Đạtlai Lạtma.
Do Trung Quốc xác định Đạtlai Lạtma là một phần tử chia rẽ dân tộc, không cho phép người đứng đầu và quan chức chính phủ các nước dùng tư cách nhà nước để tiếp xúc với Đạtlai Lạtma, nếu không sẽ bị coi là can thiệp công việc nội bộ của Trung Quốc, từ đó dẫn đến quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và một số quốc gia xảy ra rắc rối. Điển hình nhất là nước Anh, trong thời kỳ Chính quyền Cameron, vì Cameron hội kiến với Đạtlai Lạtma bất chấp sự phản đối của Trung Quốc, khiến cho quan hệ Trung-Anh bị thụt lùi toàn diện. Ngoài ra, nhà lãnh đạo của một số nước phương Tây trong đó có Pháp, Canada, Mỹ cũng vì hội kiến với Đạtlai Lạtma mà gây tổn hại đến quan hệ song phương ở mức độ khác nhau.
Lý do Trung Quốc chỉ trích Đạtlai Lạtma là do Trung Quốc cho rằng ông là một phần tử chia rẽ dân tộc khoác chiếc áo tôn giáo, nhưng trên cộng đồng quốc tế, Đạtlai Lạtma lại là lãnh tụ tôn giáo có tầm ảnh hưởng thế giới. Các nhà lãnh đạo phương Tây khi hội kiến với Đạtlai Lạtma đều nhấn mạnh đến vai trò lãnh tụ tôn giáo của ông. Sự khác biệt về mặt nhận thức thân phận đối với Đạtlai Lạtma khiến cho Trung Quốc thường phải bỏ ra chi phí ngoại giao quá mức để ngăn chặn các nhà lãnh đạo và quan chức chính phủ của các quốc gia khác hội kiến Đạtlai Lạtma. Giải quyết vấn đề then chốt này là không được làm nổi bật quá thân phận chính trị của Đạtlai Lạtma, nhìn thẳng vào sự tồn tại và tầm ảnh hưởng tôn giáo của Đạtlai Lạtma, thay đổi kịp thời thái độ không tiếp xúc, không đàm phán đối với Đạtlai Lạtma.
Đối với Đạtlai Lạtma, hiện Trung Quốc áp dụng biện pháp “chờ đợi thời cơ”, cho rằng đợi sau khi Đạtlai Lạtma viên tịch thì vấn đề Tây Tạng tự khắc sẽ được giải quyết, cách nghĩ này quá ngây thơ, bởi không có sự bảo hộ tinh thần của Đạtlai Lạtma – người theo chủ nghĩa hòa bình này – thì chính quyền lưu vong Tây Tạng trong vấn đề độc lập sẽ chỉ trở nên cấp tiến hơn, sự bất mãn của người dân tộc Tạng cũng có thể sẽ gia tăng hơn nữa, sẽ kéo rộng khoảng cách hơn nữa khiến cho vấn đề Tây Tạng có thể xấu đi.
Thứ chín, thay đổi khái niệm một mình hưởng thụ Biển Đông, thừa nhận hiện trạng, gác lại tranh chấp, cùng khai thác, bảo vệ hòa bình và tự do hàng hải ở Biển Đông
Kể từ sau khi Philippines đưa ra vụ kiện Biển Đông ra Tòa Trọng tài và được sự tán thành của Tòa Trọng tài, Trung Quốc trên thực tế ở trạng thái bị động, chỉ có điều tân Chính phủ Philippines đã thay đổi chính sách đối đầu với Trung Quốc của người tiền nhiệm, khiến cho vấn đề Biển Đông không bị xấu đi thêm nữa, nhưng trạng thái bị động về mặt pháp lý vẫn không thay đổi.
Nói một cách khách quan, trừ phi sử dụng vũ lực, nếu không Trung Quốc không thể “một mình hưởng thụ” hoàn toàn Biển Đông. Do vậy, đối với Trung Quốc và các nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, một phương thức giải quyết hợp lý có thể tính đến lợi ích các bên là chấp nhận nguyên trạng, gác lại tranh chấp, cùng khai thác nguồn tài nguyên và bảo vệ hòa bình ở Biển Đông.
Trung Quốc với tư cách là quốc gia lớn nhất và có thực lực mạnh nhất ở Biển Đông, nên dẫn đầu đề xướng thành lập một Cộng đồng năng lượng Biển Đông cùng chia sẻ nguồn tài nguyên dầu khí, kết hợp cùng khai thác dầu mỏ ở Biển Đông, đồng thời xác lập tỷ lệ phân chia lợi ích hợp lý căn cứ vào số tiền đầu tư. Trước đây trên phương diện này do bị hạn chế ở kỹ thuật khai thác dầu mỏ, các nước trong khu vực không thể hợp tác được với nhau, mà là hợp tác khai thác cùng với các công ty dầu mỏ của các nước ngoài khu vực. Hiện Trung Quốc đã có đầy đủ khả năng thăm dò biển sâu và kỹ thuật khai thác, các bên liên quan ở Biển Đông hoàn toàn có thể thành lập một Cộng đồng năng lượng, cùng khai thác.
Ngoài ra, để ứng phó với an ninh trên biển, phòng chống cướp biển, bảo vệ tự do hàng hải, Trung Quốc cũng có thể dẫn đầu các nước có yêu sách chủ quyền, thiết lập đội ngũ thực thi pháp luật và cơ chế hợp tác an ninh trên biển ở Biển Đông.
Tóm lại, trên cơ sở thừa nhận lợi ích của các bên ở Biển Đông, bắt tay hợp tác từ năng lượng và kinh tế, mở rộng đến lĩnh vực an ninh chính trị, thiết lập cơ chế hợp tác, xây dựng cộng đồng lợi ích ở Biển Đông, đồng thời dùng hình thức hiệp ước để ràng buộc, khiến cho các bên ở Biển Đông được hưởng lợi từ trong hợp tác, xóa bỏ sự lo ngại của họ đối với Trung Quốc thì mới có thể thật sự gác lại tranh chấp chủ quyền, biến Biển Đông thành vùng biển hòa bình và hợp tác. Còn hòa bình an ninh và tự do hàng hải ở Biển Đông cũng sẽ là sự đảm bảo lớn nhất đối với lợi ích của Trung Quốc. Mục đích cuối cùng của Trung Quốc chẳng phải là như vậy sao?
Vấn đề ngoại giao của Trung Quốc đương nhiên không chỉ biểu hiện ở 9 điểm nói trên. Nhưng nếu trong 9 điểm này có một sự thay đổi lớn thì ngoại giao Trung Quốc sẽ có một diện mạo hoàn toàn mới. Sự tôn trọng của mọi người đối với Trung Quốc sẽ tăng lên, Trung Quốc cũng sẽ có tầm ảnh hưởng lớn hơn đối với thế giới. Nói thẳng ra là sở dĩ ngoại giao phải thay đổi là vì Trung Quốc không còn là Trung Quốc của mười mấy năm trước nữa, sau khi thực lực quốc gia của Trung Quốc tăng cường hơn nữa, Trung Quốc phải trở thành một quốc gia “quân tử” khiêm nhường có trách nhiệm đối với thế giới, chứ không phải là một quốc gia ngang ngược sử dụng sức mạnh tàn bạo.
Nguồn: Nghiên cứu Biển Đông
Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017
VÀI MẨU KÝ ỨC VỀ NGUYỄN HỮU ĐANG,
Xin chia sẻ nốt bài cuối cùng cụ Vũ Đình Hòe viết về một số nhân vật lẫy lừng thời Cách Mạng Tháng Tám. Không như trường hợp Hoàng Văn Đức, nhân vật này ai cũngbiết. Tuy nhiên không phải ai cũng biết vì sao ông bị các đồng chí đồng đảng với ông căm đến thế: quyết tâm chôn sống ông bằng cái án 15 năm tù giam + 5 năm quản thúc khi mãn hạn.
VÀI MẨU KÝ ỨC VỀ NGUYỄN HỮU ĐANG,
NGƯỜI CỘNG SẢN BẠN TÔI
Sinh trong một gia đình trí thức, tham gia Hội Sinh viên thị xã Thái Bình thuộc Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội; năm 1930 bị Pháp bắt đưa ra tòa xét xử, nhưng được tha, vì chưa đến tuổi thành niên. Sau đó, ông lên Hà Nội theo học Trường Cao đẳng Sư phạm, sau khi tốt nghiệp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), hoạt động công khai trên lĩnh vực báo chí ở Hà Nội, được đảng Cộng sản Đông Dương trao nhiệm vụ cùng Phan Thanh, Võ Nguyên sáng lập Hội Truyền bá Quốc ngữ, làm Trưởng ban mở lớp. Năm 1943, ông tham gia Ban chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc, tháng 8 – 1945 được cử lên chiến khu Tân Trào dự Quốc dân Đại hội, được bầu vào Ủy ban Dân tộc Giải phóng Trung ương. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang được Hồ Chủ tịch trao nhiệm vụ Trưởng ban tổ chức Ngày tuyên bố Độc lập 2/9/1945. Từ 11/1945 đến tháng 12/1945, ông tham gia Chính phủ Lâm thời, lần lượt giữ chức Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủy ban Vận động Hội nghị Văn hóa Toàn quốc, Trưởng ban Tuyên truyền Xung phong Trung ương, Trưởng ban Thanh tra Bình dân học vụ. Cuối 1956, ông làm biên tập báo Nhân Văn và cộng tác với báo Giai Phẩm. Tháng 4 năm 1958, ông bị bắt. Cùng với nhiều văn nghệ sĩ, trí thức tham gia phong trào Nhân văn-Giai phẩm, ông bị coi là kẻ "phản Đảng", "phá hoại chính trị", "làm gián điệp" cho nước ngoài, bị kết án 15 năm tù và 5 năm quản thúc sau khi mãn hạn tù. Năm 1986, sau Đại hội Đảng VI, ông bắt đầu được minh oan, từ năm 1990, ông được hưởng lương hưu trí và từ năm 1993, ông được về sống ở Hà Nội cho đến cuối đời, cô đơn, không vợ con. Ông mất năm 2007 tại Hà Nội.
Người đảng viên Cộng sản đầu tiên mà ngẫu nhiên tôi gặp, nhưng không ngẫu nhiên kết bạn là Nguyễn Hữu Đang.
Tôi gặp anh lần đầu tiên vào cuối năm 1943, tại một cuộc họp mở rộng của Ban trị sự Hội Truyền bá Quốc ngữ. Rồi cả một năm biết nhau mà cũng chẳng rõ anh là thanh niên Cộng sản. Và có rõ thì cũng chẳng để ý đến vấn đề đảng tịch đảng tính của bạn. Đã có tham gia viết báo Thanh Nghị, thì cứ như thế, bất kể xu hướng chính trị nào, miễn là yêu nước, yêu dân chủ thì đều là bạn mình. Kết bạn để cùng dắt nhau đi “săn chó sói”. Chỉ quý nhau, tin nhau ở chỗ ham và có mánh khoé săn, theo kiểu Thanh Nghị, bằng võ khí văn, sắc nhọn (mềm, trung tính), sao cho có hiệu quả là được.
Buổi họp Truyền bá Quốc ngữ tối hôm ấy tập trung bàn về vấn đề có nên mở thêm nnhiều lớp ở thành phố hay củng cố là chính. Cụ Tố, Hội trưởng và số đông uỷ viên Trị sự chủ trương củng cố. Nguyễn Hữu Đang và mấy giáo viên trẻ (của Hội) đòi mở thêm, càng nhiều càng tốt, hơn thế, còn là yêu cầu cấp thiết của phong trào. Tranh luận nảy lửa, gần ngư quyết liệt, phân liệt. Bỗng cụ Hội trưởng đứng lên, dang tay ra phía cột, bấm nút, tất cả đèn tắt đến phụt, phòng tối om. Mọi người sờ soạng, bật cười. Không khí căng thẳng biến mất. Tôi ngồi tận xa nhưng vốn quen đường, chạy đến cái cột có công tắc điện, bật đèn lại, sáng choang. Đồng thời nhanh miệng nói luôn: “Anh Đang xưa nay vẫn có nhiều sáng kiến, lại tận lực mở lớp trong các hang cùng ngõ hẻm (tôi muốn nói đến các khu phố lao động). Ta không nên làm anh cụt hứng. Vậy tôi đề nghị Ban trị sự cứ cho phép anh thảo kế hoạch kỹ càng với số liệu học viên, giáo viên, phương tiện cụ thể, rồi chúng ta cử người đến từng nơi kiểm tra lại, thấy không gì cản trở thì mở, sợ gì? Tôi tưởng thế là hợp lý, hợp tình hơn cả…”. Hội nghị gật gù tán thành. Anh Đang vội bổ sung: “Tôi đề nghị Ban trị sự sẽ cử ông Hoè đi kiểm tra, được không?” Vậy là hai chúng tôi trở thành “bạn tri âm tri kỷ”…
…Rồi năm mươi năm sau Cách mạng Tháng Tám, một sáng năm 1995, Câu lạc bộ chiến sĩ diệt dốt thuở xưa tổ chức lễ kỷ niệm ngày thành lập Bình dân học vụ tại trụ sở xưa của Hội truyền bá Quốc ngữ ở phố Hàng Quạt, nay trở thành Trường dạy nghề của Sở Giáo dục Hà Nội và nơi tá túc lâm thời cho Câu lạc bộ diệt dốt.
Mãi sát nút ngày kỷ niệm, Chủ nhiệm Câu lạc bộ, anh Nguyễn Văn Luân, 50 năm trước là Phó tổng giám đốc Bình dân học vụ (hồi tôi phụ trách Bộ Quốc gia Giáo dục), mới sực nhớ là Hoè còn sống, bèn thân hành đến nhà riêng mời tôi (mời miệng)… Tôi đến. Cũng sát nút giờ họp. Phòng họp đã đông nghịt. Tôi bước vào ngồi ghé xuống chỗ một bác trật tự viên nhường cho, trước mặt bàn chủ tịch đoàn. Ngước mắt nhìn lên: toàn các vị chức sắc lạ mặt. Chỉ có một gương mặt quen: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. “Ngài” có nhận ra tôi không? Tôi toan nở nụ cười chào, thì cụ Nguyễn Văn Luân đã trân trọng giới thiệu với hội nghị: “Đại tướng nguyên Tổng tư lệnh các lực lượng võ trang Việt Nam, trước đó là chỉ huy trưởng tối cao các lực lượng chiến sĩ diệt dốt” (vì: Đại tướng đã ký Sắc lệnh thành lập Bình dân học vụ)… Nhiều bài phát biểu, tham luận, rồi lời tuyên dương công trạng các kiện tướng Bình dân học vụ, kẻ khuất, người còn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khen ngợi tất cả.
Cuối cùng Ban tổ chức mời cử toạ nghỉ giải lao đế sẽ vào dự liên hoan văn nghệ cùng với các cựu “chiến binh” chống nạn mù chữ.
Bỗng từ tận cuối phòng ai đó giơ tay cao xin một phút, phát biểu một câu thôi. Người ta thấy một ông già lụ khụ - người vừa giơ tay - bước vội, tiến lên phía Chủ tịch đoàn, tay ôm bó hoa hồng Đà Lạt: một cựu “chiến binh diệt dốt” lão thành mà ai cũng nhận ra ngay, đôi mắt sáng quắc, cái giọng nói oang oang, cái dáng đi thoăn thoắt, trộn đâu lẫn… Nguyễn Hữu Đang!.. Vị chuyên ăn cóc, nhái thay thức ăn bữa cơm hàng ngày, tả trong bài phỏng vấn của một nhà văn quân đội , khi “người” được trả tự do về quê (ở Thái Bình), tạm trú trong một gian kho hẹp của hợp tác xã.
Anh Đang, một tay vịn vào cái cần máy phóng thanh, cau mày nói to, dằn từng tiếng: “Lạ thật! Sao thiên hạ chóng quên thế!... Đây này! (anh chỉ vào mặt tôi). Đây mới đúng là ông trùm Bình dân học vụ - anh Vũ Đình Hoè! Phải không nào, Cụ Hoè?”. Rồi anh quay lại phân bua với cử toạ:
- Ngày ấy, ngay sau khi đọc Tuyên ngôn Độc Lập, trong phiên họp Chính phủ lâm thời (mở rộng cho tất cả mấy cán bộ đặc trách tham dự). Cụ Hồ tuyên chiến với ba thằng giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Thế là ông Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục Vũ Đình Hoè đây (anh lại chỉ vào mặt tôi), đứng lên trình Cụ hai dự thảo Sắc lệnh, một ra lệnh cho quốc dân sau một năm phải thanh toán xong nạn mù chữ, Sắc lệnh thứ hai thành lập Nha Bình dân học vụ trong Bộ Giáo dục . Cụ Chủ tịch hỏi Bộ đề cử ai phụ trách thì ông Bộ trưởng hích cánh tay vào mạng sườn tôi ngồi cạnh; ông toan nêu tên tôi, nhưng tôi vội thì thầm: “Mình được trên giao việc khác rồi, anh cứ nói tên Nguyễn Công Mỹ đi…”
Trở lại câu chuyện ngày hôm nay, anh Đang lên cao giọng:
- Tôi xin phép được thay mặt tất cả các vị và anh chị em tặng anh Hoè bó Hoa này. Cái gì của César ta trả lại cho César: người lính già cầm quân diệt dốt trận mở đầu!
Rồi anh nói tiếp:
- Hồ Chủ tích trao hai bản dự thảo Sắc lệnh cho Văn phòng để sửa sang lại, sáng hôm sau Cụ sẽ ký… Nhưng rồi Cụ bận nên Cụ uỷ quyền cho Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký thay…”
*
Đầu năm 1944… Tình thế biến chuyển mau lẹ, các nhóm trí thức yêu nước tìm gặp nhau để “hiệp lực” chuẩn bị đón vận hội mới của dân tộc. Nhóm Thanh Nghị và nhóm sinh viên Dương Đức Hiền gặp nhau ở vùng núi Sơn Cẩm, trong trang trại của kỹ sư canh nông Nghiêm Xuân Yêm, đã mấy năm bỏ công sở của nhà nước Bảo hộ, chấp nhận bồi hoàn học phí để được về tập làm nông dân. Chúng tôi tranh luận kịch liệt: người, như Dương Đức Hiền và Đỗ Đức Dục, đòi thống nhất tổ chức, thành lập đảng Dân chủ ngay; người, như Phan Anh và Vũ Văn Hiền, nói giờ G ở ta chưa đến, cần tiếp tục hoạt động công khai độc lập.
Để giảm bớt không khí căng thẳng giữa các bạn, tôi nói: Tôi xin kể một câu chuyện vui mà tôi đã bịa ra trước cuộc họp này vài tháng, khi phải trả lời anh Nguyễn Hữu Đang, cán bộ Cộng sản trong Hội Truyền bá Quốc ngữ. Ở một cuộc họp Ban Trị sự của Hội ra, anh Đang kéo tôi sang nhà một “chiến sĩ diệt dốt”, sát nách với trụ sở Hội. Anh thì thầm với tôi về vấn đề tương tự như ta đang bàn ở đây (mời tôi và nhóm Thanh Nghị theo Việt Minh). Cả câu chuyện ngụ ngôn lẫn việc anh Đang gặp tôi hồi đó, nay tôi cũng không còn nhớ nữa. Nhưng tình cờ năm kia, 1998, Ban liên lạc các chiến sĩ diệt dốt tổ chức kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hội, hai anh em chúng tôi nhìn thấy mặt nhau tại buổi lễ. Mừng quá, chạy ra sân ôm nhau hôn hít, hàn huyên đủ chuyện, thì anh Đang vui miệng nhắc lại cả sự tích “Con chó sói” hồi xưa tôi kể.
Gặp lại bạn xưa Nguyễn Hữu Đang tại buổi lễ kỷ niệm
60 năm Hội Truyền bá Quốc ngữ (1938 - 1968)
Ảnh: V.T.K
“Có một con chó sói “ác ôn” hay lẻn vào làng quấy rối. Trong làng có tốp thợ săn muốn lùng bắt nó mà lần nào nó cũng chạy thoát vì nó quen thuộc hết đường lối của các thôn xóm. Lần này các anh thợ săn bảo nhau đuổi dồn nó ra đồng, phía cánh rừng cạnh làng. Chó sói bí lối nhảy tót vào rừng rậm. Lập tức các anh thợ săn bỏ cách làm xưa nay là tất cả đuổi nó theo một hướng; lần này thì các anh bủa vây các hướng khác nhau, mỗi anh nấp ở một ngách cửa rừng, độc lập rình. Đêm khuya rồi, cu cậu sói đói mèm, tất phải mò ra. Ra theo lối nào thì cũng có người rình rồi. Có mà chạy đằng giời!”
Hôm xưa ấy, anh Đang nghe tôi kể vừa hết thì cười vang:
- Hiểu ý anh rồi. Nhưng dặn hộ các chú thợ săn là phải tỉnh táo, đừng có ngủ gật đấy nhé!
*
Tháng 8 - 1956, Ban Tuyên huấn mở cho văn nghệ sĩ một đợt học tập chính trị để chuẩn bị cho việc họp Đại hội Văn nghệ lần thứ II. Ý đồ là để tẩy não nhóm chủ trương Trăm hoa đua nở. “Nhưng kết quả lại ngược hẳn lại”, - lời Trần Duy, Thư ký toà soạn báo Nhân Văn – khi Hội nghị học tập bàn về vấn đề lãnh đạo và đường lối văn nghệ. Đúng vào lúc đó, bản thân hoạt động xã hôi, cải cách ruộng đất, tổ chức hộ khẩu, hoạt động của mậu dịch v.v... đã thúc đẩy các nhà trí thức lên tiếng phê phán toàn bộ sự lãnh đạo và tự nâng cao nhận thức của họ về trách nhiệm của Kẻ sĩ đối với đất nước là phải liên hiệp với dân chúng...” .
Đại hội Văn nghệ tiến hành trong không khí sục sôi của cuộc giao tranh giữa hai nhóm với hai quan điểm ngược nhau về vấn đề lãnh đạo. Phái chính thống bảo vệ Lãnh đạo, trong đó có Hoài Thanh. Phái đòi dân chủ do Nguyyễn Hữu Đang cầm đầu. Phái sau được đa số đại biểu ủng hộ. Hôm tổng kết có bài kết luận của Nguyễn Đình Thi và bản kiểm thảo sơ bộ của Tố Hữu được trình bày, nói lên phần nào những sai lầm lớn của Trung ương và ý định của Trung ương sẽ sửa chữa. Thế là 18 ngày học tập tẩy não đã thất bại. Cuối tháng 8 - 1956, Giai phẩm mùa thu được tung ra, và cuối tháng 9 báo Nhân Văn xuất hiện, số đầu. Cũng vào ngày đó (20 tháng 9) Hoài Thanh viết bài tự phê bình, tuy vẫn giữ lập trường trước đây, nhưng anh thú thực đã bắt đầu tự đặt những vấn đề suy nghĩ thêm sau 18 ngày học tập chính trị.
Trong thời gian báo Độc Lập phát biểu về vấn đề Sai và Sửa sai, cũng như Trung ương Dân chủ nêu quan điểm của mình trong các cuộc họp Mặt trận, đòi sửa sai đến tận gốc rễ tư tưởng và đòi dân chủ hoá tổ chức và lề lối lãnh đạo, thì anh Nguyễn Hữu Đang, vốn quen biết các anh Đỗ Đức Dục và Hoàng Văn Đức (tôi thì cũng có quan hệ công tác trước đây với anh trong Hội Truyền bá Quốc ngữ), đến gặp gỡ chúng tôi nhiều lần. Hai lần đầu tôi có mặt, một lần ở Trụ sở Trung ương Dân chủ, một lần ở trên lầu một nhà tư của bạn anh ở phố Phan Bội Châu. Trong hai cuộc họp anh Đang có ý muốn dò ý kiến chúng tôi về một vấn đề rất quan trọng do anh đặt ra.
Đại khái anh nói:
Để sửa sai đến tận gốc, để dân chủ hoá triệt để đời sống xã hội, phải chăng nên từ bỏ chế độ độc đảng. Nếu chỉ có một đảng toàn quyền, độc quyền làm mưa làm gió, thì làm sao bảo đảm cho những sai lầm nghiêm trọng, gây tác hại khủng khiếp cho nhân dân như hiện nay, không có thể xảy ra lần thứ hai, lần thứ ba…Nên chăng cần có hai đảng mác xít cả, cùng theo đường lối đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, để giám sát lẫn nhau, đấu tranh và hợp tác lẫn nhau; có phải hơn không?
Theo anh, trong hoàn cảnh nước ta, có điều kiện thuận lợi là sẵn có hai đảng Dân chủ và Xã hội bên cạnh đảng Cộng sản rồi. Hai đảng Dân chủ và Xã hội có thể thống nhất làm một rồi đấu tranh đòi vị trí bình đẳng, thật thà bình đẳng chứ không phải chỉ nói đầu lưỡi để cùng lãnh đạo Mặt trận và đất nước. Như thế có tốt hơn không?
Anh đề nghị Trung ương Dân chủ nên suy nghĩ bàn bạc rồi trao đổi thêm ý kiến với nhóm đảng viên Cộng sản chân chính mà anh đại diện.
Câu chuyện mới đến đấy, ít nhất là đối với tôi. Có điều chắc chắn là chưa bao giờ vấn đề được đặt ra trong Trung ương Dân chủ.
Ít lâu sau, được biết, anh và các bạn thân anh bị Công An bắt và đưa đi đâu không biết, những người khác trong nhóm bị khai trừ khỏi Đảng, hoặc cách ly, hoặc bãi chức.
<…>
(Bài chưa hoàn thành: Cụ Hòe dừng đọc 23 tháng Chạp Canh Dần (26 - 01 - 2011), nói ra Giêng tiếp tục kể về những lần gặp lại sau khi cụ Đang được trở về cư trú tại Hà Nội, được khôi phục các quyền lợi của cán bộ cách mạng lão thành, nhưng 3 ngày sau, 26 tháng Chạp cụ Hòe mất., - VTK ghi chú)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)